Thông tin truyện

Thiên Kim Thật Biết Xem Bói

Đánh giá
  • Lượt xem:
  • 0
  • Số chương:
  • 0

Ngày đầu tiên ta được nhận về An Bình Hầu phủ, giả thiên kim được nuôi dưỡng trong phủ mười sáu năm đã làm mất một chiếc ngự tứ kim trâm.

Nàng ta đỏ hoe mắt nói người cuối cùng xuất hiện trong phòng là ta. Phụ thân sai người lục soát viện, mẫu thân khuyên ta nên hiểu chuyện một chút, đừng làm mất mặt Hầu phủ.

Ta bấm ngón tay nhìn sang nha hoàn đang tái mặt bên cạnh nàng ta, mỉm cười báo ra một địa chỉ.

“Chiếc trâm ở dưới viên gạch xanh thứ ba tại cửa góc phía tây. Còn nữa, tình lang mà ngươi hẹn tối qua, tốt nhất nên mời đến cùng luôn đi.”

1.

Ta là Giang Thê Nguyệt, chân thiên kim của An Bình Hầu phủ bị thất lạc bên ngoài.

Ngày được Hầu phủ đón về kinh, xe ngựa vừa dừng lại, ta còn chưa kịp nhìn thoáng qua cánh cửa sơn son thì đã có người nhét vào tay ta một bánh xà phòng thơm.

Quản sự ma ma nhíu mày, giọng hạ thấp xuống: “Cô nương hãy lau tay trước đi. Phu nhân trọng quy củ nhất, lát nữa vào cửa thì bớt nói chuyện, đừng nhìn đông ngó tây.”

Ta cúi đầu nhìn lòng bàn tay. Đường núi đi suốt nửa tháng, kẽ tay quả thực có dính chút bụi bặm. Xà phòng thơm lại đưa quá vội, tựa như có người sợ ta làm bẩn ngưỡng cửa Hầu phủ. Bà ta đang nhắc nhở ta: dù mang danh là cô nương, trên người ta vẫn vương lại hơi thở núi rừng không thể gột rửa.

Ta nhét bánh xà phòng vào tay áo, mỉm cười rất khách khí: “Đồ tốt, để dành rửa vàng.”

Ma ma nghẹn họng.

Sư phụ thường dạy, con người sống ở cái miệng, gặp kẻ âm dương quái khí, có thể đáp trả ngay lập tức thì đừng để dành.

Để lâu hại gan, gan hỏa vượng thì bói toán cũng dễ bị lệch.

Trong tiền sảnh ngồi sẵn phụ thân ta là Giang Sùng và mẫu thân là La thị. Y phục của họ không một nếp nhăn, vẻ hổ thẹn trên mặt lại treo rất chỉnh tề. Đặc biệt là La thị, vừa thấy ta tiến vào đã đỏ hoe mắt, nắm tay ta nói những năm qua đã khổ cho ta rồi.

Ta không vạch trần.

Dù sao bàn tay bà ta lạnh ngắt, là thật sự khẩn trương. Bà ta sợ ta oán trách, cũng sợ người kinh thành chê cười việc bà ta để lạc mất con gái ruột suốt mười sáu năm. Lòng người là thứ không thể chỉ nhìn vào sự ngọt đắng trên đầu môi, mà phải xem họ sợ mất đi điều gì nhất.

Điều bà ta sợ nhất, chưa bao giờ là việc ta có chịu khổ hay không, mà là thể diện của Hầu phủ.

Cô nương ngồi cạnh La thị tên là Giang Chiếu Vi. Nàng ta mặc váy màu đỏ nước, trên đầu cài một chiếc phượng vĩ trâm bằng vàng ròng, khuôn mặt nhỏ chỉ bằng bàn tay, thấy ta nhìn sang liền lập tức đứng dậy hành lễ.

“Tỷ tỷ dọc đường vất vả rồi, muội đã sớm sai người dọn dẹp xong Thính Tuyết Viện. Sau này tỷ tỷ có gì không hiểu, cứ việc đến hỏi muội.”

Nàng ta cười dịu dàng, ánh mắt lại như cầm một chiếc thước kẻ, quét từ chiếc váy vải thô của ta xuống tới tận đế giày.

Ta cũng mỉm cười với nàng ta: “Được thôi. Vậy ta hỏi muội một câu, chiếc phượng vĩ trâm này đeo có nặng không?”

Sắc mặt nàng ta tái nhợt, theo bản năng đưa tay sờ lên mái tóc.

La thị không hiểu, chỉ tưởng ta ngưỡng mộ trang sức, vội gọi người mở kho, nói muốn chọn cho ta vài kiểu dáng mới.

Ta lắc đầu: “Không cần, ta có chiếc trâm gỗ đào sư phụ để lại, trừ tà.”

Nụ cười của Giang Chiếu Vi cứng đờ trong chốc lát.

Chiếc phượng vĩ trâm đó dính đầy oán khí của nàng ta. Gần đây nàng ta dựa vào nó để đè ép người khác, trong lòng lại sợ không đè nổi. Tâm tư đó lộ hết ra ngoài đuôi mày, giấu không cao minh chút nào.

Đêm đó, ta vừa chìm vào giấc ngủ tại Thính Tuyết Viện thì bị tiếng đập cửa dồn dập đánh thức.

Hai mụ bồi thô kệch xông vào, theo sau là La thị và Giang Sùng với sắc mặt khó coi.

Giang Chiếu Vi khoác áo ngoài, nước mắt rơi rất nhịp nhàng, như thể đã tính toán xem giọt nào dễ gây thương cảm nhất.

“Tỷ tỷ.” Nàng ta cắn môi, “Chiếc ngự tứ kim trâm của muội không thấy đâu nữa. Nha hoàn nói, hôm nay chỉ có tỷ tỷ là vào viện của muội.”

Ta ngồi bên mép giường, ngáp một cái: “Vậy thì sao?”

Giang Sùng trầm giọng nói: “Đó là vật Thái hậu ban cho Chiếu Vi, không thể làm mất. Con để người ta lục soát viện đi, nếu là hiểu lầm, phụ thân tự nhiên sẽ trả lại sự trong sạch cho con.”

Lời này nói nghe thật hay. Viện đã lục soát rồi, ngày mai cả phủ đều biết ta từng bị nghi ngờ, sự trong sạch còn lại được mấy lạng?

Ta khoác áo ngoài, ánh mắt vượt qua mọi người, dừng lại trên người một nha hoàn áo xanh đứng sau Giang Chiếu Vi. Nha hoàn kia tên là Xuân Hạnh, mười ngón tay siết chặt khăn tay, trên hổ khẩu tay phải có một vết đỏ tươi mới.

Ta hỏi: “Xuân Hạnh, hôm nay ngươi gặp ai ở cửa góc phía tây?”
Xuân Hạnh thụp xuống quỳ: “Nô tỳ không biết cô nương đang nói gì.”

“Không biết?” Ta thong thả xỏ giày, “Vậy để ta giúp ngươi nhớ lại. Mặc áo ngắn màu nâu, tai trái đeo khuyên đồng, chân đi giày đế mới khâu. Lúc ngươi đưa trâm cho hắn, hắn còn nói, chờ đem đi cầm cố rồi sẽ đưa ngươi rời khỏi kinh thành.”

Nước mắt của Giang Chiếu Vi đọng lại trên mặt.

Sắc mặt Xuân Hạnh lập tức mất hết máu.

Ta chỉ tay ra ngoài cửa sổ: “Chiếc trâm nằm dưới viên gạch xanh thứ ba tại cửa góc phía tây. Sau khi đào lên, hãy gọi tên tình lang kia đến luôn. Việc hắn lẻn vào Hầu phủ, tiện thể tính toán luôn một thể.”

Giang Sùng nhìn chằm chằm vào ta, như thể lần đầu tiên quen biết đứa con gái tìm về từ chốn thôn quê này.

Chẳng bao lâu sau, quản sự bưng chiếc kim trâm dính bùn vào cửa, phía sau áp giải một người đàn ông mặc áo xám. Xuân Hạnh nằm liệt trên đất, khóc lóc nói mình chỉ muốn dành dụm chút của hồi môn, Giang Chiếu Vi đối xử với nàng ta quá khắc nghiệt nên nàng ta mới nhất thời hồ đồ.

Lời này lại đẩy Giang Chiếu Vi vào lò lửa.

Nàng ta vội vàng giải thích, nói tiền tiêu vặt hàng tháng đưa cho Xuân Hạnh chưa bao giờ thiếu. Ta bổ sung thêm một câu: “Thiếu hay không, lật sổ sách ra là biết ngay. Nha hoàn Hầu phủ một tháng nên được bao nhiêu, viện của muội phát bao nhiêu, cứ tra rõ là được.”

Giang Chiếu Vi nhìn ta trừng trừng, trong mắt cuối cùng cũng không còn ngụy trang nữa.

