Thông tin truyện

Chàng Là Bại Gia Tử Cơ Mà

Đánh giá
  • Lượt xem:
  • 0
  • Số chương:
  • 0

Trong thành ai cũng bảo ta bị hớ.

Tô Trân ta, con gái độc nhất của Nhất Ngôn Đường, mười tám tuổi, gả cho Vĩnh Xương Bá Bùi Yến.

Nghe thì oai lắm. Bá gia. Tước vị. Hồng thiếp đóng dấu son đỏ chót.

Nhưng cả kinh thành đều biết, Vĩnh Xương Bá phủ bây giờ chỉ còn mỗi cái cổng.

Ba năm trước, cha chàng — Định Bắc tướng quân Bùi Trọng Yêm — chết ở ải Vọng Sa. Ba nghìn quân chôn dưới cát vàng, không ai về. Triều đình phê xuống bốn chữ: khinh địch, thất thủ. Truy phong lấy lệ, rồi thôi.

Con trai ông kế tước năm mười bảy tuổi.

Rồi bắt đầu bán nhà.

Bán bình, bán tranh, bán ngựa, bán cả cái nghiên mực tiên đế ban cho ông nội chàng. Bán thong thả, đều đặn, ba năm không nghỉ một tháng nào, như người ta ăn cơm. Bán xong thì uống. Uống xong lại bán.

Người ta gọi chàng là bại gia tử.

Ta thì gọi chàng là một món hàng.

Món hàng nào cũng có giá. Vấn đề chỉ là ai trả, và trả bằng gì.


Đêm trước ngày xuất giá, cha ngồi bên đèn.

Đèn với ông chẳng để làm gì. Ông mù đã ba năm. Nhưng ông vẫn bắt thắp, bảo có ánh sáng thì tay ấm, tay ấm thì sờ đồ mới chuẩn.

Trong tay ông là một khối ngọc người ta cầm hồi chiều. Ngón cái ông miết đi miết lại trên mặt ngọc, chậm rãi, như đang đọc một trang chữ.

“Trân nhi. Con nghĩ kỹ chưa?”

“Kỹ rồi ạ.” Ta vừa đáp vừa lau quầy. “Cha nghe con tính nhé.”

Ta bẻ ngón tay tính cho ông nghe.

“Nhất Ngôn Đường ba đời, biển hiệu là cụ nội treo. Ba năm nay Thông Nguyên thương hội mua sạch phố Vĩnh Hòa, từ đầu phố đến cuối phố, chỉ còn mỗi tiệm mình. Ngụy nghĩa bá đã ba lần ngỏ lời mua lại, lần nào cũng là: để giúp cháu. Cha bảo con, đến lần thứ tư ông ấy còn hỏi nữa không?”

Cha im lặng.

“Con không muốn bán. Nhưng người ta đâu cần con bán. Người ta chỉ cần ép. Một tiệm cầm đồ mà quan sai ghé ba ngày một lần, ai còn dám mang đồ tới?”

“Cho nên con gả.” Ta phủi tay. “Con gả vào Bá phủ, tiệm này thành sản nghiệp của Bá phu nhân. Tước vị không ăn được, không mặc được, nhưng dọa người thì tốt lắm. Cha thử nghĩ xem — ai dám gỡ biển hiệu của một Bá phủ? Dù cái Bá phủ ấy nghèo rớt mồng tơi.”

“Còn chàng ta thì sao?”

“Chàng ta cần bạc. Con cần danh. Sòng phẳng.” Ta nhún vai. “Vả lại, uống rượu kiểu ấy thì sống được mấy năm? Dăm năm nữa con thành quả phụ Bá phu nhân, danh phận trọn đời, ngồi trong tiệm này đến già, chẳng ai đụng vào được nữa. Hời chứ cha.”

Cha ta đặt khối ngọc xuống bàn.

Rất khẽ. Nhưng ta nghe ra tiếng “cạch” ấy nặng hơn mọi lần.

“Cha đặt tên con là Trân.” Ông nói. “Trân là báu. Không phải là hàng.”

Ta khựng lại một thoáng.

Rồi ta cười, đi ra sau lưng ông, bóp vai ông hai cái.

“Con biết chứ. Cho nên con tự định giá con. Không để người khác định.”

Kiệu hoa đi qua phố Vĩnh Hòa.

Cả phố ra xem. Không phải xem cô dâu — xem cái trò cười.

“Nhà họ Tô gả con gái cho bại gia tử kìa!”

“Bá phủ ấy còn gì mà cưới? Nghe nói sính lễ khiêng sang có ba tráp, mở ra toàn giấy chèn.”

“Con bé nhà cầm đồ ấy tính giỏi lắm cơ mà? Lần này hớ nặng rồi.”

Ta ngồi trong kiệu, nghe rõ từng câu.

Chẳng sao. Người ta cười ta hớ, tức là người ta tin ta hớ. Người ta tin ta hớ, tức là chẳng ai buồn để mắt tới ta nữa.

Trong nghề của ta, không ai để mắt tới mình là một thứ rất đáng tiền.

Cổng Vĩnh Xương Bá phủ sơn son đã tróc, lộ gỗ mục bên dưới. Hai con sư tử đá ngồi hai bên, một con sứt mất vành tai.

Ta liếc qua, trong đầu tự động ra giá.

“Đá Thanh Khê, tạc thời tiên đế, một đôi bốn mươi lạng. Sứt tai thì hai mươi lăm. Có người trả hai mươi cũng nên bán.”

Nghề nghiệp thành thói quen. Ta chữa mãi không được.

Bái đường thì có tân lang.

Chỉ là tân lang phải hai người xốc nách dìu vào.

Chàng mặc hỉ phục đỏ, tóc buộc lệch, đi từng bước loạng choạng, cả người sực lên mùi rượu nồng đến mức ta ngồi cách ba bước còn thấy váng đầu. Lạy trời lạy đất, chàng lạy theo quán tính. Lạy xong, chàng đứng thẳng dậy, phất tay áo, đi thẳng ra cửa, không nhìn ta lấy một cái.

Sau lưng ta, có bà bác nào đó thở dài rõ to.

Ta thì đang bận đếm.

Hỉ đường rộng, trống trơn. Trên tường vôi trắng có những vệt sẫm hình chữ nhật, mép còn hằn dấu bụi. Chỗ nào từng treo tranh, chỗ ấy vôi không phai bằng chỗ khác.

Ta đếm được mười bốn cái đinh.

Mười bốn cái đinh, không có bức tranh nào.

Người ta nhìn một căn phòng thì thấy đồ đạc. Ta nhìn một căn phòng thì thấy những thứ đã đi khỏi nó.

Tân phòng chỉ có một ngọn nến long phụng.

Ta ngồi trên mép giường, đội khăn voan đỏ, chờ.

Chờ hết một khắc. Rồi hai khắc.

Ngoài kia tiếng ồn ào thưa dần. Gia nhân dọn dẹp, cửa đóng, tiếng bước chân xa hẳn.

Chẳng ai đến.

Ta thở phào, tự tay vén khăn xuống, gấp lại tử tế đặt lên gối. Khăn voan này lụa Tô Châu, dệt kép, còn mới , bán được ba lạng.

Rồi ta cầm cây nến, đứng dậy.

Nghề nghiệp thành thói quen.

Đã là nhà ta, trong nhà có gì, đáng bao nhiêu, ta cũng nên biết trong lòng bàn tay.

Ta bắt đầu từ cái kệ.

Trên kệ có một bình Thanh Hoa. Men trắng ngà, hoa văn dây leo, cổ bình thon, nhìn qua thì đúng là đồ trăm năm.

Ta nhấc nó lên, lật đáy, soi dưới ánh nến.

Rồi ta đặt xuống.

Một cái bình đứng trên kệ gỗ trăm năm, dù người ta có nâng niu đến mấy, chân bình cũng phải có một vành xước rất mảnh — mảnh đến mức phải nghiêng dưới đèn mới thấy. Đó là dấu của thời gian, không phải dấu của người.

Chân bình này nhẵn thín.

Ta đi sang bức tranh treo cạnh cửa sổ. Giấy ngả vàng, mực thấm, con dấu son mờ đi rất đẹp.

Vàng đều quá.

Giấy thật không vàng đều. Chỗ gần cửa sổ ăn nắng nhiều thì vàng hơn, chỗ khuất thì nhạt hơn. Muốn nhuộm cho ra cái vàng ấy, người ta phải hun khói — mà hun khói thì cả tờ vàng như nhau.

Ta bước tiếp.

Cái hộp tử đàn trên án: đưa lên mũi, mùi còn hắc. Tử đàn thật để năm mươi năm, mùi phai gần hết, chỉ còn thoang thoảng.

Cặp chén ngọc: nghiêng nghiêng dưới nến, không có tơ.

Cái lư đồng: gỉ xanh đẹp quá, đẹp như vẽ.

Ta đi một vòng quanh tân phòng, cầm nến, cúi xuống, lật lên, ngửi, gõ.

Mười bốn món.

Mười bốn món đều giả.

Và món nào cũng làm rất khéo. Khéo tới mức phải mất tiền, mất nhiều tiền. Cái bình kia, muốn giả cho ra men ấy, riêng khâu nung hỏng đã tốn hơn một cái bình thường.

Ta ngồi phịch xuống ghế, tay vẫn cầm nến, đầu óc chạy như bàn tính.

Bán đồ thật thì được bạc.

Làm đồ giả thì tốn bạc.

Một kẻ cần bạc đến mức bán cả cái nghiên mực của ông nội, cớ gì lại bỏ bạc ra làm mười bốn món giả bày vào chỗ trống?

Trừ khi hắn không cần bạc.

Trừ khi hắn cần người ta đừng biết món nào đã đi khỏi cái nhà này.

Sống lưng ta lạnh dần.

Ta đưa tay lên đầu, rút cây trâm phượng xuống.

Cây trâm này là sính lễ. Vật gia truyền nhà họ Bùi, mẹ chàng từng đội. Cả kinh thành đều biết. Người ta còn bảo, bại gia tử đến trâm của mẹ cũng chưa bán, coi như còn sót lại chút lương tâm.

Ta đưa trâm lại gần nến.

Vàng đủ tuổi. Chạm khắc tinh xảo. Mắt phượng khảm hai viên hồng bảo thạch, đỏ như máu.

Ta xoay nhẹ.

Ánh nến xuyên qua viên đá, tan ra thành một quầng đỏ mềm mại, đều tăm tắp, không một gợn.

Đá thật có tơ. Có mây. Có tì vết.

Thứ này là thủy tinh nung màu.

“Phu nhân đếm được mấy món rồi?”

Ta không hét.

Người làm nghề của ta, nửa đêm bị gọi dậy định giá một cái quan tài, gặp cảnh người ta ôm di vật khóc lóc còn nhiều hơn cơm ăn. Hét lên chẳng được thêm đồng nào.

Ta chỉ từ từ quay đầu lại.

Bùi Yến đứng ở cửa.

Không có ai xốc nách. Lưng thẳng. Tay cầm một cái chén rượu, ngón tay khép hờ, rất vững.

Dưới ánh nến, ta nhìn thấy một gương mặt trẻ hơn ta tưởng, sống mũi cao, khóe mắt hơi xếch. Mùi rượu vẫn nồng, nồng đến sặc sụa.

Nhưng mắt chàng đen thẫm, trong veo, không một sợi máu đỏ.

Ta nhìn chàng. Rồi ta nhìn mùi rượu.

Mùi ấy bốc lên từ vạt áo. Không phải từ hơi thở.

Người uống ba năm, hơi thở phải có men, mắt phải đỏ, tay phải run vào giờ này. Còn cái chén trong tay chàng.

Vành chén nhẵn. Không có một vệt mòn nào ở chỗ môi chạm vào.

Một cái chén dùng ba năm mà vành không mòn, thì hoặc nó mới mua, hoặc nó chưa từng chạm miệng ai.

“Chàng không say.” Ta nói.

“Nàng không sợ.” Chàng đáp, như đang ghi nhận một chuyện lạ.

“Sợ gì?” Ta hất cằm quanh phòng. “Trong phòng này thứ đắt nhất là cây nến. Chàng cướp thì cứ cướp.”

Chàng nhìn ta rất lâu.

Rồi chàng bật cười. Tiếng cười khẽ, khàn, như lâu rồi không dùng đến.

“Quả nhiên không mua hớ.”

Bốn chữ ấy làm ta chột dạ.

Không mua hớ.

Nghĩa là ta được chọn.

Ta ngồi thẳng lưng, cố ra dáng một Bá phu nhân đường hoàng, dù trên đầu tóc tai đã xổ ra một nửa.

“Đếm được mười bốn.” Ta nói. “Mười bốn món trong phòng này, không món nào thật.”

Chàng bước vào, đặt chén xuống bàn, kéo ghế ngồi đối diện ta, thong thả như chủ nhà tiếp khách.

“Trong phủ này có bốn mươi mốt món giả.” Chàng nói. “Nàng mới vào được một canh giờ.”

Ta nín thở.

Bốn mươi mốt.

“Chàng bán sạch rồi.” Ta nghe giọng mình khô khốc. “Bán sạch, rồi còn tốn tiền làm giả bày lại đúng chỗ cũ. Chàng giấu ai?”

Bùi Yến không đáp.

Chàng chỉ đưa mắt xuống cây trâm đang nằm trong tay ta.

“Cây trâm ấy,” chàng hỏi, “phu nhân định giá bao nhiêu?”

Câu hỏi ấy ta trả lời được trong một nhịp thở. Cả đời ta làm mỗi việc này.

“Vàng thật, tám phần tuổi. Chạm là tay thợ giỏi, giỏi hơn cả người làm cái bình kia. Hai viên đá là thủy tinh nung, ba tiền một đôi.” Ta đặt trâm xuống bàn. “Ba mươi hai lạng. Nể mặt Bá phủ thì ba mươi lăm. Đồ giả khéo, nhưng vẫn là giả.”

Chàng cúi nhìn cây trâm.

Một lúc lâu, chàng mới nói.

“Sai.”

Ta cau mày. “Ta chưa bao giờ đọc sai một cây trâm.”

Bùi Yến ngẩng lên.

Và ta thấy trong đôi mắt tỉnh táo đến chướng mắt kia, có một thứ gì đó ta chưa từng gặp ở bất cứ ai bước vào Nhất Ngôn Đường. Kể cả những người đem di vật của con mình đi cầm.

“Nó không đáng ba mươi hai lạng.” Chàng nói.

“Nó đáng ba nghìn mạng người.”

Ta ngồi im rất lâu.

Trong nghề của ta, khi khách nói một cái giá vô lý, chỉ có hai khả năng: hoặc hắn không biết gì, hoặc hắn biết thứ mình không biết.

Bùi Yến không giống người không biết gì.

“Chàng nói rõ đi.” Ta đẩy cây trâm ra giữa bàn. “Ta là dân buôn. Dân buôn không thích nghe câu đố.”

Chàng cầm cây trâm lên, xoay trong tay một vòng.

“Ba năm trước, cha ta chết ở Vọng Sa.” Chàng nói. “Triều đình bảo ông khinh địch. Cả kinh thành cũng bảo thế. Nàng chắc cũng nghe rồi.”

“Nghe rồi.”

“Ta ở đó.”

Ta khựng.

“Mười bảy tuổi, theo cha ra ải, trong quân giữ chức nhỏ nhất, chép sổ lương thảo.” Giọng chàng bình thản đến kỳ lạ, như đang kể chuyện nhà ai. “Đêm ấy giặc lên. Ta đứng trên tường thành, nhìn xuống.”

Chàng ngừng một nhịp.

“Nàng có biết một mũi tên bắn vào giáp thì kêu tiếng gì không?”

Ta lắc đầu.

“Cạch.” Chàng nói. “Giống như gõ vào nồi.”

Trong phòng, ngọn nến long phụng nổ tí tách một tiếng.

“Ta đứng trên tường thành nghe suốt một đêm cái tiếng ấy.” Chàng đặt cây trâm xuống, rất nhẹ. “Cạch. Cạch. Cạch.”

“Sáng ra, cha ta chết. Ba nghìn người chết. Triều đình phê bốn chữ, và cả kinh thành yên tâm rằng có một lão tướng ngu ngốc đã hại chết quân mình.”

Ta không đáp.

Ta chỉ ngồi đó, làm đúng cái việc ta vẫn làm cả đời.

Ta tính.

Giáp quân dụng thì tiệm ta nhận cầm suốt, mấy ông quan võ sa sút, năm nào chẳng có dăm người khiêng giáp tổ tiên tới. Ta biết một bộ đáng bao nhiêu. Ta biết sắt tốt hơn sắt non mấy phần giá. Ta biết tôi kỹ tốn thêm bao nhiêu công.