Ta đứng dậy đi tới trước mặt nàng ta, giúp nàng ta phủi tro đèn bám trên vai.

“Muội muội, muốn đội mũ ăn trộm lên đầu ta, trước tiên hãy quản tốt người trong viện mình đi. Muội dùng nàng ta để gài bẫy ta, lại không nỡ cho nàng ta thêm vài đồng tiền, nàng ta tất nhiên sẽ phản giáo ngay lập tức.”

“Lòng người còn đắt hơn chiếc trâm, nước cờ này của muội tính toán lỗ vốn rồi.”

Sắc mặt Giang Sùng đen như đáy nồi. La thị muốn giảng hòa, mở miệng ra, cuối cùng cũng chỉ sai người kéo Xuân Hạnh đi bán.

Ta giơ tay ngăn lại: “Nàng ta trộm đồ, phải đền phải phạt. Nhưng nàng ta là người chịu sai khiến, chủ mưu chưa rõ đã vội bán người, Hầu phủ đây là muốn diệt khẩu cho ai?”

Xuân Hạnh khóc lóc dập đầu, đem chuyện Giang Chiếu Vi hứa hẹn thế nào, sai nàng ta nhét trâm vào viện của ta ra sao đều kể hết sạch.

Giang Chiếu Vi mềm nhũn ngã vào lòng La thị, kêu oan. Nước mắt của La thị cuối cùng cũng có vài phần chân thật, nhưng vẫn theo bản năng bảo vệ nàng ta.

Ta không có hứng thú xem tình thâm mẫu tử, vươn tay về phía Giang Sùng.

“Phụ thân, tiếp đơn nửa đêm, phải thu tiền bói toán.”

Ông ta sững sờ.

Ta nghiêm túc nói: “Nể tình người nhà, đưa mười lượng là được.”

2.

Sau đêm đó, trên dưới Hầu phủ đều biết nhị cô nương mới trở về biết xem bói, còn biết tính toán sổ sách.

Giang Sùng đưa cho ta mười lượng bạc, sắc mặt như thể vừa nuốt phải mười con ruồi.

Hôm sau, La thị phái một ma ma dạy bảo đến, nói ta đã trở về phủ, sau này phải học nữ công, lễ nghi, quản gia, không được nói mấy lời thần thần bí bí kia nữa.

Ta nghe xong, hỏi ma ma: “Học mấy thứ này có tiền công hàng tháng không?”

Ma ma nghiêm mặt: “Hầu phủ cung phụng cô nương ăn mặc, sao cô nương lại mở miệng ra là nói tới bạc?”

“Vậy thôi bỏ đi.” Ta đẩy khung thêu bà ta đưa tới ra, “Việc không có tiền công, ta không nhận.”

Ma ma tức đến run người, chạy đi mách lẻo.

La thị đích thân tới một chuyến, giọng điệu dịu lại rất nhiều: “Thê Nguyệt, mẹ biết con ở bên ngoài chịu khổ, nhưng gia môn như chúng ta, cô nương nhà phải có dáng vẻ của cô nương. Con ở trong viện xem bói cho hạ nhân, truyền ra ngoài thì người ta nhìn Hầu phủ thế nào?”

Ta bày một chiếc bàn vuông nhỏ ngoài hành lang, trên bàn đặt ba đồng tiền cổ và một tấm bảng gỗ viết: “Mỗi quẻ một lượng, người già trẻ nhỏ không lừa dối”.

“Nương, người ngoài nhìn nhận Hầu phủ thế nào, đó là việc của họ. Còn Hầu phủ nhìn nhận ta ra sao, đó mới là việc của ta.”

Sắc mặt La thị trắng bệch.

Ta nói rõ hơn: “Các người đón ta về là vì sợ hoàng thất truy hỏi tung tích năm xưa, cũng sợ người đời chê cười Hầu phủ đối đãi tệ bạc với cốt nhục. Đã muốn ta về gánh vác cái danh phận này, thì đừng có vừa ghét bỏ ta chướng mắt, lại vừa muốn ta che đậy vết nhơ cho các người.”

Bà ta im lặng hồi lâu, chỉ để lại câu: “Tính tình ngươi quá cứng nhắc,” rồi xoay người bỏ đi.

Trong lòng ta chẳng chút gợn sóng. Chuyện tình thân, ta đã nhìn thấu từ khi còn ở trên núi. Sư phụ khi nhặt ta về từng nói, cung phụ mẫu trong mệnh ta quá nhạt, khó mà cầu được sự dịu dàng, chi bằng tự mình chăm sóc bản thân cho tốt.

Hiện giờ ta ăn no mặc ấm, lại còn kiếm được bạc, đã là tốt hơn nhiều so với cảnh trên núi phải đi hái thuốc đổi gạo.

Mở quẻ chưa được mấy hôm, Hồ thẩm trong bếp lén nhét cho ta nửa lượng bạc vụn, hỏi xem nhi tử mất tích của bà có phải bị sòng bạc giữ lại không.

Ta gieo ba đồng xu, nói với bà ấy người không ở sòng bạc mà đang ở lò gạch cũ phía nam thành, chân trái bị thương, bên cạnh có một nam tử mặc áo vải xanh. Hồ thẩm khóc lóc chạy đi, đến chiều liền khiêng nhi tử trở về.

Thiếu niên kia đúng là nợ tiền cờ bạc, nhưng bị đồng bọn lừa đến lò gạch làm khổ sai. Hồ thẩm xách một giỏ bánh bao thịt nóng hổi tới tạ ơn ta, nhất định đòi nhét thêm một lượng bạc.

Ta nhận lấy bạc, còn bánh bao thì chia cho mấy nha hoàn nhỏ đang quét tuyết trong viện.

Sau khi Hồ thẩm tìm được nhi tử, quản sự chuồng ngựa cũng đến hỏi về sổ sách bị mất, mưu sĩ của Giang Sùng cũng lén nhờ ta xem vận thế giúp ông ta. Ngay cả Tần ma ma nghiêm khắc nhất bên cạnh La thị cũng xách theo túi điểm tâm tới hỏi, liệu tôn nữ nhỏ của bà có qua nổi mùa đông này không.

Ta thấy ấn đường bà ta phát ám, liền hỏi xem tôn nữ gần đây có hay ho khan, đêm đến còn khó thở hay không. Tần ma ma gật đầu liên hồi.

“Đừng đốt thứ an thần hương đó trong phòng nữa, bên trong trộn loại trầm thủy rẻ tiền, hun lâu hại phổi lắm. Mở hé cửa sổ, lấy trần bì, xuyên bối sắc thuốc uống, ngày mai tới Hồi Xuân Đường ở phía đông thành tìm đại phu họ Đỗ.”

Ba ngày sau, Tần ma ma quỳ trước cửa phòng ta, nước mắt giàn giụa, nói tôn nữ đã lui sốt.

Từ ngày đó, quầy bói toán của ta không lúc nào ngơi nghỉ.

Giang Chiếu Vi ban đầu còn lạnh lùng quan sát, về sau nghe đám hạ nhân lén gọi ta là “Tiểu Thiên Sư” thì không ngồi yên được nữa. Nàng ta luôn coi Hầu phủ là lãnh địa của mình, giờ đây đến nha hoàn trong viện của nàng cũng thà đi đường vòng tới chỗ ta xếp hàng, tất nhiên nàng ta cảm thấy ta đang cướp đoạt những thứ vốn thuộc về mình.

Một buổi chiều tối sau cơn mưa, cuối cùng nàng ta cũng tới.

Nàng khoác áo choàng trắng trăng, phía sau chỉ theo một nha hoàn thân tín, mở lời liền nói: “Tỷ tỷ, tỷ giúp muội tính một quẻ nhân duyên.”

Ta ngước mắt: “Một trăm lượng.”

Nàng ta tức cười: “Tỷ tính cho hạ nhân chỉ lấy một lượng thôi mà.”

“Hạ nhân hỏi chuyện củi gạo mắm muối.

Ngươi hỏi chuyện Ngũ hoàng tử, dính dáng tới hôn sự hoàng gia, giá cả tất nhiên khác biệt.”

Sắc mặt Giang Chiếu Vi trắng đi một chút, đốt ngón tay đang cầm ngân phiếu cũng cứng lại. Nàng ta không ngờ ngay cả lời chưa nói ra mà ta cũng biết.

Nàng nghiến răng sai nha hoàn dâng ngân phiếu tới.

Ta không nhận ngay, hỏi trước: “Ngươi là thực sự muốn gả cho Ngũ hoàng tử, hay chỉ muốn thắng những quý nữ trong kinh thành?”

Nàng nhìn chằm chằm ta, giọng nói căng thẳng: “Có khác biệt gì sao?”

“Khác biệt lớn lắm. Muốn sống an ổn thì phải nhìn phẩm hạnh và bản lĩnh; muốn thắng người khác thì chọn ai cũng như một ván cược. Ngươi dùng hôn sự để làm chuyện hơn thua, của hồi môn và tâm khí đều dễ dàng đổ sông đổ bể.”

Bàn tay nàng nắm chặt.

Ta bấm đốt ngón tay một lát, viết cho nàng tám chữ: Kim ngọc kỳ ngoại, nê điểu kỳ lý.

“Ngũ hoàng tử trông thì tôn quý, thực chất tính tình lạnh bạc, sổ sách trong phủ thâm hụt nặng nề. Hắn bây giờ đối với ngươi ân cần là muốn mượn thanh danh và tiền bạc của Hầu phủ để bù đắp. Nếu ngươi nhất quyết muốn gả, trong ba năm chắc chắn sẽ bị tiền tài và trắc thất làm cho cạn kiệt tâm trí.”

Giang Chiếu Vi vò nát tờ giấy, cười lạnh: “Tỷ là thấy muội tốt nên không cam lòng.”

“Ta nhận tiền, chỉ nói thật. Tin hay không tùy ngươi.”

Nàng xoay người bước đi, tới cửa lại quay đầu lại: “Tỷ tỷ đã lợi hại như vậy, chi bằng tự tính cho mình xem. Người như tỷ, ai dám cưới?”

Ta cầm tờ ngân phiếu trên bàn, khẽ đung đưa trước mặt nàng.

“Ta khắc phu.”

“Thích hợp nhất là ôm bạc mà sống.”

3.

Giang Chiếu Vi không tin lời ta, ngược lại càng nỗ lực bám lấy Ngũ hoàng tử.

Nàng ta bảo La thị mở tiệc hoa, mời nửa số quý nữ trong kinh thành, chỉ để Ngũ hoàng tử cài hoa cho mình trước mặt mọi người. La thị vốn không muốn mang ta theo vì sợ ta ăn mặc nghèo nàn làm hỏng đại cục. Ta chủ động nói không đi, quay lưng mở đợt “Ưu đãi đặc biệt tiệc hoa” tại Thính Tuyết Viện, tính nhân duyên giảm giá tám phần.

Hôm đó có mười mấy nha hoàn, mụ tử tới, ngay cả người đánh xe nhà bên cạnh cũng lén đưa bát tự qua tường.

Ta đếm bạc rất vui vẻ.

Tiệc hoa tàn, Giang Chiếu Vi lại trở về với khuôn mặt tái mét. Ngũ hoàng tử quả thật có cài hoa cho nàng ta, nhưng quay người lại đem tặng một miếng ngọc bội cho đích nữ nhà Lại bộ Thượng thư.

Nàng ta mất mặt trước đám đông, trở về còn nghe mấy tên hạ nhân nhỏ giọng bàn tán.


Nàng ta xông vào viện của ta, hất tung đống đồng xu trên bàn xuống đất.

“Đều tại tỷ! Tỷ cố ý nguyền rủa muội!”

Ta ngồi xổm xuống, nhặt từng đồng xu lên: “Giang Chiếu Vi, đồ đạc có thể vứt bừa bãi, nhưng cái miệng thì đừng có mọc bậy. Uất ức ngươi chịu hôm nay là do Ngũ hoàng tử ban cho, là do ngươi tự mình muốn bám lấy hắn, liên quan gì tới ta?”

Nàng ta giơ tay định lật tung quẻ bàn của ta.

Ta chộp lấy cổ tay nàng, không dùng quá nhiều sức nhưng đủ khiến nàng không thể động đậy.

“Cái bàn này trị giá hai lượng bạc, quẻ bàn là sư phụ để lại, không bán. Ngươi làm hỏng một món, đền gấp mười.”

“Tỷ buông muội ra!”

“Được.” Ta buông tay, giọng lạnh xuống, “Từ nay về sau, đừng bước vào Thính Tuyết Viện. Nếu ngươi còn làm loạn thêm lần nữa, ta sẽ kể hết chuyện ngươi mấy ngày nay gửi thư cho Ngũ hoàng tử cho phụ thân và mẫu thân nghe.”

Đồng tử nàng co rụt lại.

Ngũ hoàng tử chưa hề cầu chỉ, nàng là nữ tử chưa xuất giá mà thường xuyên lén lút gửi thư, truyền ra ngoài đủ để hủy hoại danh tiếng. Nàng dám làm vì tin chắc không ai biết; ta nói toạc ra là để nàng hiểu ta nhìn thấu, và cũng sẽ không dùng loại chuyện này để bắt nàng cúi đầu.

Nàng ta đi rồi, Tần ma ma lo lắng: “Cô nương, Tam cô nương sợ là sẽ ghi hận người.”

Ta đặt đồng xu trở lại khay: “Nàng ta hận từ lâu rồi. Hận hay không không quan trọng, quan trọng là lần tới trước khi đưa tay ra, nàng ta phải nghĩ xem có đau hay không.”

Không lâu sau, trong cung truyền tin. Hoàng hậu muốn tổ chức yến tiệc thưởng cúc, An Bình Hầu phủ nhận được hai tấm thiệp, chỉ đích danh Giang Chiếu Vi và ta cùng vào cung.

La thị vì chuyện này mà bận tối mắt tối mũi, xuyên đêm bảo thợ may gấp rút làm áo cho ta. Có lẽ bà nghĩ, người trong cung đều biết Hầu phủ tìm được con gái ruột, nếu ta ăn mặc quá sơ sài thì mất mặt vẫn là Hầu phủ.

Ta thử chiếc váy xanh biếc mới làm, chạm vào chất liệu rồi hỏi bà: “Chiếc áo này tốn bao nhiêu bạc?”

La thị cau mày: “Sao lúc nào con cũng hỏi chuyện tiền nong?”

“Biết giá tiền rồi, con mới nỡ làm bẩn.”

Bà bị ta làm cho nghẹn lời, nhưng lại không nhịn được mà cười khẽ. Nụ cười ấy rất ngắn, tựa như giọt tuyết tan bên hiên nhà ngày đông.

Lúc sắp xuất môn, bà chỉnh lại trâm cài trên tóc cho ta, hạ thấp giọng: “Trong cung quy củ nhiều. Nếu có người nói gì con, cứ nhẫn nhịn một chút, quay về nương sẽ làm chủ cho con.”

Ta nhẹ nhàng gỡ tay bà khỏi tóc mai.

“Nương, người khác nói con, con tự làm chủ lấy mình.”

4.

Hoa cúc trong yến tiệc trong cung nở rất rộ, một sắc vàng óng, nhưng trong hương hoa lại trộn lẫn mùi phấn son của các vị phu nhân tiểu thư. Ta ngồi ở hàng ghế cuối, tĩnh lặng ăn hai miếng bánh quế hoa, liền có người tìm tới.

Người tới là Hàn cô nương của Ninh Quốc Công phủ. Nàng nhìn trâm gỗ đào trên tóc ta, cười rất khách sáo: “Nghe nói Giang nhị cô nương giỏi bói toán? Hôm nay Hoàng hậu nương nương đang ở đây, sao không tính toán cho mọi người cùng xem, cũng coi như thêm chút thú vui.”

Mấy cô nương bên cạnh nàng ta cũng cười theo.

Ta nuốt miếng bánh trong miệng, hỏi: “Tính cái gì?”

“Tính xem ai có mệnh tốt nhất.”

Loại câu hỏi này vô vị nhất, người hỏi muốn nghe mình mệnh tốt, người nghe lại muốn xem kẻ khác mất mặt. Ta không thích làm việc thua lỗ.

“Mười lượng một quẻ.” Ta nói.

Nụ cười của Hàn cô nương cứng đờ.

Phía thượng tọa bỗng có tiếng ho khẽ. Ta ngước đầu, nhìn thấy một nam tử trẻ tuổi mặc thường phục màu huyền đen đang bưng tách trà. Hắn không đội vương miện, chỉ có một miếng ngọc bội hình rồng rủ bên hông, người ngoài nhìn hắn lại vô cùng cung kính.

Đó chính là Thái tử Bùi Nghiễn Chi.

Lông mày hắn ngay ngắn, ánh mắt rất tĩnh, như đang nhìn một bàn cờ chưa hạ quân. Ta thấy ngón trỏ tay trái của hắn gõ nhẹ lên mép chén ba cái, liền biết người này chưa chắc tin vào huyền học, nhưng lại nảy sinh hứng thú với ta.

Thái tử mở lời: “Cô xuất một trăm lượng. Giang cô nương hãy tính giúp Cô, ba ngày nữa Đông cung liệu có hỷ sự hay không.”

Xung quanh lặng ngắt như tờ.

Ai cũng biết, chuyện hôn sự giữa Thái tử và đích nữ Hàn gia đã bàn bạc nửa năm nay. Cái gọi là hỉ sự, tám chín phần là ban hôn.