Đổi sắt tốt lấy sắt non, mỗi bộ ăn được bảy phần mười.

Nhân với ba nghìn.

Ra một con số mà cả đời ta chưa từng viết vào sổ.

“Tiền là tiền thật.” Ta nghe giọng mình khô đi. “Chỉ có hàng là giả.”

“Ta chép sổ lương thảo năm ấy.” Chàng nói. “Không thiếu một đồng nào.”

Ta ngồi đó, tay vẫn còn đặt hờ trên mặt bàn.

Cả đời ta lớn lên giữa đồ giả. Ta bắt hàng giả từ năm tám tuổi. Với ta, đồ giả là một trò vui, người ta cố lừa ta, ta không cho lừa, thế thôi. Bắt được một món giả, ta còn khoái chí kể cho cha nghe cả tối.

Ta chưa từng nghĩ một món đồ giả có thể giết người.

Càng chưa từng nghĩ nó giết được ba nghìn.

“Cho nên chàng bán nhà.” Ta nói chậm rãi, đầu óc bắt đầu chạy trở lại. “Không. Không đúng.”

Ta ngẩng phắt lên.

“Nếu chàng cần bạc để tra án, chàng bán đồ thật là xong. Bán xong để tường trống, ai hỏi thì bảo hết tiền, càng đúng với cái tiếng bại gia tử của chàng. Đằng này chàng lại bỏ thêm tiền làm bốn mươi mốt món giả bày vào chỗ cũ. Vô lý.”

“Trừ khi,” ta nói, “chàng không bán đồ để lấy bạc.”

Bùi Yến nhìn ta. Khóe môi chàng cong lên nửa phần.

“Nói tiếp đi.”

“Chàng bán đồ để đổi.” Ta nói. “Đổi lấy thứ khác. Một bức tranh đổi lấy cái gì? Một lời khai? Một cái tên? Một trang sổ?”

Ta nhìn quanh căn phòng, và lần đầu tiên trong đời, ta thấy một đống đồ giả mà sống lưng lạnh toát.

“Người ta thấy chàng bán, tưởng chàng cần bạc. Nhưng nếu có kẻ đếm được chàng đã bán món nào, bán cái bình nào, bán bức tranh nào, bán vào tháng nào, thì lần theo món đồ ấy, hắn sẽ tìm ra chàng đã đổi với ai.”

“Cho nên chàng bày giả vào chỗ trống. Không phải để lừa người ngoài. Người ngoài biết thừa chàng bán tháo.”

Ta nhìn thẳng vào chàng.

“Chàng lừa người trong nhà.”

Bùi Yến im lặng.

Rồi chàng vỗ tay hai cái. Rất chậm.

“Ba năm nay,” chàng nói, “nàng là người thứ nhất.”

“Trong phủ này có bao nhiêu tai mắt?”

“Không biết.” Chàng đáp gọn. “Ta chỉ biết có. Nửa năm trước, ta đổi một bộ chén ngọc lấy chỗ ở của một tên quân y già từng khâm liệm ở Vọng Sa. Ba ngày sau ông ta chết đuối trong một cái ao sâu tới đầu gối.”

Ta rùng mình.

“Vậy chàng cưới ta làm gì?” Ta hỏi thẳng. “Kinh thành thiếu gì người biết xem đồ. Thiếu gì lão chưởng quầy làm nghề bốn mươi năm.”

Chàng không đáp ngay.

Chàng đứng dậy, đi tới cái kệ, cầm cái bình Thanh Hoa xuống, đặt lên bàn trước mặt ta.

“Nàng nói cái này là giả.”

“Giả.”

“Ta nhìn ba năm nay.” Chàng nói. “Ngày nào ta cũng đi qua nó. Ta không thấy.”

Ta ngẩng lên.

“Ta biết ai giết cha ta thì được lợi bao nhiêu. Ta biết tiền chảy qua mấy tay. Ta thuộc lòng từng con số trong sổ lương thảo năm ấy.” Giọng chàng vẫn bình thản, nhưng ta nghe ra một thứ gì đó rất mỏng bên dưới. “Nhưng đặt trước mặt ta một phiến giáp thật và một phiến giáp giả, ta không phân được.”

“Ta là kẻ đi tra một vụ án làm bằng đồ giả, mà ta mù trước đồ giả.”

Chàng nhìn ta.

“Ta không cần một lão chưởng quầy. Lão chưởng quầy nào cũng có chủ, có tiệm, có con cháu để người ta nắm. Ta cần một người mà cả kinh thành chỉ coi là con gái tiệm cầm đồ, được mua về cho một thằng nát rượu tiêu tiền hồi môn.”

Ta hiểu ra.

Cả cuộc hôn nhân này, từ tráp sính lễ đến cây trâm giả trên đầu ta, là một bàn cờ chàng bày sẵn.

Còn ta là quân cờ vừa được đặt xuống.

Ta hít một hơi, nén cơn giận đang dâng lên tận cổ.

“Chàng lừa ta.” Ta nói. “Chàng bày ra một cuộc mua bán, để ta ngồi đó tưởng mình lời. Ta còn tính với cha ta là ta hời.”

“Ta không lừa.” Chàng đáp. “Nàng muốn một tấm biển hiệu không ai dám gỡ. Ta cho nàng đúng thứ ấy. Ta trả giá rất sòng phẳng.”

“Chàng biết ta muốn gì?”

Chàng cong khóe môi.

Rồi chàng nói một câu khiến máu ta lạnh từ đỉnh đầu xuống gót chân.

“Tô Trân, ba năm trước, Nhất Ngôn Đường của cha nàng nhận cầm một món hàng rất lạ. Sau đó không lâu, mắt cha nàng hỏng.”

Ta đứng bật dậy.

“Chàng…”

“Ngồi xuống.” Chàng nói, không lớn tiếng. “Ta không dọa nàng. Ta cho nàng xem một thứ.”

Chàng đi tới bên án, kéo ngăn dưới cùng, lấy ra một cái túi vải thô.

Chàng đặt nó xuống bàn, mở ra.

Bên trong là một phiến giáp.

Một mảnh sắt cong, to bằng bàn tay, mép sứt, mặt ngoài quét sơn đen đã bong từng mảng.

“Định giá đi.” Chàng nói. “Bá phu nhân.”

Ta nhìn chàng một cái.

Rồi ta ngồi xuống, kéo nến lại gần, cầm phiến giáp lên.

Nhẹ. Nhẹ đến buồn cười.

Ta lật nghiêng, gõ móng tay vào, tiếng đục, không ngân. Sắt non. Ta rê đầu ngón tay lên mặt cắt ở chỗ sứt: thớ thô, lỗ chỗ, tôi ẩu.

Lớp sơn đen bên ngoài dày gấp ba lớp sơn quân dụng. Sơn dày thì nhìn cho đủ đen, đủ nặng mắt. Người ta không sơn giáp để đẹp. Người ta sơn giáp này để giấu.

“Cái này không phải giáp.” Ta nói. “Cái này là cái nồi dát mỏng, sơn đen, đem đi lừa người sắp chết.”

Ta nói xong mới nhớ ra chàng đã dùng đúng chữ ấy.

Bùi Yến không nhắc. Chàng chỉ nhìn ta, và trong một khoảnh khắc rất ngắn, ta thấy chàng nhắm mắt lại.

Ta lật mặt trong lên, định xem chỗ đinh tán.

Rồi ta đứng hình.

Ở mép trong phiến giáp, chỗ khuất nhất, chỗ mà đeo lên người thì áp vào sườn không ai nhìn thấy — có một vết khắc.

Nhỏ như đầu kim.

Một nét ngang. Bên dưới ba chấm.

Ta đưa nó lại sát nến, tay bắt đầu run.

Không nhầm được. Cả đời ta khắc cái dấu này, khắc mòn cả cổ tay.

Cụ nội ta đặt ra nó từ đời Nhất Ngôn Đường mới mở: mỗi món vào tiệm, khắc một dấu chìm ở chỗ khuất. Nét ngang là chữ nhất. Số chấm bên dưới là năm.

Ba chấm.

Ba năm trước.

“Cái này…” Giọng ta khản đi. “Cái này từng nằm trong tiệm nhà ta.”

Ta ngẩng lên nhìn chàng.

Bùi Yến không hề tỏ vẻ ngạc nhiên.

Chàng đã ngồi đó, tay đan trước mặt, chờ ta lật mặt trong phiến giáp lên — chờ từ đầu.

“Ta biết.” Chàng nói.

“Đó là lý do ta cưới nàng.”

Theo lệ, ba ngày sau cưới thì cô dâu về nhà mẹ đẻ.

Ta không có mẹ. Ta chỉ có một cái tiệm.

Nhưng lệ là lệ, và lệ lần này rất tiện cho ta.

Bùi Yến đi cùng.

Chàng đi bộ, vì trong phủ không còn con ngựa nào. Chàng đi trước ta nửa bước, người ngả nghiêng, tay khoát khoát, mồm lảm nhảm hát một khúc gì đó sai cả điệu lẫn lời.

Đến đầu phố Vĩnh Hòa, chàng dừng lại, quay sang ta, cao giọng đến mức nửa con phố nghe được.

“Phu nhân! Nhà nàng có tiệm cầm đồ, đúng không? Vậy cha nàng chắc rộng rãi lắm nhỉ?”

Ta nghiến răng.

Hai bên phố, người ta thò đầu ra cười.

“Bá gia ơi, xin ít thôi kẻo con bé nó khóc!”

“Tô lão gia sắp mất cả con lẫn tiệm rồi!”

Ta xốc tay chàng, kéo đi, mặt mày phải làm ra vẻ vừa nhục vừa cam chịu.

Trong nghề của ta, cái gì diễn cũng phải diễn cho tròn. Diễn nửa vời thì lộ nhanh hơn không diễn.

Đến khi cửa tiệm khép lại sau lưng, mùi rượu vẫn còn, nhưng người đứng cạnh ta đã thẳng lưng, hai tay chắp sau, mắt đảo một vòng khắp gian tiệm trong đúng ba nhịp thở.

“Chàng hát dở lắm.” Ta nói.

“Ta biết.” Chàng đáp. “Ta tập ba năm rồi.”

Cha ta ngồi sau quầy, tay đang lần một xâu tiền.

Ông không quay lại. Người mù nghe bước chân còn rõ hơn ta nhìn mặt.

“Trân nhi.” Ông nói. “Con đi hai người.”

“Con dẫn chồng con về ạ.”

“Chồng con không say.”

Ta khựng.

Bùi Yến cũng khựng.

Cha ta thả xâu tiền xuống quầy, quay đầu về phía chàng — cái quay đầu rất chuẩn, chuẩn đến mức nếu không thấy đôi mắt đục ấy, ai cũng tưởng ông đang nhìn thẳng.

“Người say thì chân nặng gót, đi nghe hai tiếng. Bá gia đi nghe một tiếng.” Ông nói. “Vả lại, người say không biết dừng ở bậc cửa. Bá gia dừng đúng bậc.”

Ta nhìn cha ta.

Ba năm nay, ta cứ tưởng ta là mắt của ông.

Hóa ra ông cũng chẳng cần mắt ta lắm.

Ta đặt phiến giáp lên quầy.

“Cha. Cha xem giúp con cái này.”

Ông đưa tay ra.

Ta nhìn đôi tay ấy — đôi tay đã lần qua mấy vạn món đồ, móng cắt ngắn sát, đầu ngón chai một lớp mỏng, mềm mà không nhũn.

Ngón trỏ ông chạm vào mép sứt trước.

Rồi đi dọc mặt ngoài. Chậm. Đều.

Rồi lật lại, rà mặt trong.

Ta chờ ông nói “sắt non”. Ta chờ ông nói “sơn dày”. Ta chờ ông mắng thằng thợ nào tán đinh ẩu.

Cha ta không nói gì cả.

Bàn tay ông dừng lại.

Không phải dừng để nghĩ. Là dừng như người ta dừng khi đạp phải cái gì đó trong bóng tối.

“Cha?”

Ông rút tay về, rất nhanh, và chùi lên vạt áo. Chùi hai lần.

“Đem nó đi.” Giọng ông khàn đặc. “Đem ra khỏi tiệm này. Đốt đi.”

“Cha—”

“Trân nhi.” Ông ngẩng lên. Đôi mắt đục ấy chẳng nhìn thấy gì, nhưng ta lùi lại một bước. “Con nghe cha nói một câu. Cả đời con làm nghề này, con nhớ lấy.”

“Người ta làm giả để lừa mắt.” Ông nói. “Không ai làm giả để lừa tay.”

“Cái thứ này, cha đã sờ một lần rồi.”

Gian trong tiệm có ba cái rương sổ.

Ba đời Nhất Ngôn Đường nằm trong đó.

Ta lớn lên với những quyển sổ ấy. Mỗi tối, sau khi đóng cửa, ta lại lôi một quyển ra, ngồi bên đèn, đọc to cho cha nghe.

Đó là lệ của ba năm nay.

Ông mù, ông không “nhìn” được kho hàng của mình nữa, cho nên ta đọc. Món gì, ai cầm, ngày nào, giá bao nhiêu, chuộc hay không chuộc. Ta đọc từ đời cụ nội xuống. Đọc hết lại quay vòng đọc lại.

Ba năm.

Ta đọc đến mức đêm nằm mơ cũng thấy chữ.

Ta đọc đến mức bây giờ ta không cần mở sổ cũng biết mùa đông năm Cảnh Hòa thứ mười hai có một bà lão đem cầm cái vòng bạc ba đồng, chuộc lại sau hai mươi bảy ngày, thiếu bốn văn tiền lãi, cha ta tha.

Bùi Yến đứng ở cửa gian trong, nhìn ba cái rương.

“Nhiều thế này,” chàng nói, “tìm bao lâu?”

“Không phải tìm.” Ta kéo quyển năm Cảnh Hòa thứ hai mươi ra. “Vọng Sa thất thủ tháng mười. Muốn đúc ba nghìn bộ giáp thì phải làm trước đó dăm tháng. Người nào giữ một phiến làm bằng, rồi túng quá đem đi cầm, thì cầm trước tháng mười.”

Ta đặt quyển sổ lên bàn, mở ra.

“Tháng sáu. Tháng bảy.”

Ta lật.

Rồi tay ta dừng.

Giữa tháng bảy và tháng chín, không có gì cả.

Không phải là tháng tám trống trơn.

Là tháng tám không có ở đó.

Ta rê ngón tay vào gáy sổ. Chỗ ấy còn lại một dải giấy hẹp bằng nửa đốt ngón tay, mép sạch trơn.

Ta đứng chết lặng.

Không phải xé.

Người xé thì vội, mép giấy phải rách, phải xơ, phải nham nhở. Cầm sổ mà giật một cái, gáy sổ sẽ vênh ra.

Cái này là cắt.

Cắt bằng dao cầu, đặt thước, ép mạnh, kéo một đường.

Cắt như người ta cắt giấy dó để đóng sổ mới.

Người làm việc này không vội. Người này có thời gian. Người này ngồi ngay tại cái bàn ta đang đứng, thắp đèn, lấy thước, lấy dao, và cắt sạch một tháng ra khỏi đời mình.

“Cha.” Ta ngẩng lên. Cổ họng ta khô rát. “Tháng tám năm ấy đâu?”

Cha ta ngồi im.

“Mối.” Ông nói. “Mối ăn. Cha vứt rồi.”

Ta nhìn ông.

Ba năm nay ta ngồi cạnh ông mỗi tối, đọc cho ông nghe. Ba năm nay ta cứ tưởng ta biết ông rõ như biết một món đồ trong lòng bàn tay.

Cả đời ta chưa từng đọc sai một cây trâm.

Nhưng ta ngồi đó, nhìn thẳng vào mặt cha mình, và ta không đọc ra được một chữ nào.

Ta cầm quyển sổ ra ngoài, ngồi bệt xuống bậc thềm sau tiệm, chỗ hồi bé ta hay trốn ăn vụng.

Bùi Yến ngồi xuống cạnh ta. Cách một khoảng.

Chàng không hỏi. Chàng cũng không an ủi.

Chàng chỉ ngồi đó, để ta yên.

Lạ thay, cái đó lại dễ chịu hơn mọi lời.

Ta lật quyển sổ ra, nghiêng nó dưới nắng chiều.

Nghề nghiệp thành thói quen. Ta chữa mãi không được.

Trên mép giấy còn sót lại, chỗ dao đi qua, có một vệt hằn rất mảnh — dấu của cái thước ép xuống trước khi lưỡi dao rê theo.

Ta đưa lên sát mắt.

Vệt thước không nằm sát mép cắt.

Nó lệch sang trái. Lệch đúng một phân.

Ta ngồi sững ra.

Người thuận tay phải giữ thước bằng tay trái, dao đi bên phải thước — vệt hằn sẽ nằm bên trái đường cắt.