Ta liếc nhìn tướng mạo Thái tử, lại nhìn sang Hàn Quý phi đang nói chuyện cùng Hoàng hậu phía xa. Góc tay áo Quý phi dính một vệt đỏ sẫm cực mảnh, trông như vừa lau tay cạnh hộp ấn nê. Nàng ta cười rất đoan trang, nhưng đầu ngón tay lại xoắn khăn tay đến nhăn nhúm.

Yến tiệc hôm nay, e là không chỉ để ngắm hoa.

Ta tung ba đồng tiền lên bàn.

“Không có hỉ sự.”

Sắc mặt Hàn cô nương thay đổi.

Ta tiếp tục nói: “Hôn sự Đông cung này, không thành được đâu. Nếu Hàn gia còn muốn tự cứu, hãy đi xem biệt viện ở thành Tây trước đi, thứ trong hầm ngầm còn đáng sợ hơn cả một tờ hôn thư đấy.”

Trên bàn tiệc có người hít một hơi lạnh.

Hàn cô nương giận dữ quát: “Ngươi nói bậy bạ!”

Ta nhìn chiếc vòng vàng trên cổ tay nàng: “Mặt trong chiếc vòng khắc bốn chữ ‘Nam Bình mã đầu’. Hàn gia dùng danh nghĩa muối dẫn để buôn lậu quân khí, sổ sách cất trong hầm ngầm biệt viện. Ta tin ngươi không biết, nhưng phụ thân ngươi có biết hay không, Thái tử điện hạ còn rõ hơn ta.”

Tay đang cầm chén trà của Thái tử khựng lại.

Lời này của ta không phải đoán bừa. Trước khi vào cung, có một phu xe chở hàng ngã gục trước cửa Hầu phủ, vai trúng một đao, trong lòng còn giấu nửa tờ giấy nhập hàng thấm đẫm máu. Lúc ta băng bó cho hắn, ngửi thấy mùi dầu trẩu đặc trưng của bến cảng Nam Bình trên người hắn, lại thấy vụn sắt quân khí trong đế giày. Trong cơn mê man, hắn chỉ lặp đi lặp lại: “Thành Tây, biệt viện”.

Ta đã giao tờ giấy nhập hàng cho ám vệ Đông cung. Hôm nay nhìn thần sắc người Hàn gia, liền đoán được Bùi Nghiễn Chi đã lần theo manh mối đó mà chạm đến cửa. Ta vạch trần nước cờ hắn sắp hạ trước một bước, chính là để ép Hàn gia lộ ra sự hoảng loạn, cũng là tự kiếm cho mình một món hời lớn.

Thái tử nhìn ta một lúc lâu, bỗng bật cười.

“Nếu tội chứng Hàn gia xác thực, cô sẽ cho nàng một ngàn lượng vàng.”

Mắt ta sáng rực: “Điện hạ kim khẩu ngọc ngôn?”

“Kim khẩu ngọc ngôn.”

Ta đứng dậy, cung kính hành lễ: “Vậy thần nữ xin tạ ơn điện hạ.”

Hàn cô nương tức giận đến run rẩy cả người, chỉ vào ta nói muốn tới trước mặt Hoàng hậu tố cáo. Giang Chiếu Vi ngồi cách đó không xa, sắc mặt vô cùng phức tạp. Có lẽ đây là lần đầu nàng ta nhận ra, người tỷ tỷ từ trong núi trở về như ta, lại có thể ngồi cùng một bàn cờ với Thái tử.

Lúc tan tiệc, nội thị bên cạnh Thái tử nhét vào tay ta một mảnh giấy, trên đó chỉ viết ba chữ: Thanh Phong Lâu.

Ta gấp mảnh giấy lại, hỏi nội thị: “Điện hạ mời người uống trà, có thanh toán lộ phí không?”

Nội thị suýt chút nữa làm rơi phất trần xuống đất.

5.
Sau yến tiệc thưởng cúc không lâu, kinh thành náo loạn cả lên.

Thái tử dâng lên chứng cứ Hàn gia buôn lậu quân khí, chiếm đoạt quân lương giữa triều đường, Hàn Thượng thư bị tống giam tại chỗ, hôn ước Hàn gia đương nhiên hủy bỏ. Sổ sách đào được trong biệt viện thành Tây còn đặc sắc hơn cả những gì ta nói tại yến tiệc.

Một ngàn lượng vàng được đưa đến Thính Tuyết Viện vào buổi chiều hôm đó.

Khi nắp rương được mở ra, ánh mặt trời chiếu vào những thỏi vàng, ta suýt chút nữa tưởng mình hoa mắt. Sống mười sáu năm, đây là lần đầu ta thấy nhiều tiền đến thế, tim đập thình thịch trong lồng ngực.

Ta tự nhéo mình một cái, đau.

Rồi cầm một thỏi vàng lên cắn thử, để lại một dấu răng nhạt.

Tần ma ma bên cạnh sốt ruột niệm Phật: “Cô nương, không được đâu, đây là ban thưởng của hoàng gia đấy.”

“Vàng đâu có vì ta cắn một cái mà thiếu đi một lượng.” Ta ôm thỏi vàng về rương, “Hơn nữa, kiểm hàng là quy củ.”

Khi Giang Sùng và La thị vội vã chạy tới, vừa vặn thấy ta đang nằm sấp bên rương đếm vàng. Khóe miệng Giang Sùng giật giật, chắc là muốn quở trách ta thiếu thể thống, lại nhớ ra đây là tiền Thái tử ban nên đành nhịn xuống.

La thị nhìn rương vàng đầy ắp, thần sắc hơi thẫn thờ.

Nàng ta khẽ nói: “Thê Nguyệt, ngươi thật sự có thể tiên đoán sao?”

“Ta không tiên đoán.” Ta đóng nắp rương lại, “Ta nhìn người, nhìn thế cục, cũng nhìn thấy cái đuôi mà họ giấu không được. Đại đa số tai họa trên đời này, gốc rễ đều nằm ở lòng tham của con người.”

Giang Sùng ngồi xuống, lần đầu tiên nghiêm túc nói chuyện với ta: “Thái tử điện hạ muốn gặp ngươi, ngày mai ở Thanh Phong Lâu. Ngươi có đi không?”

“Đi.”

“Ngươi không sợ?”

Ta liếc nhìn ông: “Thái tử thiếu ta một ngàn lượng vàng đều đưa đúng hạn, chứng tỏ là một đối tác giữ chữ tín. Làm ăn kiểu này, làm được.”

Giang Sùng bị hai chữ “đối tác” làm cho ngơ ngác. La thị lại cười, cười xong lại thở dài.

Ngày hẹn, ta mang theo bảng giá mới viết đến Thanh Phong Lâu. Xem bói một trăm lượng, tra lòng người năm trăm lượng, giải quyết rắc rối tính giá riêng. Thái tử đợi ta ở nhã gian tầng hai, trên bàn bày trà nóng và vài món điểm tâm.

Hắn nhìn bảng giá của ta, khẽ nhướng mày: “Giang cô nương làm ăn rất có bài bản.”

“Người từng nghèo, đều sợ làm không công.”

Bùi Nghiễn Chi im lặng một chút, rót trà cho ta: “Cô hôm nay mời nàng tới, không phải để hỏi thêm một quẻ.”

“Vậy là muốn chiêu mộ?”

Trong mắt hắn có thêm chút ý cười: “Bên cạnh cô thiếu một người có thể nhìn thấu lòng người.”

“Thái tử điện hạ, lòng người ta chỉ có thể nhìn cái đại khái. Quẻ có chuẩn đến đâu, hạ cờ vẫn phải dựa vào chính người đó.”

“Cô hiểu.” Hắn nói, “Thứ cô cần không phải là thần tiên, mà là một mưu sĩ dám nói lời thật.”

Lời này rất động lòng, nhưng ta không đồng ý ngay.

Cái lồng của Hầu phủ mới chỉ hé mở một khe nhỏ, ta không muốn vừa quay đầu lại đã chui vào cái lồng lớn hơn của Đông cung.

“Ta có thể làm việc cho điện hạ, nhưng có ba điều.” Ta dựng ngón tay lên, “Thứ nhất, tính tiền theo việc, không được lấy bốn chữ ‘vì nước vì dân’ ra để lấp liếm sổ sách. Thứ hai, ta không vào Đông cung, không làm quan, không chịu sự quản thúc của nội trạch. Thứ ba, nếu ta nói không nhận, điện hạ không được miễn cưỡng.”

Bùi Nghiễn Chi nhìn ta, hồi lâu sau gật đầu: “Đều đồng ý.”

“Còn một điều.” Ta bổ sung, “Ta không giúp người hại mạng, cũng không giúp người kết tội kẻ vô tội.”

“Cô hứa.”

Hắn lấy ra một tấm bài gỗ mun khắc ấn ký Đông cung, đặt trước mặt ta.

“Đây là bằng chứng. Trong kinh nếu gặp việc gấp, nàng có thể dựa vào nó mượn người của Kinh Triệu phủ, cũng có thể trực tiếp gửi thư cho cô.”

Ta nhận tấm bài, trong lòng rất hài lòng.

Một khách hàng dài hạn có tiền, biết quy củ, lại còn cho quyền hạn, thật sự rất hiếm có.

6.

Việc đầu tiên Thái tử giao cho ta, là tra vụ thất thoát ngân khố.

Ba vạn lượng bạc cứu tế bị tráo đổi trên đường vận chuyển đến biên giới phía Bắc, các quan viên áp tải kẻ nói một đằng người nói một nẻo, Kinh Triệu phủ điều tra nửa tháng, chỉ bắt được vài tên thế mạng. Khi Bùi Nghiễn Chi đẩy hồ sơ vụ án tới trước mặt ta, thần sắc mệt mỏi, dưới mắt hiện lên quầng thâm nhạt.

“Biên giới phía Bắc năm nay tuyết tai, bạc chậm đến một ngày, có thể sẽ có thêm vài hộ dân chếc rét.”

Ta thu lại vẻ phóng khoáng thường ngày, cầm hồ sơ tới dịch đạo ngoài thành.

Nơi xe bạc bị cướp nằm bên cạnh một rừng thông, mặt đất sớm đã bị tuyết che phủ, người thường không nhìn ra dấu vết. Ta sai người đào lớp tuyết tích tụ đi, nhìn vết bánh xe hồi lâu.

Vết bánh xe phía trước sâu, chiếc sau lại nông bất thường, vết ấn trên mặt tuyết chỉ chênh lệch một chút, nhưng không qua mắt được kẻ hay đi đường núi. Cái gọi là cướp không hề lấy đi toàn bộ bạc trên đường, bạc thật sớm đã được chia sang xe khác, chỉ để lại đá để diễn một màn kịch.

Ta lại nhìn tướng mạo của phó sứ áp tải Lục Văn Khiêm. Hắn liên tục kêu oan, nhưng mồ hôi trên trán chỉ chảy về phía bên trái. Sư phụ từng nói, kẻ nói dối chưa chắc tướng mạo đã thay đổi hoàn toàn, cơ thể sẽ phản bội hắn trước.

Ta hỏi hắn: “Mẫu thân ngươi bệnh bao lâu rồi?”

Lục Văn Khiêm ngẩn người.

“Ba tháng trước”.

“ Thuốc của bà ấy mua ở đâu?”

Môi hắn run rẩy, nói là Nhân Tế Đường ở phía Nam thành.

Ta sai người đi kiểm tra sổ sách tiệm thuốc, quả nhiên tra ra ba tháng nay hắn đã chi gần một ngàn lượng để mua nhân sâm chữa bệnh. Một phó sứ thất phẩm, bổng lộc căn bản không nuôi nổi.

Lục Văn Khiêm cuối cùng cũng khai nhận. Mẫu thân hắn căn bản không bệnh, sớm đã bị người của Hộ bộ Thị lang Chu Khiêm khống chế. Chu Khiêm lấy tính mạng người nhà hắn ra ép hắn phối hợp, lại hứa sau khi xong việc sẽ đưa hắn rời kinh.

Số bạc thật không hề rời khỏi kinh thành, mà được giấu trong một kho muối bỏ hoang của nhà họ Chu. Bùi Nghiễn Chi đêm đó dẫn người phong tỏa kho, ba vạn lượng bạc không thiếu một phân, còn đào ra cả sổ sách Chu Khiêm chiếm đoạt tiền cứu tế nhiều năm.

Sau khi án định, Thái tử thanh toán tiền công cho ta ở Thanh Phong Lâu.

Ta đếm xong ngân phiếu, cau mày: “Điện hạ trả thiếu rồi.”

Bùi Nghiễn Chi nói: “Cô tính theo bảng giá nàng viết, tra lòng người năm trăm, giải quyết rắc rối ba ngàn.”

“Còn lộ phí, phí thức đêm, tiền thuốc bôi vết cóng. Đặc biệt là ta đã ngồi xổm trong tuyết tận hai canh giờ, chân tê liệt cả rồi.”

Hắn cố nhịn cười, lại rút thêm một tờ ngân phiếu năm trăm lượng đưa qua.

Ta lúc này mới hài lòng, tiện tay lấy luôn miếng bánh tô cuối cùng trong đĩa.

Hắn nhìn ta, đột nhiên hỏi: “Vì sao nàng lại chịu nói giúp cho Lục Văn Khiêm?”

Khi Chu Khiêm bị áp giải đi, Lục Văn Khiêm đã quỳ giữa trời tuyết cầu xin được chếc. Hắn quả thực đã phạm sai lầm, chiếu theo luật phải chịu trừng phạt, nhưng hắn không hề tham ô bạc, trái lại còn âm thầm gửi hai phong thư cảnh báo đến Bắc Cảnh, chỉ là đều bị Chu Khiêm chặn lại.

Ta nói với Thái tử: “Hắn sợ chếc, cũng sợ người nhà bị hại. Con người khi bị dồn vào đường cùng thường dễ làm sai, sai thì chịu phạt; còn Chu Khiêm lại lấy mạng người khác đổi lấy bạc, không thể đánh đồng xét xử cùng một chỗ.”

Bùi Nghiễn Chi thu lại ý cười, trịnh trọng gật đầu.

Lục Văn Khiêm cuối cùng bị cách chức lưu đày ba năm, người nhà được quan phủ an trí. Chu Khiêm thì bị tịch thu gia sản, khép tội. Bạc cứu trợ Bắc Cảnh kịp thời được đưa tới trước khi tuyết phong tỏa đường, Thái tử ra lệnh cho người dựng cháo dọc đường.

Sau khi nhận được thù lao, ta mua một gian cửa tiệm nhỏ ngay mặt phố ở phía Tây.

Tiệm này trước kia bán hương liệu, sân sau có hai cây táo vẹo, tiền đường vừa đủ đặt sáu cái bàn. Ta tự tay viết ba chữ “Thiên Cơ Các” treo lên đầu cửa, lại mời thợ mộc làm một dãy ngăn kéo, dán nhãn lần lượt là “Hỏi tài”, “Hỏi sự”, “Hỏi bệnh”, “Hỏi người”.

Cuối cùng ta cũng có cơ ngơi của riêng mình.

Hầu phủ nghe tin ta mua tiệm thì náo loạn cả lên. Giang Sùng cho rằng ta ra mặt kinh doanh là làm mất thể diện, La thị lo Thái tử sẽ hiểu lầm Hầu phủ không biết chừng mực. Giang Chiếu Vi thì lạnh lùng cười nhạo, nói ta dù kiếm được bao nhiêu bạc cũng chẳng đổi được cái cốt cách thôn nữ.
Ta ngồi trong cửa tiệm mới, rót cho mỗi người một chén trà.

“Địa khế của tiệm này đứng tên ta, bạc cũng do ta tự kiếm. Hầu phủ nếu sợ mất mặt, có thể nói với bên ngoài rằng ta đã sớm ra ở riêng.”

Sắc mặt La thị thay đổi: “Nàng muốn đoạn tuyệt quan hệ với Hầu phủ sao?”

“Ta không nói là đoạn tuyệt.” Ta chậm rãi đáp, “Ta chỉ là không muốn buộc mạng mình vào tấm biển hiệu của Hầu phủ mà thôi.”

Giang Sùng đập bàn: “Một nữ tử như nàng, sao lại có đạo lý tự mình đứng ra lập cửa nhà!”

“Vậy thì hôm nay ta lập đó.” Ta nhìn ông: “Phụ thân, năm xưa người có thể dựa vào quân công mà giành lấy tước Hầu, ta cũng có thể dựa vào bản lĩnh mà kiếm lấy một gian tiệm. Các người xem thường ta xem bói, cứ coi như ta làm mất mặt Hầu phủ. Nhưng bạc ta kiếm được bằng bản lĩnh này, chưa từng chìa tay xin ai cả.”

Trong phòng im phăng phắc.

Tần ma ma bưng chén trà mới pha từ sân sau đi ra, vừa vặn nghe thấy câu này. Bà cúi đầu mỉm cười, giúp ta chỉnh lại tấm bảng hiệu trước cửa.

7.

Ngày thứ ba Thiên Cơ Các khai trương, Giang Chiếu Vi tới.

Nàng ta tiều tụy hơn lần trước rất nhiều, dưới mắt thâm quầng, y phục xa hoa cũng không che giấu được sự hoảng loạn.

Ngũ hoàng tử cuối cùng đã tới Hầu phủ cầu thân, nhưng trong sính lễ hắn đưa ra lại kẹp một tờ giấy nợ, yêu cầu Hầu phủ phải lấy hai trang trại ở phía Tây ngoại thành cùng một vạn lượng bạc làm của hồi môn.