Cái này ngược lại.

Người cắt trang sổ này giữ thước bằng tay phải.

Ta ngẩng đầu, nhìn qua khe cửa vào trong tiệm, nơi cha ta đang ngồi lần xâu tiền, ngón cái miết đi miết lại trên đồng tiền đầu tiên.

Bằng tay trái.

Cả phố Vĩnh Hòa này, cả ba đời Nhất Ngôn Đường này, chỉ có một người thuận tay trái.

Ta không hỏi cha thêm câu nào nữa.

Trong nghề của ta có một quy củ: khi khách nói dối, đừng vạch ra. Vạch ra thì hắn ôm đồ đi mất. Cứ để hắn nói, rồi đếm xem hắn nói lệch chỗ nào.

Chỉ là lần này, người nói dối là cha ta.

Và ta ngồi trong kiệu suốt đường về Bá phủ, tay vẫn nắm quyển sổ, mà chẳng đếm ra được cái gì.

Ba hôm sau, nghĩa bá tới.

Ngụy Thường Sinh, chủ Thông Nguyên thương hội, đi qua cái cổng tróc sơn của Vĩnh Xương Bá phủ mà chẳng cần ai báo, cứ như ông đi qua sân nhà mình.

Ông sáu mươi, người thấp đậm, tóc hoa râm chải rất mượt, khoác áo đoạn màu nâu — thứ vải mà người không biết thì tưởng rẻ, người biết thì hiểu một tấm ấy bằng cả gian nhà.

Vừa thấy ta, ông đã cười, cười đến mức mắt híp lại thành hai nếp.

“A Trân!”

Ông giơ tay lên, làm bộ như định véo má ta rồi lại thôi — cái động tác ấy ông làm từ năm ta lên mười.

“Con bé này. Lấy chồng mà không báo bác một tiếng. Bác nghe tin ngoài chợ đấy, biết không?”

“Con định báo mà—”

“Định.” Ông hừ một tiếng. “Cha con cũng nói y hệt. Hai cha con nhà con, cái gì cũng định.”

Rồi ông vẫy tay. Bốn người khiêng lễ vào sân, đặt xuống. Ông chẳng buồn liếc một cái, chỉ hất cằm bảo Phúc bá dọn.

“Lụa hai tấm, sâm một hộp, với hai nghìn lạng.” Ông nói, thản nhiên như đang kể mấy thứ mua ở hàng rau. “Không phải cho Bá phủ đâu. Cho con. Con gái đi lấy chồng mà tay không thì người ta khinh.”

Ta nghẹn.

Ta muốn nói không cần. Ta muốn nói con lớn rồi.

Nhưng năm ta mười tuổi, Nhất Ngôn Đường vỡ một chuyến hàng, nợ đến mức cha ta đã đem cái biển hiệu xuống lau lần cuối. Đêm ấy có người gõ cửa. Người ấy không hỏi han, không thương hại, chỉ đặt lên quầy một túi bạc và nói một câu:

“Cụ nhà anh treo cái biển này bằng tay. Anh gỡ nó bằng tay, anh có gỡ nổi không?”

Rồi ông ta đi.

Sáng hôm sau ông ta quay lại, dắt ta ra đầu phố, mua cho ta một gói kẹo mạch nha ba đồng.

Người ta nợ tiền thì trả được.

Ta nợ ông cái biển hiệu.

Sau lưng ông, một người chưởng quầy của Thông Nguyên đang cúi ghi sổ lễ.

Ngụy Thường Sinh không quay lại. “Ghi bao nhiêu?”

“Dạ, hai nghìn lẻ hai lạng ạ.”

“Hai nghìn.”

Tay người kia khựng trên mặt giấy. “Dạ… hộp sâm con tính là hai lạng, theo giá chợ—”

“Ta bảo hai nghìn là hai nghìn. Hộp sâm là quà. Quà không vào sổ lễ.”

Ông vẫn nhìn ta, vẫn cười, không buồn quay đầu lại lấy một lần.

“Về bảo Trần chưởng quỹ gạch tên anh khỏi sổ lương tháng này. Tháng sau anh vẫn cứ tới làm.”

Người kia trắng bệch, quỳ thụp xuống nền gạch. “Đông gia—”

“Đứng lên. Bẩn sân nhà người ta.”

“Bác.” Ta khẽ kéo tay áo ông. “Có hai lạng thôi mà.”

Ngụy Thường Sinh quay sang ta.

Mặt ông vẫn hiền. Vẫn hai nếp nhăn ở đuôi mắt, vẫn cái cười ấy.

“A Trân. Con thương người là tốt.” Ông vỗ vỗ mu bàn tay ta. “Nhưng con mở tiệm cầm đồ, con phải hiểu. Một người hôm nay ghi lệch hai lạng, ngày mai hắn ghi lệch hai nghìn. Không phải vì hắn tham đâu. Vì hắn quen tay.”

Ta không thích cái cảnh vừa rồi.

Nhưng ta tự bảo mình: bác vốn thế. Làm ăn lớn thì phải thế.

Cả đời ta chưa từng đọc sai một cây trâm.

“Bá gia đâu?” Ngụy Thường Sinh hỏi.

“Ở trong.” Ta đáp. “Chắc đang ngủ ạ.”

“Ngủ.” Ông cười khà khà, tự kéo ghế ngồi xuống giữa sân. “Con bé ngốc. Bác nói thật cho con nghe nhé — bác không phản đối con gả vào đây. Bác chỉ tiếc.”

“Tiếc gì cơ ạ?”

“Tiếc là con tính đúng mà tính hụt một khoản.” Ông gõ gõ ngón tay lên tay ghế. “Con nghĩ tước vị giữ được cái tiệm. Ừ, giữ được. Nhưng tước vị này còn được mấy năm? Nhà họ Bùi đến cái nghiên mực ngự ban còn bán, con định treo biển của con dưới cái gì?”

Ta không đáp được.

Vì ông đúng.

“Thế này đi.” Ông nói, giọng dịu hẳn xuống. “Bác không đòi mua tiệm của con nữa. Bác nói ba lần rồi, con không bán, thôi thì bác thua. Nhưng con để bác đứng tên hộ cái sổ vốn — biển hiệu vẫn treo tên Tô gia, người trong tiệm vẫn là người của con, bác không lấy một đồng lời. Chỉ cần chữ Thông Nguyên ở dưới, thì trên phố này không ai dám bước vào tiệm con mà không cởi giày.”

Ông nhìn ta, mắt vẫn cười.

“Con giữ được biển của cụ con. Bác giữ được con. Sòng phẳng, phải không?”

Sòng phẳng.

Ta ngồi đó, và trong lòng ta ấm lên một cái, ấm đến mức sống mũi cay.

Cả kinh thành này ai cũng bảo ta hớ. Chỉ có một người ngồi xuống, tính lại giúp ta, và tính đúng.

“Con nghĩ đã ạ.” Ta nói.

“Ừ. Nghĩ đi. Không vội.” Ông đứng dậy, phủi vạt áo. “À, dạo này tiệm có món gì hay không? Lâu rồi bác không được xem đồ đẹp.”

“Không ạ. Toàn đồ vụn.”

“Tiếc nhỉ.”

Ông ra tới cổng thì dừng lại, quay đầu nhìn vào trong phủ một cái — nhìn cái sân trống, nhìn bức tường có mười bốn cái đinh.

“Bá gia nhà con,” ông nói, “nếu còn món nào muốn bán, cứ bảo hắn tìm bác. Bác trả giá cao hơn ngoài chợ.”

Rồi ông nhét vào tay ta một cái gói giấy dầu.

Kẹo mạch nha.

“Con bé này thích ăn kẹo này từ bé.” Ông cười, vỗ vỗ tay ta hai cái. “Ăn đi. Đừng để dành. Để dành là nó chảy.”

Tối ấy, Bùi Yến hỏi ta một câu.

“Nàng tin ông ta đến mức nào?”

Ta đang ngồi lau quầy — không, ta đang ngồi lau cái bàn trong tân phòng, theo thói quen tay chân. Ta dừng lại.

“Chàng hỏi thế là có ý gì?”

“Không có ý gì. Ta hỏi.”

“Ông ấy cứu tiệm nhà ta năm ta mười tuổi.” Ta đặt khăn xuống. “Lúc ấy cả phố Vĩnh Hòa quay lưng. Chủ nợ ngồi trong tiệm ta ăn cơm của ta. Ông ấy đến, đặt bạc lên quầy, không hỏi lấy một câu là bao giờ trả.”

“Ông ấy không lấy lãi?”

“Không.”

“Người buôn mà không lấy lãi.” Chàng nói, rất nhẹ. “Vậy ông ta lấy gì?”

Ta đứng bật dậy.

“Bùi Yến.” Giọng ta lạnh tanh. “Ta biết chàng nghi cả thiên hạ. Ta hiểu. Cha chàng chết, ta hiểu. Nhưng chàng đừng có đem cái đầu ba năm chỉ nghĩ đến chuyện người ta hại mình mà rọi vào một ông già đã cứu nhà ta.”

“Ta chỉ hỏi—”

“Chàng cần một con mắt.” Ta cắt lời. “Con mắt của ta bán cho chàng rồi, chàng cứ dùng. Nhưng lòng ta thì không nằm trong tráp sính lễ.”

Chàng im.

Rồi chàng gật đầu.

“Ta nói sai.” Chàng nói. “Xin lỗi nàng.”

Chàng đi ra, khép cửa lại rất khẽ.

Ta đứng giữa phòng, tim còn đập thình thịch, tự nhiên thấy trong người trống trống một khoảng.

Cãi thắng một người không cãi lại thì chẳng sướng gì cả.

Sáng hôm sau, trên bàn có một gói giấy dầu.

Kẹo mạch nha.

Ta cầm lên, ngẩn ra.

Gói của nghĩa bá ta vẫn để nguyên trong ngăn kéo, chưa mở.

Cái này là gói khác. Giấy thô hơn, buộc bằng dây rơm, gói vụng, một góc còn dính kẹo chảy ra.

Phúc bá đi qua, thấy ta cầm gói kẹo, mắt lão đỏ hoe.

“Phu nhân dùng đi ạ.” Lão sụt sịt. “Bá gia đi từ lúc chưa sáng.”

“Đi đâu?”

“Chợ Đông.”

Ta nhíu mày. “Chợ Đông cách đây ba dặm. Đầu phố mình cũng có hàng kẹo.”

“Dạ.” Phúc bá lấy tay áo quệt mắt. “Đầu phố năm đồng. Chợ Đông ba đồng.”

Ta đứng đó, tay cầm gói kẹo, nghe rõ tiếng bàn tính trong đầu mình kêu lên một tiếng rồi tắt ngóm.

Ba đồng.

Một Bá gia, đi bộ ba dặm, đi từ lúc trời chưa sáng, để tiết kiệm hai đồng tiền.

Ta ngồi xuống, mở gói giấy ra.

Kẹo gói vụng thật. Vụng đến mức buồn cười.

Cả đời ta ra giá cho mấy vạn món đồ. Ta ra giá cho ngọc, cho vàng, cho tranh của người chết, cho vòng cưới của người ta đem đi cầm lúc nửa đêm.

Ta chưa từng ra giá hụt một lần nào.

Ta cầm gói kẹo ba đồng ấy, ngồi rất lâu, và ta không ra nổi giá.

Đêm ấy ta không ngủ.

Ta thắp nến, lấy cây trâm phượng ra, đặt lên bàn. Rồi ta lấy phiến giáp ra, đặt cạnh.

Một cây trâm vàng của khuê phòng. Một mảnh sắt của chiến trường.

Chẳng liên quan gì đến nhau.

Nhưng cả đêm ta cứ thấy vướng, vướng như răng cắn phải hạt sạn trong bát cơm.

Ta soi cây trâm trước.

Chỗ khảm đá, người thợ phải đục một cái ngạnh nhỏ để giữ viên đá không rơi. Ngạnh này là chỗ khuất, không ai nhìn, cho nên mỗi thợ đục một kiểu — có người đục thẳng, có người đục xiên, có người đục hai ngạnh cho chắc.

Người làm cây trâm này đục ngạnh hình móc câu. Móc rất nông. Đục xong còn miết lại một nhát cho phẳng, vì tật của hắn là không chịu được cái gì lởm chởm.

Ta đặt trâm xuống, cầm phiến giáp lên, soi chỗ đinh tán.

Đinh tán giáp thì thô, ai làm chẳng được, đập bẹp cái đầu là xong.

Ta ghé sát nến.

Chỗ chân đinh, có một cái ngạnh nhỏ.

Hình móc câu. Nông. Miết lại một nhát cho phẳng.

Ngọn nến trong tay ta run lên.

Người ta có thể học nghề của nhau. Người ta có thể chép kiểu của nhau.

Nhưng cái tật thì không ai chép được. Cái tật là thứ người thợ mang theo xuống mồ.

Người khảm cây trâm gia truyền của mẹ Bùi Yến — và người tán đinh lên ba nghìn bộ giáp giết cha chàng — là một.

Ta ôm cả trâm lẫn giáp, chạy ra ngoài, đạp cửa thư phòng.

Bùi Yến còn thức, đang cúi trên một tờ giấy. Chàng ngẩng lên.

“Cây trâm này.” Ta thở dốc, dằn nó xuống bàn. “Chàng thuê ai làm? Xưởng nào? Người nào? Nói mau.”

Bùi Yến nhìn cây trâm.

Rồi chàng nhìn ta.

Và lần đầu tiên, ta thấy trên gương mặt lúc nào cũng bình thản ấy hiện lên một thứ khiến bụng ta lạnh toát.

“Tô Trân.” Chàng nói chậm rãi. “Bốn mươi mốt món trong phủ này đều là ta bỏ tiền làm.”

“Nhưng cây trâm của mẹ ta, ta chưa bao giờ bán.”

Ta ngủ được đúng một canh giờ.

Đến canh tư thì ta dậy, châm nến, ra gõ cửa thư phòng.

Bùi Yến mở cửa ngay. Chàng cũng chưa ngủ. Ba năm nay chắc chàng chưa ngủ đêm nào cho tử tế.

“Ta muốn xem hết bốn mươi mốt món.” Ta nói.

“Bây giờ?”

“Bây giờ.” Ta giơ cây nến lên. “Chàng bảo bốn mươi mốt món đều là chàng làm. Nhưng cây trâm chàng chưa từng bán. Vậy trong bốn mươi mốt món ấy, có bao nhiêu món không phải của chàng?”

Chàng đứng im một thoáng.

Rồi chàng với lấy áo ngoài.

“Đi.”

Chúng ta bắt đầu từ chính đường.

Ta đi trước, cầm nến. Chàng đi sau, hai tay chắp, không nói.

Cái lư đồng trên án. Ta cầm lên, xoay một vòng, gõ móng tay. “Giả. Gỉ xanh này là dấm với muối, ngâm chừng nửa năm.”

“Ừ.” Chàng nói. “Cái thật ta bán tháng ba năm ngoái. Được hai trăm sáu mươi lạng.”

“Đổi lấy gì?”

Chàng im một lúc.

“Một cái tên.” Chàng đáp. “Tên viên chủ sự coi kho quân giới năm ấy. Người ta bảo ta hai trăm sáu mươi lạng thì cho ta cái tên. Ta trả. Ta đi tìm. Ông ta chết năm kia rồi, chết già, trên giường, có con cháu đứng đủ.”

Ta ngẩng lên nhìn chàng.

“Chàng mất hai trăm sáu mươi lạng để biết một người đã chết.”

“Ừ.”

Chàng nói cái đó bình thản như đang đọc sổ.

Ta không nói gì nữa. Ta đi sang cái bình bên cạnh.

Cả đêm ấy chúng ta đi hết cái phủ.

Món thứ chín, một bức tranh Thu Sơn Đồ treo ở tây sảnh. Ta soi mực, soi giấy, soi con dấu. “Giả. Nhưng giả khá.”

“Cái thật đổi lấy một xấp giấy.” Chàng nói.

“Giấy gì?”

“Sổ chi quân nhu. Bốn tờ. Có triện.”

Ta quay phắt lại. “Bốn tờ sổ chi có triện? Cái đó mà thật thì—”

“Nó giả.” Chàng nói.

Ta đứng sững.

“Ta không biết.” Giọng chàng vẫn đều, nhưng ta thấy tay chàng nắm lại sau lưng. “Ta cầm bốn tờ giấy ấy, ta đọc, ta thấy một cái tên: Hạ Nguyên, cai kho ở Bình Châu. Ta mừng đến mức ba đêm không ngủ. Ta đi Bình Châu tìm ông ta.”

“Rồi sao?”