Giang Sùng không đồng ý, Ngũ hoàng tử liền buông lời đe dọa rằng Giang Chiếu Vi từng viết thư tình cho hắn, nếu Hầu phủ không biết điều, những lá thư đó không biết sẽ rơi vào tay ai.

Nàng ta vừa vào cửa đã quỳ sụp xuống trước mặt ta.

“Tỷ tỷ, cầu xin tỷ cứu muội.”

Ta không cho nàng đứng dậy, cũng không bảo nàng tiếp tục quỳ. Ta cầm quyển sổ sách trên bàn lên hỏi: “Nàng muốn ta cứu thế nào?”

“Trong tay Ngũ hoàng tử có thư của muội. Phụ mẫu nói muốn đưa muội đến trang trại lánh tạm, nhưng muội đi rồi, sẽ chẳng bao giờ quay lại được nữa.”

Nàng ta khóc rất thảm hại, không còn vẻ đẹp tinh tế, tính toán như trước kia nữa.

Ta có thể hiểu nàng ta sợ điều gì. Nàng ta đã hưởng sự sủng ái tại Hầu phủ suốt mười sáu năm, thứ sợ nhất chính là bị vứt bỏ về nơi không có tiếng vỗ tay, không có y phục đẹp đẽ, không có kẻ cung phụng. Ngũ hoàng tử chính là đánh vào điểm yếu đó.

“Vậy tại sao nàng vẫn muốn gả cho hắn?” Ta hỏi.

Nàng ta ngẩn người.

“Vì nàng không cam tâm. Nàng tưởng rằng gả cho hoàng tử là có thể chứng minh bản thân mạnh hơn ta, có thể chứng minh Hầu phủ không thể thiếu nàng. Nhưng từ đầu đến cuối, nàng vẫn coi mình là một món đồ giải thưởng, chờ người khác tới định giá.”

Nước mắt Giang Chiếu Vi rơi càng dữ dội, nhưng không hề phản bác.

Ta đẩy chén nước ấm tới: “Trước tiên hãy viết hết nội dung thư, người đưa thư, địa điểm gặp gỡ ra. Nếu nàng chịu thừa nhận sai lầm, ta sẽ cho nàng một cơ hội.”

Nàng ta ngẩng đầu: “Vì sao tỷ lại giúp muội?”

“Ta không giúp nàng, ta giúp Hầu phủ không bị Ngũ hoàng tử tống tiền.” Ta dừng một chút, “Hơn nữa, sau chuyện Xuân Hạnh, nàng không còn lấy hạ nhân ra trút giận nữa. Ít nhất nàng cũng học được chút ít.”

Giang Chiếu Vi nắm chặt chén nước, đầu ngón tay trắng bệch.

Đêm đó, ta cầm bản cung khai nàng viết đi gặp Bùi Nghiễn Chi. Ngũ hoàng tử Bùi Thừa Diệp những năm nay bề ngoài nhàn rỗi, nhưng sau lưng lại mượn cớ hôn sự để vơ vét tiền bạc, đây không phải lần đầu. Hắn dám ép Hầu phủ là vì cho rằng Giang Sùng yêu sĩ diện, tuyệt đối không để loại chuyện xấu này lộ ra ngoài.

Bùi Nghiễn Chi xem xong bản cung khai, hỏi ta: “Nàng muốn cô phải làm gì?”

“Đừng che đậy cho Hầu phủ.”

Hắn ngước mắt lên.

“Ngũ hoàng tử đã dám dùng thư để tống tiền, vậy hãy để hắn biết rằng thư cũng có thể trở thành bằng chứng. Đưa sự việc ra ánh sáng, để Giang Chiếu Vi tự thừa nhận mình nhìn lầm người, để Hầu phủ tự thừa nhận quản giáo không nghiêm. Mất mặt một lần còn hơn bị kẻ khác nắm thóp cả đời.”

Bùi Nghiễn Chi im lặng một lúc, cười nói: “Nàng còn tàn nhẫn hơn cô tưởng.”

“Ta ghét nhất kẻ đem điểm yếu của người khác lên bàn cân.”

Tông Chính Tự nhanh chóng mời Ngũ hoàng tử tới hỏi chuyện. Bùi Nghiễn Chi không biến việc này thành vở kịch ngoài phố, chỉ triệu tập vài vị quan viên và gia quyến từng chịu sự tống tiền đến đối chứng. Giang Chiếu Vi mặc y phục vải thô, trước mặt mọi người thừa nhận mình lén lút qua lại, cũng thừa nhận Ngũ hoàng tử dùng chuyện đó để đòi hỏi sản nghiệp của Hầu phủ.

Giọng nàng ta run rẩy nhưng không sót một chữ.

Lưng Giang Sùng thẳng tắp, mặt lại đỏ bừng. Có lẽ ông chưa từng nghĩ tới, đứa con nuôi được yêu thương nhất lại khiến Hầu phủ bẽ mặt trước mọi người đến thế.

Sau khi sự việc kết thúc, Ngũ hoàng tử bị cấm túc, hôn sự hủy bỏ. Giang Chiếu Vi về Hầu phủ, thu hết trang sức châu báu vào hộp, chỉ giữ lại một chiếc trâm bạc đơn giản.

Nàng ta tới Thiên Cơ Các trả nợ, đặt xuống năm trăm lượng ngân phiếu.

“Tỷ tỷ, đây là tiền quẻ và thù lao cảm tạ Thái tử điện hạ.”

Ta nhìn tờ ngân phiếu: “Nàng lấy tiền ở đâu ra?”

“Bán bớt vài món trang sức.” Nàng thấp giọng nói, “Trước kia muội cứ tưởng người khác tặng thì mới đáng giá. Giờ mới biết, thứ tự mình giữ lại được mới là của mình.”

Ánh mắt lần này của nàng ta trong sáng hơn nhiều.

Ta nhận ba trăm lượng, đẩy trả lại hai trăm: “Thiên Cơ Các không thu học phí của người chưa trưởng thành. Lấy đi mở một cửa tiệm nhỏ, làm việc nào mà nàng thực sự làm được ấy.”

Giang Chiếu Vi ngẩn người: “Muội làm được gì?”

“Nàng có thẩm mỹ tốt, miệng cũng ngọt, có thể dỗ dành những phu nhân khó chiều nhất. Hãy đi làm chưởng quỹ tiệm trang sức, đừng dùng hết bản lĩnh vào việc h.ã.m hại người khác nữa.”

Nàng ta nắm chặt ngân phiếu, hồi lâu mới nói một tiếng “Được”.

8.

Sau khi vào đông, Bắc Cảnh truyền đến tin khẩn.

Lương thực cứu trợ bị các tầng lớp quan lại ở An Châu bóc lột, dòng người lưu dân chặn cả đường quan. Sổ sách quan địa phương báo lên thì đẹp đẽ vô cùng, thế nhưng bá tánh đã bắt đầu bán vợ đợ con. Hoàng đế lâm bệnh lâu ngày, triều chính sớm đã nằm trong tay Đông cung.

Bùi Nghiễn Chi vốn đang chuẩn bị tân chính cho năm sau, tin khẩn từ An Châu vừa tới, hắn chỉ có thể tự mình đi kiểm tra.

Khi hắn đưa mật báo tới Thiên Cơ Các, ta đang dạy hai nha đầu nhỏ nhận sổ sách. Xem xong, ta lập tức thu dọn hành lý.

A Nguyễn lo lắng: “Cô nương, An Châu rất loạn, người đi làm gì chứ?”

“Đi kiếm một món lớn.”

Bùi Nghiễn Chi nghe thấy ngoài cửa, khẽ thở dài: “Chuyến này nguy hiểm, cô vốn không muốn nàng đi.”

Ta đeo hành lý: “Điện hạ không muốn ta đi, thì đã chẳng mang sổ sách An Châu tới Thiên Cơ Các rồi. Người đã tới đây, tức là biết việc này không thể thiếu ta.”

Hắn không còn lời nào để nói.

Tuyết ở An Châu dày hơn kinh thành, c.h.ó hoang chếc cóng bên đường cũng chẳng ai thu dọn. Ta đổi sang bộ y phục vải thô, theo đoàn xe của Thái tử tiến vào thành với thân phận thương nhân. Tri phủ địa phương là Hứa Diên Chương bày ra một bàn rượu thịt đón tiếp, trong miệng đầy những lời “tình hình thiên tai đã ổn định”, “kho lương đầy đủ”.

Ta ngồi đối diện hắn, nhìn thấy miếng cá trên đũa hắn trắng mềm, kẽ móng tay lại găm đầy vỏ thóc.

Một tri phủ ngày ngày ngồi trong nha môn, lấy đâu ra vỏ thóc mới trong móng tay? Trừ phi hắn vừa mới tới kho lương, đích thân kiểm kê thóc gạo.