“Ông ta là người tốt. Ông ta chẳng dính dáng gì. Ông ta còn mời ta ăn cơm, còn hỏi thăm cha ta.”

Chàng ngừng.

“Ba ngày sau khi ta rời Bình Châu, ông Hạ chết. Ngã xuống giếng.”

Ngọn nến trong tay ta lung lay.

“Bốn tờ giấy giả ấy không phải để lừa ta.” Chàng nói. “Nó là để ta đi tìm. Ta đi tới đâu, người ta biết ta đang tra tới đó. Ta đi tới nhà ai, người ấy chết.”

“Ta là con chó săn, mà mũi ta hỏng. Người ta chỉ đâu ta sủa đó. Sủa xong thì có người chết.”

Chàng nhìn bức tranh giả trên tường.

“Cái thật ta bán được tám trăm lạng. Nàng nói xem, tám trăm lạng ấy ta mua được cái gì?”

Ta đứng đó, tay cầm nến, không đáp nổi.

Bởi vì ta biết đáp án.

Chàng mua một tờ giấy giả. Và một mạng người thật.

Món thứ hai mươi hai là cái nghiên mực.

Không, cái nghiên mực đã không còn. Chỗ nó từng nằm giờ là một cái nghiên khác, đá cũng đen, chạm cũng đẹp, đáy cũng khắc chữ.

Ta soi nó rất lâu.

“Chỗ mài mực.” Cuối cùng ta nói. “Một cái nghiên ngự ban, ba đời nhà chàng mài trên đó, lòng nghiên phải trũng xuống. Trũng lệch về bên phải, vì người ta mài bằng tay phải. Cái này lòng phẳng lì.”

“Ừ.”

“Chàng bán nó lúc nào?”

“Tháng bảy năm ngoái.”

“Đổi lấy gì?”

Bùi Yến không đáp.

Ta quay sang, giơ nến lên.

“Bùi Yến. Đổi lấy gì?”

“Một chỗ ngồi.” Chàng nói khẽ. “Ta trả một nghìn hai trăm lạng để được ngồi ăn cơm với một vị đại nhân trong triều, đúng một bữa. Nửa canh giờ.”

“Ông ta nói gì?”

“Ông ta khen món cá.”

Ta bật cười.

Rồi ta không cười nữa.

Bởi vì ta nhìn thấy mặt chàng.

“Vị đại nhân nào?”

“Tưởng Kính Chi.” Chàng nói. “Bây giờ là Các lão. Ba năm trước là Thượng thư bộ Binh. Bẩm văn của cha ta gửi về từ Vọng Sa, qua tay ông ta.”

Ta suýt đánh rơi cây nến.

“Vậy chàng còn ngồi đây làm gì? Ông ta—”

“Ta tra ông ta nửa năm.” Bùi Yến nói. “Ta cho người đếm từng món đồ trong nhà ông ta. Cả cái phủ ấy không có nổi một thứ đáng trăm lạng. Ông ta ăn cơm rau. Áo vải. Con trai ông ta làm chủ bạ một huyện nghèo, đi bộ đi làm, năm ngoái xin điều về kinh, ông ta bác.”

“Bốn vạn hai nghìn lạng ăn chênh từ lô giáp năm ấy. Không một đồng nào chảy vào nhà ông ta.”

Chàng nhún vai.

“Ta đếm ba lần. Rồi ta gạch tên ông ta.”

Ta ngồi im.

Trong nghề của ta có một câu, cha ta dạy từ hồi ta lên mười: khách tham thì dễ, khách không tham mới khó.

Khách tham, mình biết hắn muốn gì thì mình ra giá được.

Khách không tham thì mình mù.

Ta cứ tưởng câu ấy chỉ nói về người mua hàng.

Ta cứ tưởng cả đêm nay ta đang kiểm hàng.

Đến giữa đêm ta mới hiểu ra ta đang làm cái gì.

Bốn mươi mốt món giả này không phải màn khói.

Nó là bốn mươi mốt tấm bia.

Mỗi một món giả đứng đúng chỗ một món thật đã đi khỏi cái nhà này. Và mỗi món thật đi khỏi thì đổi về một mẩu — một cái tên đã chết, một bữa cơm, một câu khen món cá, một tờ giấy giả, một xác người dưới giếng.

Chàng bán cả nhà mình đi để mua sự thật.

Và người ta bán lại cho chàng toàn hàng giả.

Chàng nhìn không ra. Cho nên chàng cứ trả. Trả suốt ba năm.

Ta là dân buôn. Ta lớn lên trong tiệm cầm đồ, ta xem người ta bán đồ của mẹ mình, của con mình, nhiều đến chai sạn.

Nhưng cả đời ta chưa từng thấy ai bị hớ như chàng.

Chỗ nào ta soi ra là giả, chàng đều nói được ngay: cái thật bán tháng nào, được bao nhiêu, đổi lấy gì.

Không cần nghĩ. Không cần tra sổ.

Ba mươi tám món, chàng đọc như đọc kinh.

Chàng không nhìn ra một món đồ giả nào. Nhưng chàng nhớ từng món đồ thật đã rời khỏi cái nhà này, nhớ đến từng ngày, từng con số.

Đến gần sáng, ta chợt hiểu ra.

Đó không phải trí nhớ.

Đó là chàng đang để tang.

Ba món cuối nằm trong một cái viện ở góc tây bắc.

Bùi Yến dừng lại ở ngoài cửa.

“Đây là viện của mẹ ta.” Chàng nói. “Bà mất năm ta lên chín.”

Chàng đưa cho ta chùm chìa khóa.

“Ta không vào.”

“Chàng khóa nó bao lâu rồi?”

“Ba năm.”

Ta cầm chìa khóa, đẩy cửa.

Bụi phủ một lớp mỏng, dày đều. Trên bàn trang điểm có một cái hộp gỗ. Trên giá có một cái vòng ngọc. Cây trâm phượng vốn nằm trong hộp — mãi đến ngày cưới mới bị lôi ra, cắm lên đầu ta.

Ta soi cái vòng ngọc trước.

Rồi cái hộp.

Rồi ta ngồi phịch xuống cái ghế đẩu phủ bụi, tay còn cầm nến, tim đập chậm mà nặng.

Cả ba đều giả.

Ta ra ngoài. Bùi Yến vẫn đứng ở bậc thềm, quay lưng vào cửa.

“Ba món.” Ta nói. “Trâm, vòng, hộp. Đều giả.”

“Ta chưa bao giờ bán đồ của mẹ ta.” Chàng nói. “Một món cũng chưa.”

“Ta biết.”

Ta ngồi xuống bậc thềm. Cách chàng một khoảng.

Ta không hỏi. Ta cũng không an ủi.

Hồi ở tiệm, chàng ngồi cạnh ta như thế, để ta yên. Ta cứ tưởng chàng không biết nói gì.

Giờ ta mới hiểu, để yên cũng là một thứ phải học.

Trời bắt đầu hửng. Bụi trong viện bay lên trong vệt sáng đầu tiên, chầm chậm, như tuyết rơi ngược.

“Bùi Yến.”

“Ừ.”

“Người vào đây tráo ba món này,” ta nói, “không phải để lấy tiền. Cái vòng ngọc kia bán được ba trăm lạng, nhưng làm giả nó tốn của hắn ít nhất một trăm. Hắn lời hai trăm. Hắn vào được cái phủ này, vào được cái viện khóa ba năm, mà hắn chỉ lấy hai trăm lạng thôi à?”

Chàng quay lại nhìn ta.

“Hắn không lấy đồ.” Ta nói. “Hắn tìm cái gì đó. Tìm trong ba món ấy. Tìm xong, hắn trả lại một bản giả cho chàng đừng biết là có người đã tới.”

Ta ngẩng lên nhìn cái viện phủ bụi.

Bụi dày đều. Đều quá.

“Chàng khóa cửa ba năm.” Ta nói. “Nhưng có người đã vào đây trước ta.”

“Và hắn còn rắc lại bụi cho tử tế.”

Muốn tìm một người làm hàng giả, đừng đi tìm hắn.

Hắn giấu. Hắn đổi tên. Hắn dọn nhà ba tháng một lần.

Cứ đi tìm người bán hàng cho hắn.

Người bán hàng thì không giấu. Người bán hàng phải mở cửa tiệm, phải treo biển, phải mong khách tới.

“Hồng bảo thạch giả trên cây trâm ấy là thủy tinh nung.” Ta nói với Bùi Yến, vừa nói vừa xỏ giày. “Nung ra được cái màu đỏ ấy, không đục, không sạn, đều từ trong ra ngoài — cả kinh thành không quá bốn cái lò làm nổi.”

“Nàng biết cả bốn?”

“Ta biết cả bốn. Ta còn biết lò nào ăn gian pha chì.” Ta hất cằm. “Chàng đi cùng. Nhưng chàng câm.”

Lò thứ nhất, ta hỏi mua “một mẻ đá đỏ, cỡ hạt gạo, làm mắt tượng”, chê đắt, mặc cả, bỏ đi.

Lò thứ hai, ta chê màu, mắng chủ lò pha chì, bị đuổi.

Lò thứ ba, ta ngồi uống hai chén trà, kể chuyện cha ta, than tiệm ế, rồi thở dài bảo: “Cháu tìm cái màu như hồi xưa cơ. Hồi xưa có ông nào làm cho xưởng Đàm gia ấy, màu đỏ đẹp lắm…”

Lão chủ lò đang rót trà, tay khựng lại.

“Đàm gia à.” Lão đặt ấm xuống. “Cháy rồi. Ba năm rồi.”

“Cháy ạ?”

“Cháy sạch. Tháng mười một năm Cảnh Hòa hai mươi.” Lão chép miệng. “Đêm cháy, gió to. Chẳng ai chữa được.”

Ta cầm chén trà lên, hớp một ngụm.

Tháng mười một năm Cảnh Hòa thứ hai mươi.

Cùng cái tháng cha ta hỏng mắt.

Ta đặt chén xuống, cười tươi rói, khen trà ngon, hỏi thăm mấy câu vô thưởng vô phạt, rồi kéo Bùi Yến ra khỏi cửa.

Đi được ba bước, ta mới nhận ra tay mình lạnh ngắt.

Xưởng Đàm gia ở ngoại thành, cách cửa Nam bảy dặm.

Chỗ ấy giờ là một bãi đất đen, cỏ mọc lút, mấy bức tường gạch còn đứng dở dang như răng gãy. Cách đó chừng nửa dặm có một cái miếu Thổ Địa đổ nát, mái sập một nửa.

Chúng ta còn cách cái miếu hơn trăm bước thì nghe thấy tiếng.

Cạch.

Cạch.

Cạch.

Ta quay sang.

Bùi Yến đứng lại giữa đường.

Chàng không nhúc nhích. Mặt chàng chẳng đổi. Nhưng cả người chàng đứng đó, cứng đơ, hai tay buông thõng, như một người vừa bị ai gọi đúng tên trong bóng tối.

Ta bước lại gần, đưa tay ra, nắm lấy cổ tay chàng.

Ta không nói gì.

Ta chỉ nắm.

Một lúc lâu, ta thấy chàng thở ra một hơi.

Rồi chàng đi tiếp.

Trong miếu có một ông lão đang ngồi vá nồi.

Ông chừng bảy mươi, lưng gù, tóc bạc trắng, mặc áo vá chằng vá đụp. Trước mặt ông là mấy cái nồi thủng của dân trong xóm, một hòn đe con, một cái búa.

Ông kê miếng vá vào chỗ thủng, giơ búa, gõ.

Cạch.

Bàn tay phải của ông cụt mất ngón cái.

Vết cụt cũ, lành hẳn, gọn ghẽ. Không phải tai nạn. Người ta không mất ngón cái vì tai nạn mà mặt cắt phẳng như thế.

Cái đó là tự chặt.

Người khảm ngọc mà mất ngón cái thì hết đời. Ngón cái là ngón giữ đá.

Ta cầm cây trâm phượng, đặt xuống nền đất trước mặt ông.

Tiếng búa dừng.

Ông lão nhìn cây trâm rất lâu.

Rồi ông đặt búa xuống, rất chậm, như người ta đặt một thứ gì đó xuống lần cuối cùng.

“Ta chờ ba năm rồi.” Ông nói.

Đàm lão không chối một câu nào.

Ta cứ tưởng ta sẽ phải gặng, phải dọa, phải bày mưu. Cha ta dạy ta ba mươi cách moi lời một người bán hàng nói dối.

Ta không dùng đến cách nào.

Ông kể như người ta trút một cái bao đá đeo trên lưng đã quá lâu.

“Đơn hàng ba nghìn bộ. Tháng tư năm ấy. Giao trước tháng chín.” Ông nói. “Sắt thì họ đưa. Ta chỉ đúc, chỉ tán đinh, chỉ sơn.”

“Ông biết nó mỏng.” Ta nói.

“Biết chứ.” Ông đáp. “Ta làm nghề năm mươi năm. Ta cầm miếng sắt lên là ta biết nó chết mấy người.”

Ông ngẩng lên. Mắt ông đục, nhưng không mù. Chỉ là thứ nước mắt của người già đã cạn từ lâu, chỉ còn lại một lớp màng.

“Ta có hỏi. Ta hỏi ông cai đưa hàng: cái này ra biên ải thật à? Ông ta bảo: hàng dự bị thôi, để trong kho, có ai mặc đâu.”

“Ông tin?”

“Không.” Đàm lão nói. “Ta không tin. Ta vẫn làm.”

Ông nhìn xuống bàn tay cụt ngón của mình.

“Cô nương. Cô làm nghề định giá. Cô nói cho ta nghe — một người biết mình đang đúc cái chết, mà vẫn đúc, vì ba nghìn bộ ấy trả công đủ nuôi cả xưởng bốn mươi miệng ăn trong hai năm — thì người ấy đáng giá bao nhiêu?”

Ta không đáp được.

“Ai đặt hàng?” Bùi Yến hỏi. Đó là câu đầu tiên chàng nói từ lúc bước vào miếu.

“Ta không biết.”

“Đàm lão—”

“Ta thật không biết.” Ông lắc đầu. “Có một ông cai tới. Ông cai ấy chết năm sau. Rồi có người khác tới trả tiền. Người trả tiền cũng không biết mình trả cho ai — hắn chỉ đếm bạc.”

Ta thấy Bùi Yến siết tay lại.

Ba năm. Chàng bán cả cái nhà mình. Và đến cuối cùng, con đường vẫn chỉ dẫn tới một ông già vá nồi trong miếu đổ.

“Nhưng ta nhớ một chuyện.” Đàm lão nói.

Ta ngẩng phắt lên.

“Cùng tháng ấy, họ đưa tới một đơn nữa. Đơn con.” Ông chỉ cây trâm trên nền đất. “Cái này.”

“Một cây trâm.”

“Ừ. Một cây trâm, một cái vòng ngọc, một cái hộp gỗ. Họ đưa đồ thật tới, bảo ta làm y hệt, làm xong trả cả thật lẫn giả.” Ông nhíu mày, như đến giờ vẫn còn thấy lạ. “Ta làm nghề năm mươi năm, chưa thấy ai đặt kiểu ấy bao giờ. Người ta thuê ta làm giả là để bán cái thật đi. Đằng này họ giữ cả hai.”

“Họ trả lại cái thật cho ông?” Ta hỏi.

“Ừ. Cả ba món thật, họ mang đi. Bảo trả về chỗ cũ.”

Ta liếc Bùi Yến.

Ba món thật của mẹ chàng, họ mang đi.

Ba món giả, họ để lại trong viện khóa ba năm, rắc bụi lên cho đều.

Nghĩa là họ không tráo để lấy đồ.

Họ tráo để giữ — giữ cái thật ở chỗ khác, và để cái nhà này tưởng nó vẫn còn.

Trong ba món ấy có thứ gì đó. Và họ không muốn Bùi Yến chạm vào nó.

Bùi Yến đưa tay vào ngực áo, lấy ra cái túi vải thô, mở ra, đặt phiến giáp xuống nền đất bên cạnh cây trâm.

Đàm lão nhìn nó.

Rồi mặt ông xám đi.

“Ta mua nó ba đồng.” Bùi Yến nói. “Ở một hàng sắt vụn ngoài cửa Đông. Ta không biết nó thật. Ta chẳng biết cái gì thật cả.”

Chàng ngồi xuống, ngay trên nền đất bẩn, ngang hàng với ông lão vá nồi.

“Ta chỉ gõ vào nó một cái.” Chàng nói. “Và nó kêu đúng cái tiếng ta nghe suốt một đêm trên tường thành Vọng Sa.”

Ba năm chàng đi mua sự thật bằng mắt, và mua toàn hàng giả.

Món thật duy nhất chàng từng mua, chàng mua bằng tai. Ba đồng.

Đàm lão bắt đầu run.

Không phải run vì sợ. Là cái run của người già khi cái gì đó bên trong vỡ ra.

Ông đưa tay lên, định cầm phiến giáp, rồi lại rụt về.

Bùi Yến với lấy cái nồi thủng bên cạnh, kê nó lên đe, giữ chặt cho ông.

Không ai nói câu nào.

Ông lão cầm búa lên, gõ một cái.

Cạch.

Rồi ông khóc.

Mãi lúc ta đứng dậy ra về, Đàm lão mới nhìn kỹ mặt ta.

Ông nhìn rất lâu. Lâu đến mức ta thấy gai gai sau gáy.

“Cô nương.” Ông hỏi. “Cô… họ Tô?”

Ta khựng lại.

“Con gái ông Tô Bình. Nhất Ngôn Đường phố Vĩnh Hòa.”

Ta không đáp được một chữ.

Đàm lão đứng dậy.

Rồi ông làm một việc khiến ta lùi lại một bước — ông quỳ xuống, dập đầu xuống nền đất trước mặt ta, ba cái, kêu bình bịch.

“Đàm lão—”

“Cha con…” Giọng ông vỡ ra. “Cha con còn sống chứ?”

“Còn.” Ta nghe giọng mình như của người khác. “Cha ta mù.”

Ông lão gục xuống.

“Ta xin lỗi con.” Ông nói. “Tháng tám năm ấy, ta túng quá. Ta ôm cái phiến giáp ấy đi cầm.”

“Cả cái phố ấy, ta chọn đúng cái tiệm không bao giờ nói dối.”

Ta không về Bá phủ.

Ta đi thẳng về phố Vĩnh Hòa, đi bộ, đi từ chiều tới tối, chân phồng rộp mà chẳng thấy đau.

Bùi Yến đi sau ta, không nói một lời, không kéo ta lại, không bảo ta thuê kiệu.

Chàng chỉ đi sau.

Cửa tiệm đóng. Trong nhà còn một ngọn đèn.

Cha ta ngồi sau quầy, tay lần một xâu tiền, y như mọi tối.

Ông nghe bước chân ta.

Ông không hỏi con về làm gì. Ông không hỏi sao con đi bộ. Ông không hỏi gì cả.

Ông chỉ ngồi im, rất lâu, rồi thả xâu tiền xuống quầy.

“Con gặp ông ấy rồi.”

Ta đứng giữa gian tiệm, tay nắm chặt đến mức móng đâm vào lòng bàn tay.

“Cha.”

“Ừ.”

“Tháng tám năm Cảnh Hòa hai mươi, ngày mấy?”

Cha ta im lặng một lúc.

“Mười chín.” Ông nói. “Giờ Tuất. Trời mưa.”

Ba năm.

Ba năm ông không quên một khắc nào.

“Có một người đem tới một mảnh sắt.” Ông nói. “Ta nhận. Tiểu nhị khắc dấu, ghi sổ, đưa hắn hai lạng.”

“Rồi ta cầm nó lên.”

Bàn tay già của ông đặt trên mặt quầy, ngón trỏ khẽ động, như đang rà lại cái mép sứt ấy lần nữa.

“Trân nhi, cha làm nghề bốn mươi năm. Cha sờ vào là cha biết. Sắt ấy không phải sắt nồi. Nó cong theo kiểu giáp. Đinh tán theo kiểu giáp quân dụng. Mà nó mỏng như lá.”

“Cha ngồi trong tiệm này, tay cầm cái mảnh ấy, và cha đếm.”

Ông ngẩng lên.

“Một bộ giáp là một người. Người ta không đúc lẻ một bộ.”

Ta không thở nổi.

“Cha định làm gì ạ?”

“Cha định đem lên phủ doãn.” Ông nói. “Cha đã gói nó lại rồi. Cha để trong ngăn kéo này, ngăn thứ hai từ trên xuống. Cha định sáng mai đi.”

“Đêm ấy có người tới.”

Cha ta nói câu ấy rất bình thản.

“Ba người. Không đập cửa. Họ có chìa.”

“Họ không đánh cha. Họ ngồi xuống ghế kia, uống trà của cha, rất lễ phép. Họ hỏi cái mảnh sắt đâu. Cha bảo đã trả lại người ta rồi. Họ hỏi cha ghi sổ chưa.”

Ông ngừng.

“Cha nói dối. Cha bảo chưa.”

“Họ không tin. Nhưng họ cũng không lục sổ.”

“Họ chỉ nói với cha một câu.”

Ta thấy gian tiệm quay mòng mòng.

“Họ bảo: Ông Tô, cả phố này ai cũng bảo ông định giá không sai bao giờ. Vậy ông ra giá đi.”

Cha ta đưa tay lên, chạm vào khóe mắt mình. Rất nhẹ.

“Đôi mắt ông, hay đôi mắt con gái ông?”

Ngọn đèn trên quầy cháy tách một tiếng.

“Cha ra giá.” Ông nói. “Trân nhi, cha ra giá rồi. Cả đời cha chỉ ra một cái giá ấy là không phải nghĩ.”

Ta bịt miệng mình bằng cả hai tay.

“Sáng hôm sau, cha lấy dao cầu, đặt thước, cắt tháng tám ra khỏi quyển sổ.”

“Không phải để giấu họ. Họ chẳng cần cha giấu — họ có chìa khóa tiệm này.”

Ông quay mặt về phía ta. Đôi mắt đục ấy chẳng nhìn thấy gì.

“Cha cắt để giấu con.”

“Vì cha biết, cứ đến tối là con lại lôi sổ ra, ngồi cạnh cha, đọc cho cha nghe.”

Ta ngồi thụp xuống nền đất.

Ba năm.

Ba năm mỗi tối ta ngồi bên đèn, đọc sổ cho cha nghe, đọc ba đời Nhất Ngôn Đường, đọc vòng đi vòng lại, và ta cứ tưởng đó là cái lệ ấm áp nhất trong đời ta.

Ba năm ông ngồi đó, nghe con gái mình đọc, biết rõ có một tháng mình đã tự tay cắt đi.

Và ông vẫn ngồi nghe. Tối nào cũng nghe.

Ta bò tới, ôm lấy đầu gối ông.

Cha ta đặt tay lên tóc ta.

Bàn tay ấy run.

Đó là lần đầu tiên trong đời ta thấy tay cha ta run.

Người đầu tiên ngửi thấy mùi khói là Bùi Yến.

Chàng đứng phắt dậy.

“Ra ngoài.”

“Cái gì—”

“RA NGOÀI!”

Lửa không bắt từ trong tiệm.

Nó bắt từ gian sau — gian chứa ba cái rương sổ.

Ai đó đã tưới dầu qua khe cửa sổ. Đã tưới từ lúc nào không biết, tưới rất kỹ, tưới đủ để khi bén thì bén một cái là cả gian bùng lên như một cây đuốc.

Chúng nó không đợi nữa.

Ta đi hỏi ba cái lò thủy tinh. Ta đi bảy dặm ra ngoại thành. Ta ngồi trong miếu Thổ Địa nói chuyện với Đàm lão suốt một buổi chiều.

Chúng nó nhìn ta đi.

Và tối nay chúng nó biết ta đã về đây.

Bùi Yến xốc cha ta lên vai, lao ra cửa trước.

Ta chạy vào trong.

“Tô Trân!”

Ba cái rương. Ba đời. Ta biết cả ba cái ổ khóa, ta mở được trong sáu nhịp thở, ta chỉ cần lôi được một cái ra thôi cũng được —

Khói ập vào mặt ta như một bàn tay.

Ta không thấy gì nữa. Ta chỉ biết ta đang bò, đang quờ, tay ta chạm vào cái quai đồng của rương thứ nhất, nóng bỏng, ta vẫn nắm.

Rồi có người tóm lấy cổ áo ta, giật ngược ra sau.

“Buông ra!” Ta gào. “Sổ! Ba năm chàng đi mua chứng cứ, chứng cứ nằm ngay đây! Ba đời nhà ta nằm trong ấy!”

Bùi Yến không quay lại nhìn cái rương lấy một cái.

Chàng vác ta lên vai, như vác một bao gạo.

“Ta biết giá của nó.” Chàng nói.

Rồi chàng chạy ra khỏi cửa.

Nhất Ngôn Đường cháy suốt canh ba.

Cả phố Vĩnh Hòa ra dập. Người xách nước, người phá tường ngăn lửa. Đến khi trời hửng thì chỉ còn lại một cái khung đen, khói bốc lên thẳng đứng vì không có gió.

Cái biển hiệu rơi xuống trước, cháy trước.

Ta ngồi bệt trên nền đất bên kia đường, mặt mũi đen sì, hai bàn tay phồng rộp, nhìn ba đời nhà mình bay lên trời thành tro.

Bùi Yến ngồi xuống cạnh ta. Cách một khoảng.

Chàng cũng chẳng ra gì hơn ta. Áo cháy một mảng ở vai, tóc khét, lông mày cháy sém một bên trông rất buồn cười.

Ta nhìn cái mảng áo cháy trên vai chàng — chỗ chàng vác cha ta.

Rồi ta nhìn tay chàng, chỗ nắm cổ áo ta lôi ra, phồng rộp y như tay ta.

Cả đời ta ra giá cho mấy vạn món đồ. Ta ra giá cho ngọc, cho vàng, cho tranh người chết, cho vòng cưới người ta đem đi cầm lúc nửa đêm. Ta chưa từng trả cao hơn giá thật một đồng nào.

Ta ngồi đó, trước cái tiệm đang cháy của mình, và ta biết ta đã hớ nặng.

Hớ từ cái đêm động phòng.

Cha ta ngồi phía bên kia, người phủ đầy tro, hai tay đặt trên đầu gối.

Ông mù. Ông chẳng nhìn thấy gì.

Nhưng ông ngồi quay đúng hướng cái tiệm.

“Trân nhi.”

“Dạ.”

“Đọc cho cha nghe.”

Ta ngẩng lên, ngơ ngác.

“Cha… sổ cháy rồi ạ.”

Cha ta không nói gì.

Ông chỉ ngồi im, chờ.

Và ta ngồi đó, giữa tro, tay run bần bật, và ta mở miệng.

“Năm Cảnh Hòa thứ mười hai. Mùa đông. Ngày mười bảy.” Giọng ta khàn đặc vì khói. “Một cái vòng bạc, ba đồng. Người cầm: bà lão họ Vương ở ngõ Đông. Chuộc lại sau hai mươi bảy ngày. Thiếu bốn văn tiền lãi. Cha tha.”

Cha ta ngồi im.

Ba năm.

Mỗi tối một quyển. Đọc hết ba đời lại quay vòng đọc lại. Ba năm ta đọc đến mức nằm mơ cũng thấy chữ.

Ông mù, ông cần một đôi mắt, cho nên ta đọc.

Chỉ có thế thôi.

Chẳng ai bày mưu gì cả.

Bên cạnh ta, Bùi Yến rất chậm quay đầu lại nhìn ta.

Ta nghe tiếng chàng hít vào một hơi.

Chúng nó đốt Nhất Ngôn Đường để đốt quyển sổ.

Chúng nó đốt trượt.

Quyển sổ không nằm trong cái rương ấy.

Nó nằm trong đầu ta, ba năm nay rồi.

Trong tro, cha ta bật ra một tiếng.

Ta cứ tưởng ông mừng.

Rồi ta quay sang, và ta thấy nước mắt chảy ra từ hai con mắt không nhìn thấy gì của ông, kéo hai vệt sạch trên khuôn mặt phủ tro.

“Cha xin lỗi con.” Ông nói.

Lúc ấy ta mới hiểu.

Ba năm trước, người ta bắt cha ta ra giá: đôi mắt ông, hay đôi mắt con gái ông.

Ông đã trả bằng mắt mình, và ông tưởng thế là mua đứt được ta.

Nhưng mỗi tối, ông lại gọi ta ngồi xuống bên đèn, bảo ta đọc.

Và ta đọc.

Suốt ba năm, ông đã cất ba đời Nhất Ngôn Đường vào trong đầu con gái mình — cất từng chút một, mỗi tối một ít, mà chẳng hề định làm thế.

Bây giờ cái rương cháy rồi.

Bây giờ quyển sổ duy nhất còn lại trên đời đang ngồi đây, giữa tro, tay phồng rộp, lông mày cháy sém.

Và chúng nó sẽ biết.

Bùi Yến đưa cha con ta về Bá phủ.

Chàng không hỏi. Chàng chỉ dặn Phúc bá dọn cái viện phía đông, rồi tự tay dìu cha ta vào.

Phúc bá vừa dọn vừa khóc. Lão khóc suốt từ trưa tới tối, khóc đến mức ta phải bảo lão thôi, kẻo cha ta lại tưởng nhà này có tang.

“Phu nhân…” Lão sụt sịt. “Cái tiệm ba đời…”

“Cháy rồi thì thôi.” Ta nói.

Ta nói câu ấy rất gọn. Ta thấy mình nói cũng bình thường.

Rồi ta quay đi, và ta phải đứng lại giữa hành lang một lúc, vì chân ta không nhấc lên nổi.

Cha ta ngủ từ chập tối.

Ông ngủ như một người đã thức ba năm.

Ta ngồi bên ông một canh giờ, nghe ông thở, rồi ta ra ngoài.

Ta không ngủ được.

Ta đi lang thang trong cái phủ trống, và cuối cùng ta thấy mình ngồi trong tân phòng, tay cầm cây nến, soi cái bình Thanh Hoa giả.

Nghề nghiệp thành thói quen. Ta chữa mãi không được.

Chỉ là bây giờ ta chẳng còn gì để soi nữa.

Cả đời ta lớn lên giữa một cái kho. Sáng mở cửa, chiều đóng cửa, tối ngồi đọc sổ cho cha nghe. Người ta khiêng đồ vào, ta soi, ta ra giá, ta ghi.

Bây giờ cái kho ấy thành tro.

Trong tay ta chỉ còn một cái bình giả, trong một căn phòng có mười bốn món giả, trong một cái phủ có bốn mươi mốt món giả.

“Nàng soi đến món thứ mấy rồi?”

Bùi Yến đứng ở cửa.

Vẫn cái áo cháy sém một mảng ở vai. Chàng vẫn chưa thay. Chắc chàng cũng chẳng còn cái áo nào khác.

“Ta chẳng còn gì cả.” Ta nghe giọng mình khàn đặc. “Ba đời. Cháy trong một canh giờ.”

Bùi Yến bước vào, đặt một cái hộp thuốc xuống bàn.

“Ta còn bốn mươi mốt món giả.” Chàng nói. “Nàng lấy hết đi.”

Ta ngẩng lên nhìn chàng.

Rồi ta bật cười.

Cười xong thì ta khóc.

Ta khóc cái kiểu rất xấu — nấc lên, sụt sịt, nước mũi giàn giụa, chẳng ra dáng Bá phu nhân chút nào.

Chàng không nói gì.

Chàng chỉ kéo ghế, ngồi xuống trước mặt ta, mở hộp thuốc, và cầm lấy tay ta.

Hai bàn tay ta phồng rộp hết cả. Chỗ nắm cái quai đồng rương thứ nhất, da đã bong ra một mảng.

Chàng bôi thuốc. Rất chậm.

Rồi chàng cúi xuống, thổi vào chỗ ấy.

“Chàng làm gì thế?”

“Phúc bá bảo thổi thì đỡ rát.”

“Phúc bá lừa chàng.” Ta nói. “Thổi chẳng ăn thua gì cả. Da bỏng thì cứ bỏng.”

“Ta biết.”

Chàng thổi tiếp.

Ta ngồi im.

Cả đời ta ra giá cho mọi thứ. Ta biết một lạng bạc mua được mấy đấu gạo, ta biết một cái vòng ngọc đổi được mấy tháng thuốc, ta biết cái gì lời cái gì lỗ.

Ta ngồi đó, để một người đàn ông làm một việc hoàn toàn vô ích cho bàn tay mình, và ta chẳng tính ra được cái gì cả.

“Bùi Yến.”

“Ừ.”

“Trong lửa, vì sao chàng không lấy cái rương?”

Chàng đang quấn vải quanh tay ta. Chàng không ngẩng lên.

“Ta không biết định giá.” Chàng nói. “Ba năm nay ta trả giá cho mọi thứ. Lần nào cũng sai.”

Chàng thắt nút vải.

“Đêm qua ta không phải nghĩ.”

Ta không hỏi thêm.

Ta ngồi đó, nhìn cái nút vải chàng vừa thắt — thắt vụng, thắt lệch, y như cái gói kẹo mạch nha hôm nọ.

Rồi ta giật lấy hộp thuốc.

“Chìa tay ra.”

“Ta không—”

“Chìa tay ra.”

Chàng chìa.