Đêm đó, ta và Bùi Nghiễn Chi mang theo hai hộ vệ lẻn vào Tây kho. Cửa kho vừa mở, bên trong toàn là thóc mốc năm cũ, phía trên phủ một lớp gạo mới. Lương thực thật sớm đã bị Hứa Diên Chương bán cho thương lái lương thực, bạc đổi về một phần gửi về kinh, một phần nuôi dưỡng tư binh.

Ta ngồi xổm bên bao gạo, nhặt một hạt lên ngửi thử.

“Hắn ngay cả thóc mốc cũng không nỡ cho bá tánh ăn.”

Sắc mặt Bùi Nghiễn Chi trầm xuống đáng sợ.

Nhưng chỉ có kho lương thôi vẫn chưa đủ. Hứa Diên Chương dám làm như vậy, phía sau chắc chắn có kẻ ở kinh thành chống lưng. Ta theo sổ sách của đám con buôn lương thực, tra ra được một đầu mối lớn hơn: Tộc nhà mẹ đẻ của Ngũ hoàng tử – An Quốc Công phủ, thừa dịp năm mất mùa để tích trữ lương thực, đẩy giá lên cao. Hứa Diên Chương thay bọn chúng khấu trừ lương thực làm giả sổ sách, rồi bọn chúng lại đem bạc đi đút lót triều thần.

Hứa Diên Chương sau khi đánh hơi thấy gió tanh, liền định đêm tối phóng hỏa thiêu kho lương, rồi đổ tội lên đầu đám dân lưu vong.

Khi người của hắn vây kín khách điếm, A Nguyễn sợ đến mức tay run cầm cập.

Ta đẩy cửa sổ ra, nhìn thấy trong ngõ nhỏ có hơn mười bóng đen.

“Đừng sợ.” Ta nhét sổ sách vào lòng nàng, “Đi ra từ cửa sau, đi tìm lão bán than ở phố Đông. Lão là người của Thái tử.”
A Nguyễn đỏ mắt: “Cô nương, còn người thì sao?”

“Ta ở lại trì hoãn một lát.”

Ta không đợi nàng kịp khóc, liền đẩy nàng đi về phía cửa ngầm. Khi kẻ ngoài cửa phá cửa phòng xông vào, ta đang ngồi trước bàn nhàn nhã uống trà.

Kẻ cầm đầu là sư gia của Hứa Diên Chương, tươi cười nói muốn mời ta đến phủ nha làm khách.

Ta rót cho hắn một chén trà: “Mời người làm khách, sao lại mang theo đao kiếm làm gì?”

Sư gia không còn cười nổi nữa.

“Giang cô nương biết quá nhiều rồi, Tri phủ đại nhân đành phải mời cô nương đổi chỗ ở khác.”

“Là trong lao ngục, hay là dưới đáy sông?”

Ánh mắt hắn trở nên lạnh lẽo.

Ta đặt chén trà xuống: “Ngươi không cần chọn. Bởi vì đêm nay, một kẻ trong các ngươi cũng đừng hòng chạy thoát.”

Ngoài cửa sổ bỗng vang lên tiếng tên bắn xé gió sắc lạnh. Thị vệ thân tín của Thái tử từ bốn phía mái nhà đáp xuống, Bùi Nghiễn Chi khoác áo choàng lông đen bước vào, theo sau là thống lĩnh quân trú đóng An Châu.

Ngày tiến vào thành, ta đã để lão bán than gửi một phong thư cho Bùi Nghiễn Chi. Hứa Diên Chương làm sổ sách quá sạch sẽ, trong kho lại giấu lương thực mốc, sau khi hắn phát hiện điều bất thường tất sẽ giếc người diệt khẩu. Bùi Nghiễn Chi tương kế tựu kế, chính là đang đợi bọn chúng ra tay.

Khi Hứa Diên Chương bị áp giải vào, hắn ta vẫn còn kêu oan. Ta bước đến trước mặt hắn, bày ra hạt gạo mốc kia.

“Ngươi nói kho trong lương đủ đầy, vậy ngươi có dám ăn một bát không?”

Hắn trân trối nhìn hạt gạo, môi run rẩy không thôi.

“Ngươi không dám ăn, lại lấy nó cho dân đói. Kẻ như ngươi, chếc trong ngục cũng là quá rẻ rúng rồi.”

Bùi Nghiễn Chi không xử lý hắn ngay, mà cho mở kho phát lương ngay trong đêm, dán cáo thị, triệu tập dân chúng trong thành theo hộ khẩu đến nhận gạo. Chứng cứ phạm tội của Hứa Diên Chương và đám con buôn lương thực được công khai thị chúng, bè lũ của An Quốc Công phủ ở kinh thành cũng bị hốt trọn ổ.

Mấy ngày sau khi mở kho, ngoài cổng thành An Châu, các quầy cháo cuối cùng đã xếp thành hàng dài ngay ngắn. Một phụ nhân ôm đứa trẻ nhận được bát cháo nóng, đột nhiên quỳ xuống trước mặt ta.

Ta vội vàng đỡ nàng đứng dậy.

Nàng nói: “Quý nhân, người đã cứu mạng chúng ta.”

Ta lắc đầu: “Người cứu các ngươi là lương thực, là người đồng ý mở kho. Sau này ngày tháng tốt đẹp lên rồi, đừng quên nuôi dạy đứa trẻ thật tốt.”

Đứa trẻ kia vươn bàn tay đỏ ửng vì lạnh, nhét vào tay ta một viên kẹo.

Viên kẹo đã bị hơi ấm làm cho mềm đi, ta lại cảm thấy nó còn nặng hơn cả ngàn lượng vàng.

9.

Việc ở An Châu đã xong, Bùi Nghiễn Chi trở về kinh. Hoàng đế băng hà giữa mùa đông giá rét, trước khi lâm chung để lại chiếu thư, trao giang sơn cho Đông cung. Những ngày đó, nhà nhà ở kinh thành đều đổi sang đèn lồng tang, Thiên Cơ Các cũng đóng cửa chịu tang. Ta ngồi trong trướng phòng, đóng lại mấy phong thư khẩn cấp đã để sẵn cho Bùi Nghiễn Chi. Người đưa thư sau này vẫn sẽ là hắn, nhưng người ký tên đã phải đổi thành ngự tiền rồi.

Ngày tân đế đăng cơ, văn võ bá quan cùng hô vạn tuế tại điện Thái Hòa. Ta đứng dưới hành lang bên ngoài điện, không mặc triều phục, chỉ mặc một chiếc váy thường màu xanh, tay cầm theo cuốn sổ sách mới làm ở Thiên Cơ Các.

Lễ quan đến mời ta nhập điện chịu phong, nói Hoàng thượng dự định phong ta làm Quốc sư, còn ban tặng một tòa đại trạch ở ngoại ô kinh thành.

Ta hỏi: “Phong Quốc sư mỗi tháng bổng lộc bao nhiêu? Có thể không cần lên triều không?”

Lễ quan bị hỏi đến toát mồ hôi hột: “Quốc sư là phẩm cấp đặc biệt, bổng lộc tự nhiên hậu hĩnh, chỉ là… đại triều hội và đại điển tế thiên vẫn phải có mặt.”

Ta lập tức xua tay: “Vậy thì ta không cần.”

Lên triều dậy sớm hơn gà, đứng thẳng hơn cây, lại còn phải nghe một đám người nói chuyện lòng vòng, cho bao nhiêu tiền cũng không đáng.

Bùi Nghiễn Chi ở trong điện nghe thấy, vậy mà tự mình bước ra. Hắn đã thay lên mình bộ Miện phục mười hai dải tua, giữa mày lộ vẻ trầm ổn của bậc quân vương, nhưng khi ánh mắt rơi trên người ta vẫn mang theo vẻ ôn hòa như cũ.

“Giang Thê Nguyệt, người khác đều mong chờ sự ban thưởng của Trẫm, cô nương lại trốn nhanh thế.”

Ta hành lễ: “Bệ hạ, thần nữ không có phúc phần đó.”

“Vậy cô nương muốn gì?”

Ta suy nghĩ một chút: “Biển hiệu Thiên Cơ Các, cầu ngự bút đề chữ. Mảnh đất ở Tây thị đó, quy về cho ta. Còn nữa, sau này ai dám lấy cớ nữ tử không được kinh doanh để gây khó dễ cho ta, xin Bệ hạ chắn giúp ta một phen.”

Bùi Nghiễn Chi nhìn ta, khẽ cười: “Chỉ thế thôi sao?”

“Thêm một điều nữa.” Ta nói, “Nếu ta có đi xa, Bệ hạ không được phái người bắt ta trở về.”

Nụ cười của hắn nhạt bớt đi đôi chút.

Gió bên ngoài điện thổi rất mạnh, làm chuông đồng dưới mái hiên kêu leng keng.

Chúng ta không ai nói gì.