Tay chàng còn tệ hơn tay ta. Chỗ chàng túm cổ áo ta lôi ra khỏi khói, cả lòng bàn tay đỏ ối. Chỗ vác cha ta, cổ tay có một vệt bỏng dài.

Ta bôi thuốc.

Và ta nhận ra một chuyện.

Cả đời ta đọc đồ bằng mắt. Ta soi, ta nghiêng dưới nến, ta tìm vết mòn.

Đêm ấy, lần đầu tiên, ta đọc một thứ bằng tay.

Ngón cái ta miết qua gốc ngón trỏ chàng. Rồi ngón giữa.

Chai. Một lớp chai dày, cứng, nằm ở đốt thứ hai.

Đó không phải vết của người cầm kiếm. Vết cầm kiếm nằm ở lòng bàn tay, ở gốc ngón út.

Cái này là vết cầm bút. Cầm nhiều. Cầm lâu. Cầm hàng năm trời.

“Chàng viết cái gì?” Ta hỏi.

Bùi Yến im.

“Bùi Yến. Ba năm nay chàng viết cái gì mà tay ra thế này?”

Rất lâu, chàng mới đáp.

“Ta chép lại.”

“Chép gì?”

“Sổ lương thảo Vọng Sa.” Chàng nói. “Năm Cảnh Hòa hai mươi. Ta chép nó năm mười bảy tuổi. Ta thuộc.”

“Mỗi tháng một lần, ta chép nó ra giấy. Từ đầu đến cuối. Rồi ta đốt tờ giấy đi.”

“Rồi tháng sau ta chép lại.”

Ta ngừng tay.

“Vì sao chàng đốt?”

“Vì để lại thì có người lấy được.”

“Vậy vì sao chàng chép?”

Chàng ngẩng lên nhìn ta.

Và chàng nói một câu rất khẽ, khẽ đến mức ta phải nhớ suốt đời.

“Vì ta sợ quên.”

Ta ngồi đó, giữa đêm, trong một căn phòng đầy đồ giả, tay cầm bàn tay chai sạn của chồng mình.

Ba năm, mỗi tối, ta ngồi bên đèn đọc một quyển sổ cho một người mù nghe, và ta thuộc nó lúc nào không hay.

Ba năm, mỗi tháng, chàng ngồi chép một quyển sổ ra giấy rồi đốt đi, để khỏi quên.

Hai người chúng ta, mỗi người vác trong đầu một quyển sổ không còn tồn tại trên đời.

Ta cứ tưởng ta gả cho một món hàng.

Ta cứ tưởng chàng mua một con mắt.

Hóa ra cái đêm động phòng ấy, hai kẻ cùng nghề ngồi đối diện nhau, mà chẳng đứa nào biết.

“Bùi Yến.”

“Ừ.”

“Đọc cho ta nghe đi.”

Chàng khựng.

“Cái gì?”

“Sổ lương thảo Vọng Sa.” Ta nói. “Chàng đọc. Ta nghe.”

“Nàng nghe làm gì? Nàng có hiểu—”

“Ta là dân buôn.” Ta cắt lời. “Chàng cứ đọc. Đọc từ đầu. Chỗ nào ta không hiểu ta hỏi.”

Bùi Yến nhìn ta rất lâu.

Rồi chàng bắt đầu đọc.

“Năm Cảnh Hòa thứ hai mươi. Tháng ba. Ngày mười hai. Nhận gạo bốn nghìn thạch, phủ Hà Đông chuyển tới. Hao dọc đường ba trăm hai mươi thạch…”

Chàng đọc bằng cái giọng rất bằng, rất đều — giọng của một thằng bé mười bảy tuổi ngồi chép sổ dưới ngọn đèn trong doanh trại, chép cho xong để còn đi ngủ, chẳng biết rằng hai mươi mốt ngày sau cái doanh trại ấy sẽ không còn ai.

Ta ngồi nghe.

Ta nghe hết đêm.

Đến gần sáng, khi chàng đọc tới tháng chín, giọng chàng bắt đầu chậm lại.

Ta biết chàng sắp tới tháng mười.

Ta đưa tay ra, đặt lên mu bàn tay chàng.

“Thôi.” Ta nói. “Chỗ ấy để hôm khác.”

Ngoài cổng có tiếng kiệu hạ xuống.

Rồi tiếng Phúc bá chạy vào, thở không ra hơi.

“Phu nhân! Ngụy đông gia… Ngụy đông gia tới ạ!”

Nghĩa bá tới lúc trời vừa sáng rõ.

Ông xuống kiệu giữa cái sân trống của Bá phủ, chẳng thèm nhìn bốn bức tường có mười bốn cái đinh lấy một cái, đi thẳng tới chỗ ta, quỳ một chân xuống nền gạch — một ông già sáu mươi, áo đoạn nâu — rồi ôm lấy ta.

“Con bé ngốc.” Giọng ông run. “Con bé ngốc của bác.”

Ta òa lên khóc.

Ta không khóc lúc lửa cháy. Ta không khóc lúc cái biển hiệu rơi xuống. Ta không khóc lúc ngồi đọc sổ giữa tro.

Ta khóc trong cái ôm ấy.

“Đủ rồi.” Ông nói, vỗ lưng ta. “Về nhà bác. Cả cha con nữa. Cái phủ này lấy đâu ra thuốc thang cho ông cụ.”

“Bác—”

“Ba ngày. Bác cho người dọn nền, dựng lại y như cũ, biển hiệu bác đặt thợ khắc lại theo đúng nét cụ con.” Ông đứng dậy, phủi vạt áo, và giọng ông đổi hẳn — cái giọng ta chưa nghe bao giờ, lạnh và bằng phẳng như mặt cân. “Còn thằng nào đốt tiệm con, bác moi nó ra khỏi kinh thành này.”

Bùi Yến đứng cách đó ba bước.

Chàng nhìn ta.

Chàng không nói gì. Chàng chỉ nhìn.

Ta quay mặt đi.

Ta đi.

Ta biết ta không nên đi. Nhưng cha ta bảy mươi tuổi, mù, vừa ngồi trong tro suốt một đêm, và trong cái Bá phủ này đến một chén cháo tử tế cũng phải đi mua chịu.

Ta ở nhà nghĩa bá ba ngày.

Ba ngày ấy, người ta hầu cha ta như hầu ông nội của họ. Thuốc thang, cháo nóng, có cả một lão bộc chuyên dắt ông đi dạo trong vườn.

Ngụy Thường Sinh sai người dựng lại tiệm thật. Ngày nào cũng có kẻ về bẩm: nền dọn xong, gỗ đã đặt, thợ khắc biển đã lấy mẫu chữ từ tấm bản in cũ.

Ta ngồi trong cái phòng khách rộng thênh thang nhà ông, uống trà của ông, và ta nghĩ:

Cả kinh thành bảo ta hớ. Chỉ có một người, ba năm nay, chưa từng để ta thiệt một đồng.

Đêm thứ ba, ta không ngủ được. Ta ra hành lang.

Cửa thư phòng ông hé.

Trong ấy tối, chỉ có ánh trăng.

Nghề nghiệp thành thói quen. Ta chữa mãi không được.

Ta đẩy cửa.

Trên án thư có một cái hộp gỗ.

Ta cầm nó lên, ra chỗ cửa sổ, giơ ra dưới trăng.

Tử đàn. Vân chìm, gợn như nước. Góc bào tay, không phải bào máy. Nắp khép vào thân nghe một tiếng “khịt” rất khẽ — cái tiếng của gỗ già ăn khít nhau đã trăm năm.

Không phải hàng chợ.

Cái này là tử đàn Vạn Lịch. Bốn trăm lạng. Bốn trăm lạng là ta nói rẻ.

Ta lật đáy hộp lên.

Đáy dày. Dày hơn cần thiết đúng một tấc.

Ta ấn ngón cái vào góc trong, đẩy ngang.

Cái đáy trượt ra.

Ngăn kép rỗng.

Ta cúi xuống, ghé mũi vào.

Mùi giấy cháy.

Không phải mùi khói bám vào. Là mùi của giấy bị đốt ngay trong lòng hộp, đốt vội, tro chưa kịp phủi hết — còn dính một vệt đen mỏng ở góc, cỡ bằng móng tay út.

Tay ta bắt đầu lạnh.

Ta lật cái hộp lại, rà ngón tay dọc mép đáy, chỗ khuất nhất, chỗ mà úp xuống bàn thì không ai nhìn thấy.

Chỗ ấy nhẵn hơn xung quanh.

Nhẵn theo kiểu bị mài.

Gỗ tử đàn đen như mực. Mắt nhìn không ra. Nhưng ngón tay ta thì thấy — thấy một khoảng lõm rất nông, to bằng đầu kim, chỗ mà lẽ ra phải có một nét ngang và mấy cái chấm.

Ta đứng đó, giữa thư phòng nhà nghĩa bá, tay cầm cái hộp, và trong đầu ta một quyển sổ tự lật ra.

Năm Cảnh Hòa thứ hai mươi. Tháng bảy. Ngày mồng chín. Trời nắng.

Một cái hộp gỗ tử đàn, Vạn Lịch, vân nước, có ngăn kép. Người cầm: Bùi Nhị. Xin năm lạng. Kỳ hạn hai năm — kỳ dài nhất tiệm nhận.

Khách dặn: đừng mở.

Cha ta ghi dòng ấy. Cha ta còn sáng mắt.

Ta đã đọc nó cho ông nghe. Không biết bao nhiêu lần. Ta đọc trơn tuột, đọc như đọc kinh, đọc mà chẳng nghĩ gì cả, vì trong ba đời Nhất Ngôn Đường có hàng vạn dòng như thế.

Hai tháng trước, ta dọn kho.

Hàng quá hạn chất đầy hai gian. Cha ta thì mù. Ta thì sắp đi lấy chồng, sắp phải lo trăm thứ.

Ta gọi người của Thông Nguyên tới, chỉ vào cái rổ, nói: “Hai mươi món, đồ vụn cả, chú lấy đi cho cháu đỡ chật.”

Người ta trả hai mươi lạng.

Ta lấy.

Ta còn ghi vào sổ, bằng chính tay ta: bán lô quá hạn, hai mươi món, Thông Nguyên, hai mươi lạng.

Ta không soi.

Cả đời ta soi từng cái trâm, từng cái vòng, từng cái chén. Đúng một lần ta không soi — vì nó là hàng ế, vì ta bận, vì ta sắp lấy chồng.

Đúng một lần.

Ta ngồi thụp xuống nền gạch, ôm cái hộp bốn trăm lạng ta đã bán một lạng, và ta nghe tiếng bàn tính trong đầu mình đổ vỡ.

Ba nghìn người chết vì đồ giả.

Người duy nhất trên đời có thể nhìn ra đồ giả — đã bán cái thứ có thể minh oan cho họ, cho hung thủ, với giá một lạng bạc, vì cô ta không buồn cúi xuống soi.

“Cái hộp ấy đẹp thật, con nhỉ.”

Ta không giật mình.

Ta chỉ từ từ ngẩng lên.

Ngụy Thường Sinh đứng ở cửa. Tay cầm một cây đèn.

Ông không giận. Ông không hoảng. Ông chỉ đứng đó, nhìn ta, với đúng cái vẻ mặt ông vẫn nhìn ta suốt tám năm nay.

Rồi ông bước vào, đặt đèn xuống án, kéo ghế, ngồi.

“Con soi ra chỗ mài rồi à?”

Ta không đáp được.

“Bác đã bảo thằng thợ mài kỹ vào.” Ông thở dài. “Nó bảo nó mài kỹ rồi. Bác cũng soi. Bác không thấy gì cả.”

“Đúng là mắt bác không bằng mắt con.”

Ta nghe tiếng mình vỡ ra.

“Bác đốt tiệm cháu.”

“Ừ.”

Một chữ. Không phải chối, không phải quanh co, không phải một câu giải thích nào cả.

Ta cứ tưởng ta sẽ gào lên. Ta cứ tưởng ta sẽ cầm cái hộp mà bổ vào đầu ông.

Ta chỉ ngồi đó, trên nền gạch, và run.

“Mắt cha cháu.”

“Ừ.”

“Ba nghìn người ở Vọng Sa.”

Ngụy Thường Sinh im lặng một lúc.

Rồi ông nói, giọng rất nhẹ, gần như là giọng ông dùng để dỗ ta hồi mười tuổi:

“A Trân, con nghe bác nói một chuyện.”

“Bác không định giết ai cả. Bác nhận đơn ba nghìn bộ giáp. Bác giao ba nghìn bộ giáp. Đúng số, đúng hạn, không thiếu một cái. Giáp mỏng hơn quy chế hai phân — bác biết. Nhưng giáp ấy vào kho, nằm trong kho, kho là kho dự bị. Trên đời có bao nhiêu thứ nằm trong kho cả đời chẳng ai đụng tới?”

“Người đưa nó ra ải không phải bác. Người duyệt cho nó ra ải không phải bác. Người đọc bẩm văn của Bùi tướng quân rồi gạt đi cũng không phải bác.”

Ông nhìn ta.

“Bác chỉ ăn phần chênh. Bốn vạn hai nghìn lạng. Bác nhớ đến từng đồng.”

“Ba nghìn người chết vì đồ giả của bác!”

“Không.” Ông nói. “Ba nghìn người chết vì có một người ngồi trên cao, cầm tờ bẩm văn của cha thằng bé kia, và tính rằng mở vụ này ra thì tốn hơn là đóng nó lại.”

“Bác chỉ là hàng hóa, A Trân. Người ta trả tiền, bác giao hàng. Người quyết định ai chết là người ra giá.”

Ta nhìn ông.

Và ta hiểu — hiểu một cách lạnh toát, từ đỉnh đầu xuống gót chân — rằng ông tin cái ông vừa nói. Tin thật.

Ông không phải một con quỷ.

Ông là một cái bàn tính. Một cái bàn tính rất giỏi, gõ suốt sáu mươi năm, và trong sáu mươi năm ấy chẳng ai bảo nó rằng có những thứ không được đặt lên bàn.

“Bác thương con thật đấy.” Ông nói. “Chuyện ấy cũng thật. Hai chuyện đều thật, con ạ.”

Ta bật cười. Cười ra nước mắt.

“Bây giờ bác định thế nào? Lấy nốt mắt cháu à?”

Ngụy Thường Sinh cau mày.

Ông cau mày thật — như thể ta vừa nói một câu vô lý đến mức xúc phạm.

“Con nói gì thế.” Ông nói. “Bác ra giá cho con.”

“Bác dựng lại Nhất Ngôn Đường. Biển hiệu nét cụ con, gỗ lim, sơn son. Bác cho con cả cái phố Vĩnh Hòa — toàn bộ, sang tên, không lấy một đồng. Bác nuôi cha con đến lúc ông ấy nhắm mắt, nuôi như nuôi cha bác.”

“Con giữ chồng con. Bác không đụng vào nó. Bác còn dọn đường cho nó minh oan cho Bùi tướng quân — bác đưa cho nó cái tên nó tìm ba năm nay, cái tên thật, cái tên ngồi trên cao ấy. Nó muốn báo thù ai, bác chỉ tận nơi.”

Ông chồm người tới, và lần đầu tiên trong tám năm, ta thấy trong mắt ông một thứ giống như van xin.

“Con chỉ cần quên đúng một tháng. Tháng tám, năm Cảnh Hòa hai mươi.”

“Một tháng, A Trân. Đổi lấy tất cả.”

Ta ngồi trên nền gạch lạnh, tay vẫn ôm cái hộp.

Ta nghĩ đến cái biển hiệu cụ nội ta treo bằng tay.

Ta nghĩ đến cha ta, ba năm ngồi nghe con gái đọc một quyển sổ ông đã tự tay cắt mất một tháng.

Ta nghĩ đến cái giá ông ấy đã ra, trong đúng cái tiệm này, ba năm trước, giờ Tuất, trời mưa.

Rồi ta đứng dậy.

Ta đặt cái hộp xuống án thư ông, ngay ngắn, đúng chỗ cũ.

“Bác.” Ta nói. “Cháu làm nghề này ba đời.”

“Cháu không mặc cả.”

Ta đi ra tới cửa thì ông gọi với theo.

Giọng ông vẫn ấm. Vẫn hiền. Vẫn là cái giọng đã mua cho ta gói kẹo mạch nha năm ta mười tuổi.

“A Trân. Con định đi kiện à?”

Ta dừng lại.

“Kiện bằng gì?” Ông hỏi. “Sổ cháy rồi, con ạ.”

“Con đứng trước công đường, con đọc thuộc lòng một quyển sổ không còn tồn tại. Rồi sao? Quan hỏi: sổ đâu? Con chỉ vào đầu con à?”

Ông cười khẽ.

“Con là quyển sổ. Bác biết. Bác biết từ ba năm nay rồi.”

“Nhưng sổ mà không có bìa thì gọi là lời đồn, con ạ.”

Ta bước ra khỏi cổng nhà ông lúc canh năm.

Bùi Yến đứng bên kia đường.

Áo cháy sém một mảng ở vai, chàng vẫn chưa thay. Chàng đứng đó, dựa vào gốc hòe, chẳng biết đã đứng bao lâu.

Ba ngày.

Chàng nhìn ta.

Ta đi tới, đứng trước mặt chàng, và ta nói câu đầu tiên sau ba ngày:

“Chàng hỏi ta ông ấy lấy gì.”

Ta nghe giọng mình bình tĩnh đến kỳ lạ.

“Ta biết rồi.”

Phủ doãn kinh thành thụ lý một vụ cháy tiệm.

Chỉ có thế thôi. Một cái tiệm cầm đồ ba đời cháy rụi, chủ tiệm mù, con gái chủ tiệm tố Thông Nguyên thương hội phóng hỏa.

Còn ba nghìn người ở Vọng Sa thì chưa ai nhắc tới.

Muốn nhắc tới, phải qua cái cửa này trước.

Ngụy Thường Sinh tới công đường bằng kiệu bốn người khiêng, mặc áo đoạn nâu, tay cầm một chuỗi hạt.

Ông không mang theo luật sư. Ông không mang theo ai.

Ông chỉ chắp tay với quan phủ doãn, rất nhã, rồi quay sang ta, và ông làm một việc khiến cả công đường ồ lên:

Ông cúi đầu chào ta.

“A Trân.” Ông nói, giọng nghẹn lại. “Cháy nhà thì đau. Bác hiểu. Con muốn tố ai cũng được. Cứ tố.”

Ta biết ngay ta đã thua nửa keo.

Đàm lão khai trước.

Ông kể ba nghìn bộ giáp. Ông kể xưởng Đàm gia. Ông giơ bàn tay cụt ngón cái lên cho cả công đường xem.

Rồi quan hỏi: “Ai đặt hàng?”

“Ta không biết.”

Ngụy Thường Sinh chắp tay: “Bẩm đại nhân. Một lão thợ vá nồi ở miếu Thổ Địa ngoại thành, thảo dân chưa gặp bao giờ. Lão bảo có người đặt giáp. Được. Nhưng người ấy có phải thảo dân không? Lão nói đi.”

Đàm lão im.

Ông không nói được. Ông không biết.

Ta khai tiếp.

Ta đọc dòng sổ tháng tám. Ngày mười chín, giờ Tuất, trời mưa, một mảnh sắt, người cầm họ Đàm, hai lạng, dấu kim một nét ngang ba chấm.

Quan phủ doãn hỏi: “Sổ đâu?”

“Sổ cháy rồi ạ.”

“Vậy cô lấy đâu ra?”

“Trong đầu cháu ạ.”

Cả công đường cười.

Ngụy Thường Sinh không cười.

Ông chỉ thở dài, rất khẽ, cái tiếng thở dài của một ông già thương cháu.

“Bẩm đại nhân.” Ông nói. “Con bé này thảo dân bế từ năm nó lên mười. Cha nó vỡ nợ, thảo dân đặt bạc lên quầy nhà nó, không lấy một đồng lãi. Tám năm nay nó gọi thảo dân là bác.”

“Ba tháng trước nó gả vào Vĩnh Xương Bá phủ. Cả kinh thành biết Bá phủ ấy còn cái gì. Bây giờ nó đứng đây, đọc thuộc lòng một quyển sổ đã thành tro, để tố cái người đã cứu nhà nó.”

Ông quay sang ta. Mắt ông đỏ hoe.

“A Trân. Người ta xui con cái gì?”

Ta thấy cả công đường nghiêng đi.

Nghiêng về phía ông.

Không phải vì ông giỏi cãi. Vì trong ba mươi năm, ông đã bỏ tiền dựng lại nửa cái phố này, và ai cũng nhớ.

Đó là thứ ông đã mua. Ông mua từ lâu rồi. Ông trả sòng phẳng.

“Đại nhân.” Ta nói. “Cháu xin trình một vật.”

Người ta khiêng vào một cái hộp gỗ tử đàn.

Quan phủ doãn cho người lấy nó từ thư phòng Ngụy Thường Sinh, theo đơn xin của ta. Ông không cản. Ông chẳng cản cái gì cả.

“Cái hộp này,” ta nói, “tháng bảy năm Cảnh Hòa hai mươi, có người đem tới Nhất Ngôn Đường cầm năm lạng, kỳ hạn hai năm. Cha cháu nhận. Tiểu nhị khắc dấu tiệm vào mép đáy. Hai tháng trước cháu bán nó cho Thông Nguyên trong một lô hàng quá hạn.”

“Vậy thì nó là của ta.” Ngụy Thường Sinh nói. “Con bán, ta mua. Có gì sai?”

“Không sai ạ.”

Ta lật cái hộp lên, để mép đáy hướng ra ngoài.

“Chỉ có một chuyện. Dấu tiệm nhà cháu bị mài đi rồi.”

Cả công đường nhoài tới nhìn.

Gỗ tử đàn đen như mực. Dưới ánh nến, mép đáy nhẵn thín, chẳng ai thấy gì cả.

“Có mài đâu?” Có người kêu lên.

“Đâu, có gì đâu?”

Ngụy Thường Sinh không nói. Ông chỉ nhìn ta.

Và trong một khắc rất ngắn, ta thấy ông hơi nhíu mày — không phải vì sợ.

Vì bực.

Ông đã bảo thằng thợ mài kỹ. Ông đã tự soi. Ông không thấy gì.

Ông ghét cái cảm giác có một sai số nằm đâu đó mà ông không tìm ra.

“Đại nhân.” Ta nói. “Cháu xin gọi cha cháu.”

Người ta dắt cha ta vào.

Ông đi chậm, tay đặt lên vai lão bộc, áo vải, tóc bạc, mắt đục.

Cả công đường im bặt.

“Tô Bình.” Quan phủ doãn nói. “Ông mù?”

“Bẩm, ba năm rồi ạ.”

“Vậy ông làm chứng cái gì?”

Cha ta không đáp.

Ông chỉ chìa hai bàn tay ra.

Người ta đặt cái hộp vào tay ông.

Ta đứng nhìn.

Đôi bàn tay ấy, cả đời ta nhìn nó lần qua mấy vạn món đồ. Móng cắt ngắn sát. Đầu ngón chai một lớp mỏng.

Ngón trỏ ông chạm vào nắp trước. Rồi vân gỗ. Rồi cạnh. Rồi bản lề.

Chậm. Đều.

“Bản lề bên trái cứng.” Ông nói. “Ngày ấy đã cứng rồi. Ta có nhỏ vào một giọt dầu, khách bảo thôi đừng, cứ để thế.”

Ta thấy Ngụy Thường Sinh ngồi thẳng người lên.

Tay cha ta lật cái hộp, rà xuống mép đáy.

Rồi dừng.

Ông rà đi rà lại chỗ ấy ba lần.

“Chỗ này,” ông nói, “bị mài.”

Cả công đường ồ lên.

“Ông nói bậy!” Có kẻ kêu. “Nhẵn thín, ai thấy gì đâu!”

Cha ta ngẩng đầu lên.

Đôi mắt đục ấy chẳng nhìn ai cả.

“Thưa các vị.” Ông nói. “Gỗ này người ta bào bằng tay. Bào tay thì thớ gỗ chạy một chiều, sờ xuôi thì trơn, sờ ngược thì gợn. Chỗ này sờ xuôi cũng trơn, sờ ngược cũng trơn.”

“Chỗ này không phải do bào. Chỗ này do mài. Mài bằng đá mịn, mài lâu, mài kỹ, mài đến mức mắt không còn thấy được nữa.”

Ông đưa cái hộp trả lại, rất tử tế, hai tay.

“Người ta làm giả để lừa mắt.” Ông nói. “Không ai làm giả để lừa tay.”

Công đường lặng ngắt.

Quan phủ doãn cho người đem tới mười cái hộp tử đàn, mua vội ngoài chợ, giống nhau như đúc, trộn cái của Ngụy vào giữa.

Cha ta sờ hết mười cái.

Ông sờ hết đúng một khắc.

Rồi ông đẩy chín cái sang một bên, và giơ cái thứ mười lên.

Ngụy Thường Sinh vẫn ngồi im.

Ông vẫn chưa thua. Ta biết. Ông cũng biết.

Vì chứng minh có người mài dấu tiệm khỏi cái hộp thì chứng minh được gì? Chứng minh có kẻ muốn giấu. Kẻ ấy là ai, sổ nào ghi?

Sổ cháy rồi.

“Đại nhân.” Ta nói. “Cháu xin đọc sổ.”

Quan phủ doãn nhíu mày. “Cô lại—”

“Không phải tháng tám ạ.” Ta nói. “Cháu xin đọc từ đầu.”

Ta bắt đầu đọc.

Ta đọc từ trang thứ nhất, quyển thứ nhất, năm Nguyên Hựu thứ tư, ngày cụ nội ta treo biển.

Một cái cày. Người cầm: Trương Đại. Ba trăm văn. Chuộc sau mười một ngày.

Một tấm áo bông. Người cầm: bà Lý ngõ Tây. Tám mươi văn. Không chuộc.

Ta đọc.

Công đường im. Quan phủ doãn im. Người xem im.

Ta đọc ba mươi năm.

Ta đọc những cái vòng bạc, những tấm áo bông, những cái cày, những đôi khuyên tai, những con dao thợ mộc, những quyển sách của học trò nghèo. Ta đọc tên người, ngày tháng, số tiền, tha bao nhiêu văn lãi.

Ta đọc bằng cái giọng ta vẫn đọc mỗi tối, bên ngọn đèn, cho một người mù nghe.

Cha ta ngồi bên, đầu hơi cúi, và cứ mỗi dòng, ông lại gật một cái. Rất khẽ.

Hai người. Một quyển sổ đã thành tro.

Ta đọc đến năm Cảnh Hòa thứ mười.

Ngày mồng bốn tháng ba. Thông Nguyên thương hội đem cầm một đôi chân đèn đồng. Nhận sáu mươi lạng.

Ta đọc tiếp.

Ngày mười tám tháng năm. Thông Nguyên thương hội chuộc lại đôi chân đèn. Trả sáu mươi lạng, thêm tiền lãi hai lạng bốn.

Ta ngừng một nhịp.

“Hai lạng tư.” Ta nói.

“Hai lạng sáu.”

Cả công đường quay lại.

Ngụy Thường Sinh ngồi trên ghế, chuỗi hạt trong tay còn đang lắc lư.

Ông vừa mở miệng.

Ông cũng vừa nhận ra ông đã mở miệng.

Ta không quay sang ông.

Ta chỉ nói, rất khẽ, đủ cho cả công đường nghe:

“Bác nói đúng ạ. Hai lạng sáu.”

“Cháu đọc lệch hai lạng.”

Không ai nhúc nhích.

Quan phủ doãn từ từ đặt chén trà xuống.

“Ngụy đông gia.” Ông nói. “Ông vừa sửa cho cô ta.”

Ngụy Thường Sinh không đáp.

“Sổ Nhất Ngôn Đường ba đời.” Ta nói. “Cháy hôm kia. Trên đời này người thuộc nó có hai: cha cháu, và cháu.”

“Cháu chưa từng cho bác xem sổ. Cha cháu càng không. Bác đã ba lần đòi mua tiệm, ba lần cha cháu không bán — cái sổ ấy bác chưa từng được sờ vào.”

Ta quay lại nhìn ông.

“Vậy bác thuộc nó lúc nào?”

Ngụy Thường Sinh ngồi rất thẳng.

Mặt ông không đổi. Chuỗi hạt trong tay ông dừng lại.

“Ba năm trước, có ba người vào tiệm nhà cháu giữa đêm. Họ không đập cửa. Họ có chìa.”

“Đêm ấy họ ngồi trong tiệm rất lâu. Họ tìm một trang sổ. Muốn tìm một trang trong ba đời sổ, người ta phải đọc.”

“Bác đọc suốt một đêm, đúng không ạ?”

Ta nghe giọng mình vỡ ra ở chữ cuối.

“Bác đọc quyển sổ nhà cháu suốt một đêm. Rồi sáng ra bác lấy mắt cha cháu.”

Ngụy Thường Sinh nhìn ta.

Ông nhìn rất lâu.

Rồi ông làm một việc mà đến giờ ta vẫn còn mơ thấy.

Ông cười.

Không phải cười gằn. Không phải cười khinh.

Ông cười đúng cái kiểu ông vẫn cười khi ta mặc cả thắng ông một món hàng, hồi ta mười ba tuổi — cái cười của một ông già nhìn con bé nhà mình lớn.

“Hai lạng sáu.” Ông nói. “Ta không chịu được sai số, A Trân ạ.”

“Ta đã dạy con cái đó.”

Ba ngày sau, ta vào nhà lao thăm ông.

Ta không định đi. Chân ta tự đi.

Ngụy Thường Sinh ngồi trong đó, vẫn áo đoạn nâu, vẫn tóc chải mượt. Người ta chưa dám bạc đãi ông — Thông Nguyên còn chưa bị tịch biên, mà chủ nợ của nửa kinh thành thì chẳng ai muốn đắc tội.

Thấy ta, ông ngẩng lên.

“A Trân.”

Ta không đáp.

Ông gật gù, như thể ta có đáp hay không cũng nằm trong tính toán của ông cả.

Rồi ông nói:

“Tưởng Kính Chi.”

Ta sững người.

“Bây giờ là Các lão. Ba năm trước là Thượng thư bộ Binh.” Ông nói, thản nhiên như đọc một dòng sổ. “Bẩm văn của Bùi tướng quân gửi về, qua tay ông ta.”

“Bác…” Giọng ta khô khốc. “Cháu có mặc cả với bác đâu.”

“Ta biết.” Ngụy Thường Sinh nhìn ta. “Ta ra giá. Con không mặc cả. Nhưng ta đã ra giá rồi.”

“Ta làm nghề sáu mươi năm, A Trân. Ta chưa từng nhận tiền mà không giao hàng.”

Ta đứng đó, tay bám vào chấn song, và ta chẳng biết mình đang cảm thấy cái gì nữa.

“Con giận ta.” Ông nói. “Được thôi.”

“Nhưng con nghe ta một câu cuối. Con lên đó, con nhìn cho kỹ.”

“Rồi con về, con nói cho ta biết — giữa ta với ông ta, ai mới là đồ giả.”

Phủ Các lão ở phố Thanh Vân, cổng không sơn son, không sư tử đá, chỉ có hai cây hòe già.

Tưởng Kính Chi tiếp chúng ta trong thư phòng.

Ông chừng bảy mươi, gầy, áo vải, tay cầm một quyển sách. Trên bàn có một chén trà đã nguội và một cái bánh chưa ăn hết.

Ông nhìn Bùi Yến rất lâu.

“Ta nhớ cậu.” Ông nói. “Năm ngoái. Bữa cơm ở Thúy Vân Lâu.”

“Vâng.” Bùi Yến đáp.

“Cá ngon.”

“Một nghìn hai trăm lạng.” Bùi Yến nói. “Cái nghiên mực tiên đế ban cho ông nội tôi.”

Tưởng Kính Chi đặt quyển sách xuống.

Ông không giật mình. Ông không chối. Ông chỉ ngồi im một lúc, rồi thở ra.

“Ngồi đi.” Ông nói.

Đại lý tự mở kho hồ sơ bộ Binh mất bốn ngày.

Không ai giấu nó cả.

Đó là điều ta không bao giờ quên.

Không có mật thất. Không có ngăn kép. Không có ai đốt gì. Tờ bẩm văn của Định Bắc tướng quân Bùi Trọng Yêm nằm trong hộp hồ sơ số bốn mươi bảy, năm Cảnh Hòa hai mươi, xếp đúng thứ tự, buộc dây đúng kiểu, có triện vào sổ, có chữ ký người nhận, có ghi ngày giờ.

Ba năm nay nó nằm đó. Sạch sẽ. Ngay ngắn.

“Thần Bùi Trọng Yêm kính bẩm: lô giáp mới nhận, thần đã tự tay cân, tự tay đo. Mỏng hơn quy chế hai phân. Sắt non. Thần đã ba lần xin đổi, ba lần không được trả lời. Thần xin lấy đầu mình bảo đảm: thứ này ra trận thì ba nghìn người của thần không giữ nổi ải.”

Ở góc trên bên phải, bằng bút son, có bốn chữ.

Chờ sau hãy bàn.

Vọng Sa thất thủ hai mươi mốt ngày sau đó.

Không có “sau”.

Ta đứng trong kho hồ sơ, tay cầm tờ giấy, và ta nhìn sang tờ thứ hai trong cùng cái hộp — tờ phán quyết sau trận.

Cũng bằng bút son. Cũng bốn chữ.

Khinh địch, thất thủ.

Cùng một nét bút.

“Ta có đọc.” Tưởng Kính Chi nói.

Chúng ta ngồi trong thư phòng ông. Trà ông rót cho chúng ta đã nguội.

“Ta đọc rất kỹ. Ta còn cho gọi người của bộ Công tới hỏi.” Ông nói. “Ta biết Bùi Trọng Yêm không phải hạng nói bừa. Ông ấy nói giáp mỏng, thì giáp mỏng.”

Bùi Yến ngồi bên cạnh ta.

Chàng không nhúc nhích. Ta không dám nhìn sang.

“Vậy vì sao ông phê bốn chữ ấy?” Ta hỏi.

Tưởng Kính Chi nhìn ta.

“Cô là con gái tiệm cầm đồ.”

“Vâng.”

“Vậy cô hiểu.” Ông nói. “Ta ngồi ở cái ghế ấy, ta cầm tờ giấy ấy, và ta phải ra một cái giá.”

“Ta mở vụ này ra, thì mở cái gì? Ba nghìn bộ giáp là một lô. Sau lô ấy còn tám mươi lô nữa, rải khắp chín trấn, suốt mười hai năm. Kéo một sợi thì cả tấm lưới lên. Bộ Binh, bộ Công, bộ Hộ, ba mươi bảy người, trong đó có hai người là thầy ta.”

“Đang chiến sự. Bắc phương chưa yên. Mở vụ ra, quân tâm loạn, người ngoài biên ải không tin nổi cái áo giáp trên lưng mình nữa. Cô có biết một đạo quân không tin cái giáp của nó thì thua nhanh cỡ nào không?”

Ông nói cái đó rất bình thản.

“Ta tính. Mở ra: mất chín trấn, mất ba mươi bảy người, mất hai năm rối loạn, có thể mất cả biên ải.”

“Đóng lại: mất một lão tướng, và ba nghìn người.”

Ông nhấp một ngụm trà nguội.

“Ta không ăn một đồng nào, cô ạ. Không một đồng. Cô cứ đi tra. Nhà ta không có nổi một cái bình đáng trăm lạng.”

“Ta chỉ tính. Và ta tính đúng.”

Bùi Yến đứng dậy.

Ta tưởng chàng sẽ giết ông ta.

Chàng không.

Chàng chỉ đứng đó, nhìn ông già ngồi trong cái thư phòng trống trơn, uống trà nguội, ăn dở một cái bánh.

Rồi chàng ngồi xuống lại.

Ta hiểu.

Ba năm chàng đi tìm một con quỷ. Chàng bán cả cái nhà mình để mua một con quỷ.

Và ở cuối con đường là cái này.

“Cô.” Tưởng Kính Chi quay sang ta. “Cô làm nghề định giá. Nói cho ta nghe. Ta tính sai chỗ nào?”

Ta ngồi đó rất lâu.

Trong đầu ta, cái bàn tính chạy.

“Ông tính đúng cả ạ.” Cuối cùng ta nói.

Ông gật đầu.

“Ông chỉ quên đúng một khoản.”

“Khoản gì?”

“Lãi ạ.”

Tưởng Kính Chi ngẩng lên.

“Ông làm quan, ông không biết cũng phải.” Ta nói. “Tiệm cầm đồ nhà cháu ba đời, cháu nói ông nghe cái quy củ đầu tiên: món nào cầm cũng có lãi. Ông cầm một thứ hôm nay, ông tính giá hôm nay. Nhưng ông không chuộc. Ông để đấy.”

“Ba năm rồi, ông ạ.”

Ta bẻ ngón tay tính cho ông nghe. Ta vẫn tính như thế từ năm mười tuổi. Ta không biết tính kiểu khác.

“Ngày ấy ông nợ ba nghìn người ở Vọng Sa, cộng một lão tướng.”

“Ba năm sau, ông nợ thêm: một ông cai kho tên Hạ Nguyên, chết dưới giếng ở Bình Châu. Một cái xưởng bốn mươi miệng ăn, cháy ngày mười một tháng mười một. Một cái tiệm cầm đồ ba đời, cháy hôm kia. Một đôi mắt của một ông già không dính dáng gì. Một ông thợ già tự chặt ngón tay mình, ngồi vá nồi trong miếu đổ ba năm. Bốn mươi mốt món đồ trong một cái phủ, mỗi món là một cái tang.”

“Và một người tên Ngụy Thường Sinh, người mà nếu ông phê hai chữ tra xét thay vì bốn chữ chờ sau hãy bàn, thì ba năm trước đã bị chém rồi, chứ không kịp lớn thành cái thứ ông ta bây giờ.”

Ta ngẩng lên nhìn ông.

“Ông cầm một món đồ ba năm, không chuộc, không trả lãi. Bây giờ ông ra tiệm, ông định trả đúng cái giá hôm ấy à?”

“Ông trả không nổi nữa đâu, ông ạ.”

Tưởng Kính Chi ngồi im.

Rất lâu.

Nắng chiều qua song cửa rọi xuống mặt bàn, lên chén trà nguội, lên cái bánh ăn dở.

Rồi ông làm một việc ta không ngờ.

Ông cúi đầu.

“Ta trả không nổi.” Ông nói. “Cô nói đúng.”

Ta tưởng ta sẽ thấy hả.

Ta không thấy gì cả.

Ông ngẩng lên. Mắt ông đục, giống mắt cha ta, chỉ khác là còn nhìn thấy.

“Nhưng cô nghe ta hỏi một câu.” Ông nói. “Câu này ta hỏi thật, không phải để cãi.”

“Năm ấy cô mười lăm tuổi. Giả sử người ta bế cô đặt vào cái ghế của ta. Đưa cô tờ giấy ấy. Cho cô một khắc để phê.”

“Cô có chắc cô sẽ phê khác ta không?”

Ta mở miệng.

Rồi ta không nói được gì.

Vì hai tháng trước, ta chỉ vào một cái rổ hàng ế, ta bảo “đồ vụn cả”, và ta bán bốn trăm lạng lấy một lạng.

Ta không gian. Ta không tham. Ta chỉ bận.

Ta chỉ không buồn cúi xuống soi.

Ta ngồi trong thư phòng Các lão Tưởng Kính Chi, và lần đầu tiên trong đời, ta hiểu ra một chuyện làm ta lạnh sống lưng hơn cả cái đêm nhìn thấy cây trâm giả:

Người ta không cần là quỷ mới giết được ba nghìn người.

Người ta chỉ cần bận.

Chúng ta đi bộ về.

Không phải vì Bá phủ không còn ngựa — lúc ấy Thông Nguyên đã tịch biên, quan phủ doãn đã cho người dắt tới cổng nhà ta hai con ngựa tốt, gọi là bồi thường.

Chỉ là chàng không lên ngựa. Nên ta cũng không.

Phố Thanh Vân dài, hai bên trồng hòe. Đi được nửa đường thì trời chuyển tối.

“Bùi Yến.”

“Ừ.”

“Chàng thấy bõ không?”

Chàng đi thêm chừng mười bước nữa.

“Bốn mươi mốt món.” Chàng nói. “Cái nghiên mực của ông nội ta. Con ngựa cha ta cưỡi ra ải. Bức Thu Sơn Đồ mẹ ta thích nhất — bà ngồi trước nó cả buổi chiều, ta còn nhớ.”

“Ba năm.”

Chàng ngừng.

“Đổi được một dòng chữ trong một cái hộp hồ sơ.”

Chàng không nói câu nào nữa.

Ta cũng không hỏi nữa.

Trong nghề của ta, có những món khách đem tới quầy mà mình biết ngay là mình không ra giá được. Không phải vì nó quá đắt. Vì nó không nằm trên cái thang mình có.

Gặp món ấy, cha ta dạy: đừng ra giá. Cứ đứng đấy với người ta.

Ta đi sát vào một bước, và ta nắm lấy tay chàng.

Bàn tay ấy còn quấn vải. Chai ở đốt thứ hai ngón trỏ, ngón giữa. Vết của người cầm bút.

Chàng không quay sang.

Nhưng chàng siết lại.

Chúng ta đi hết phố Thanh Vân như thế, hai đứa tay quấn vải, không nói gì, dưới hai hàng hòe đang rụng.

(Bùi Yến)

Ta nhớ lần đầu ta nhìn thấy nàng.

Hôm ấy mưa.

Ta cầm một cái túi vải thô trong ngực áo, trong túi là một mảnh sắt ta mua ba đồng ở hàng sắt vụn ngoài cửa Đông. Ta đã đem nó đi hỏi bốn cái tiệm. Ba tiệm bảo sắt vụn. Tiệm thứ tư, một lão chưởng quầy soi nửa canh giờ, rồi chỉ vào mép trong.

“Một nét ngang, ba chấm.” Lão nói. “Dấu của Nhất Ngôn Đường, phố Vĩnh Hòa. Cái này từng qua tiệm ấy.”

Ta đi tới đó ngay chiều hôm ấy.

Ta không vào. Ta đứng ngoài, dưới hiên nhà đối diện, để xem cái tiệm ấy là hạng gì.

Trong tiệm có một ông chưởng quầy mù ngồi sau quầy.

Và có một cô nương.

Cô ta chừng mười bảy mười tám, xắn tay áo, cầm một cây nến, đang soi cái bình cho một ông khách béo. Soi xong, cô ta đặt bình xuống, nói đúng một chữ:

“Giả.”

Ông khách nhảy dựng lên. Chửi. Đập bàn. Bảo cái bình này ông ta mua ba trăm lạng ở phố Chu Tước, tiệm to gấp mười tiệm này.

Cô nương ấy chẳng buồn cãi.

Cô ta chỉ đẩy cái bình về phía ông ta, rồi nói:

“Chú cứ đem sang tiệm khác. Tiệm khác nói thật, chú quay lại mắng cháu.”

Ông khách ôm bình đi.

Cô ta cúi xuống, tiếp tục lau quầy.

Ta đứng dưới mưa, nhìn cái tiệm bé tí ấy, và ta nghĩ:

Ba năm nay ta bán cả cái nhà mình để mua sự thật. Ta mua ở những tiệm to. Ta mua bằng nghìn lạng. Ta mua toàn hàng giả.

Còn ở đây, một con bé lau quầy vừa cho không một ông khách lạ cái sự thật ba trăm lạng, và nó không thèm lấy một đồng.

Hôm ấy ta tới để tra một cái tiệm.

Ta ra về với một quyết định cưới người ta.

Ngụy Thường Sinh bị xử trảm mùa thu năm ấy. Thông Nguyên thương hội tịch biên.

Trong kho của ông ta, người ta tìm thấy ba món đồ của mẹ ta: một cây trâm phượng, một cái vòng ngọc, một cái hộp gỗ.

Ông ta không hủy chúng.

Ta hỏi Tô Trân vì sao. Nàng nghĩ một lúc, rồi nói: “Vì nó đẹp.”

Tưởng Kính Chi dâng sớ tự nhận tội. Bốn ngày sau có chỉ: cách chức, tước hàm, trí sĩ về quê.

Không chém.

Ba mươi bảy người trong lưới, xử hai mươi, còn lại giáng, điều, cho về.

Cha ta được minh oan. Bốn chữ khinh địch, thất thủ xóa khỏi hồ sơ, thay bằng một dòng dài hơn, tử tế hơn, và chẳng nói lên được cái gì cả.

Ta đứng trong Đại lý tự nghe người ta đọc cái dòng ấy, và ta nghĩ:

Bốn mươi mốt món. Ba năm. Cái nghiên mực của ông nội, cặp chén ngọc, con ngựa của cha, bức Thu Sơn Đồ mẹ ta thích nhất.

Ta bán tất cả để mua một dòng chữ trong một cái hộp hồ sơ mà không ai đọc.

Có kẻ hỏi ta thế thì bõ không.

Ta chẳng biết trả lời thế nào.

Ba nghìn người kia vẫn nằm dưới cát. Chẳng có bốn chữ nào đào họ lên được.

Đàm lão bị xử.

Ta xin quan một chuyện.

Ta xin đừng lưu ông đi Lĩnh Nam. Ta xin đổi án: bắt ông khắc tên ba nghìn người ở Vọng Sa lên một tấm bia đồng, khắc xong mới được chết.

Quan hỏi ta thế là nặng hay nhẹ.

Ta bảo ông ấy tự biết.

Bia dựng ở ngoài cửa Bắc, chỗ đường ra ải.

Mùa đông năm ngoái ta ra xem. Ông lão ngồi đó, chân quấn giẻ, tay phải cụt ngón cái, kẹp cái đục vào kẽ tay, giơ búa lên.

Cạch.

Cạch.

Cạch.

Ta đứng nghe suốt một canh giờ.

Ba năm trước, ta đứng trên tường thành Vọng Sa nghe đúng cái tiếng ấy suốt một đêm. Ba nghìn lần.

Bây giờ nó cũng vang ba nghìn lần.

Ta không biết gọi cái đó là gì. Ta chỉ biết ta đứng đấy, và lần đầu tiên trong ba năm, ta nghe cái tiếng ấy mà không phải quay mặt đi.

Nhất Ngôn Đường dựng lại mùa xuân.

Vẫn phố Vĩnh Hòa. Vẫn ba gian. Biển hiệu khắc lại theo đúng nét cụ nàng, gỗ lim, sơn son.

Ngày treo biển, nhạc phụ ta bảo bắc thang.

Ông trèo lên — một ông già mù, bảy mươi tuổi, cả phố đứng dưới thót tim — rồi ông đưa tay lên, sờ.

Ông sờ từng nét một. Chậm. Đều.

Ba chữ, ông sờ hết một khắc.

Rồi ông gật đầu.

“Đúng nét cụ.” Ông nói. “Cái móc chữ Đường hơi cụt. Cụ ta khắc hụt, chửi thề, rồi lười không sửa.”

Cả phố cười ầm.

Mắt ông không chữa được. Ta đã hỏi khắp. Có người bảo còn cách, có người bảo thôi đừng hành ông cụ.

Tô Trân bảo thôi.

“Cha ta nhìn bằng tay tám năm nay rồi.” Nàng nói. “Ông nhìn rõ hơn ta.”

Ta trả nàng cây trâm phượng thật.

Nàng cầm lên, xoay dưới nắng một vòng, ngắm hai viên hồng bảo thạch thật đỏ như máu.

Rồi nàng cất nó vào hộp, đóng nắp lại.

Và cắm cây trâm giả lên đầu.

Ta không hỏi.

Ta biết giá của nó.

Đêm sau phiên xử ở phủ doãn, nàng ngồi trên bậc thềm, ăn kẹo mạch nha, chân đung đưa.

“Bùi Yến.”

“Ừ.”

“Ta tính lại cuộc mua bán hồi tháng ba rồi.”

Ta ngồi xuống cạnh nàng. Cách một khoảng.

“Rồi sao?”

“Ta hớ.”

Ta không nói gì.

“Hớ nặng.” Nàng nói, mắt nhìn thẳng ra sân, tai đỏ ửng. “Ta tưởng ta mua một tấm biển hiệu. Hóa ra ta trả tiền một tấm biển hiệu mà vác về một đống nợ, một vụ án, một cái tiệm cháy, với một thằng chồng ba năm không ngủ.”

“Ừ.”

“Nhưng ta không trả hàng.”

Ta ngồi đó, giữa đêm, trong cái phủ trống trơn còn bốn mươi mốt món đồ giả.

Và ta nghĩ: cả đời ta chưa mua được món nào lời như thế.

Người trong thành đến giờ vẫn kể: năm ấy Vĩnh Xương Bá phủ sắp sập, ông Bá gia nát rượu cưới về một con bé tiệm cầm đồ. Cả kinh thành bảo con bé ấy hớ. Rồi chẳng hiểu sao, hai đứa nó lật cả một vụ án ba nghìn mạng người, chém một đại thương gia, đuổi một Các lão về quê, cuối cùng mở tiệm cầm đồ lớn nhất kinh thành.

Thỉnh thoảng có kẻ chắp tay, cười cười hỏi ta:

“Bá gia, nghe nói năm xưa ngài bán sạch cả cái phủ cơ mà?”

Ta liền nhìn sang bên kia quầy.

Ở đó có một người đàn bà xắn tay áo, cầm cây nến, đang soi một cái bình cho ông khách béo — vẫn ông khách ấy, năm nào cũng vác tới một cái bình, năm nào cũng bị nàng nói đúng một chữ.

“Bán sạch.” Ta đáp. “Bốn mươi mốt món.”

“Mua được có một món.”

“Ta lời.”

© Vườn Truyện. Một sản phẩm của Oriole