Ta không phải không hiểu tâm ý của hắn. Đêm ở An Châu, hắn từng canh giữ ngoài khách điếm đến tận bình minh; ta bị bệnh phát sốt, hắn tự tay bưng thuốc; mỗi lần thanh toán cho ta, hắn luôn bỏ thêm một hộp bánh quế hoa ta yêu thích. Một vị đế vương chịu đặt những chuyện nhỏ nhặt này trong lòng, đã là rất khó được rồi.

Nhưng ta càng hiểu rõ hơn, thích một người và tự nhốt mình vào trong thâm cung là hai chuyện hoàn toàn khác biệt.

Ta không muốn làm đóa hoa được trân tàng, cũng không muốn khiến bất cứ ai vì ta mà đánh mất sự phán đoán vốn có. Ta thích tiếng ồn ào náo nhiệt trước cửa Thiên Cơ Các, thích cảm giác chân thực khi kiếm được bạc, thích muốn đi đâu là có thể thu dọn hành lý lên đường.

Bùi Nghiễn Chi lên tiếng trước: “Trẫm đáp ứng cô nương.”

Hắn lấy ra một cuộn thánh chỉ màu vàng từ trong tay áo, đọc ra trước mặt văn võ bá quan. Thánh chỉ không phong ta làm Quốc sư, chỉ ban cho ta bốn chữ “Thiên Cơ Các Chủ”, cho phép ta tự do kinh thương, ra vào khắp nơi, quan phủ địa phương không được vô cớ gây khó dễ. Nếu có vụ án oan, việc khẩn cấp, ta có thể cầm lệnh bài gỗ mun trực tiếp dâng tấu lên ngự tiền.

Đây là chỗ dựa hắn cho ta, cũng là đường lui hắn dành cho ta.

Ta nhận lấy thánh chỉ, nghiêm túc hành lễ: “Đa tạ Bệ hạ.”

Hắn nhìn ta, thanh âm thấp đến mức chỉ mình ta nghe thấy: “Giang Thê Nguyệt, Trẫm mong cô nương được tự tại.”

Ta ngẩng đầu mỉm cười.

Câu nói này, hợp ý ta hơn bất kỳ lời đường mật nào.

10.

Giang Chiếu Vi sau này thực sự mở một tiệm trang sức, tên là “Chiếu Vi Ký”.

Nàng không còn mặc xiêm y rực rỡ đầy châu ngọc, ngược lại cả ngày chôn chân trong tiệm nghiên cứu kiểu dáng. Nàng hiểu tâm tư của đám tiểu thư quyền quý trong kinh, biết trâm nào hợp với y phục nào, cũng biết cách nói về một món trang sức bạc tầm thường sao cho khiến người ta sẵn lòng móc hầu bao.

Tháng đầu tiên khai trương, nàng bị lỗ vốn, khóc lóc chạy đến Thiên Cơ Các tìm ta tính toán tài vận.

Ta lật sổ sách của nàng ra, hỏi: “Chiếc trâm Hải Đường này nàng nhập giá bao nhiêu, bán bao nhiêu?”

Nàng lí nhí đáp: “Nhập một lượng hai, bán một lượng ba.”

“Vậy tiền thuê tiệm, tiền tháng của người làm, tiền nước trà nàng tính sao?”

Nàng chớp chớp mắt.

Ta thở dài: “Giang Chiếu Vi, trước kia nàng chỉ biết tiêu tiền, giờ phải học cách tính tiền trước đã.”

Ta mời giúp nàng một lão kế toán, lại treo một tấm biển nhỏ ở cửa Thiên Cơ Các, phàm là cô nương nào đến hỏi nhân duyên đều có thể đến Chiếu Vi Ký nhận một phiếu giảm giá. Nàng rất nhanh đã làm sổ sách trôi chảy, còn thuê hai cô nương từ nông thôn lên làm học đồ.

Có một lần, La thị ngồi xe ngựa đến Tây thị, từ xa nhìn thấy Giang Chiếu Vi đang mặc cả với khách sau quầy. Bà đứng nơi góc phố nhìn rất lâu, không hề tiến vào.

Sau đó bà đến Thiên Cơ Các tìm ta, đặt xuống một chiếc túi thêu hoa lan. Bên trong là mấy tờ địa khế bà tự tay gom góp, nói là làm của hồi môn cho ta.

Ta đẩy chiếc túi trả lại.

“Ta không gả cho ai cả, giữ lại làm gì.”

Vành mắt La thị đỏ hoe: “Thê Nguyệt, nương biết trước kia đã đối xử tệ với con.”

Ta rót cho bà chén trà nóng.

“Nương, người không phải đối xử tệ với ta. Người chỉ là lần nào cũng chọn bên mà người cho là ổn thỏa hơn. Trước kia là Giang Chiếu Vi, là thể diện của Hầu phủ. Sau này cũng có thể là những thứ khác.”

Nước mắt bà rơi vào trong chén trà.

“Ta không hận người.” Ta nói, “Nhưng người cũng đừng mong ta như Chiếu Vi, vây quanh người xoay mòng mòng. Chúng ta cứ sống tốt cuộc sống của mình, lễ tết ăn cùng nhau bữa cơm, như vậy là đã tốt lắm rồi.”

La thị vừa lau nước mắt vừa gật đầu.

Lần này, bà không còn nói tính tình ta quá cứng nhắc nữa.

Giang Sùng lại càng ngượng ngùng hơn. Ông mang theo một vò rượu tự mình cất giữ nhiều năm, ngồi dưới gốc táo sau vườn Thiên Cơ Các, hồi lâu vẫn không mở lời.

Ta đặt hai chén nhỏ trước mặt ông: “Phụ thân, có lời cứ nói thẳng. Người cứ ấp úng như vậy, con lại tưởng người muốn mượn tiền con đấy.”

Ông trừng mắt nhìn ta, cuối cùng thở dài một tiếng.

“Khi còn nhỏ con bị lạc, là do ta không bảo vệ tốt cho con. Sau khi đón con về, ta lại cứ nghĩ đến quy củ của Hầu phủ, sợ con gây chuyện. Nay nhìn thấy con như thế này… ta mới biết, là ta làm cha mà tầm nhìn quá hẹp hòi.”

Ta nâng chén rượu lên, cụng chén cùng ông.

“Vậy thì hãy mở rộng tầm nhìn ra đi. Nữ tử Hầu phủ, đâu chỉ có thể gả cho người khác.”

Giang Sùng ngửa đầu uống cạn chén rượu, vành mắt hơi đỏ. Ông không nói thêm những lời bù đắp vụng về kia nữa, chỉ là lúc rời đi, ông lệnh cho người mua lại căn tiệm trống bên cạnh Thiên Cơ Các để tặng cho ta.

Ta không từ chối.

Chuyện tình thân này, không thể chỉ dựa vào vài lời xin lỗi là xóa bỏ được, cũng không nhất thiết phải tính toán thành thù sâu nghĩa nặng. Nếu có người nguyện ý học cách tôn trọng ta, ta liền nhận lấy thành ý của họ; nếu sau này ông ấy lại tái phạm thói cũ, ta vẫn sẽ đáp trả như thường.

11.

Hai năm sau, trong kinh thành có kẻ mượn danh Thiên Cơ Các để đi lừa đảo, lừa mất không ít tiền tiết kiệm của các góa phụ. Kẻ đó tự xưng là “Thiên Cơ Chân Nhân”, nói rằng chỉ cần đóng đủ tiền hương hỏa, liền có thể cải mệnh cho thân nhân đã khuất.

Khi những người bị hại tìm đến ta, có một lão phụ nhân ôm chiếc hộp tiền trống rỗng, khóc đến mức nói không thành lời.

Sau khi nghe xong, ta trực tiếp dẫn người của Kinh Triệu Phủ đi đập phá sạp hàng của tên lừa đảo kia.

Tên lừa đảo kia thấy ta tới vẫn muốn bày đặt kiêu ngạo, nói rằng bản thân được tiên nhân truyền thụ, làm sao để phàm nhân chất vấn.

Ta chộp lấy lá bùa trên bàn hắn, ném vào chậu nước, giấy vàng lập tức nhũn ra thành bùn.

“Chu sa của ngươi trộn lẫn đất đỏ, bùa chú viết còn chẳng bằng hài đồng tập viết. Còn chuyện ngươi nói thông được âm dương, hãy giao sổ sách ngươi giấu dưới tấm ván giường ra đây trước đã.”

Hắn xoay người muốn chạy, bị A Nguyễn một cước ngáng chân ngã nhào.

A Nguyễn nay đã là đại quản sự của Thiên Cơ Các, bàn tính gảy nhanh thoăn thoắt, tính tình cũng trở nên cứng rắn. Nàng chống nạnh mắng: “Dám mượn danh các chủ của chúng ta để lừa người, đền tiền!”

Sau khi tên lừa đảo bị áp giải đi, Kinh Triệu Phủ Doãn hỏi ta: “Giang các chủ, số bạc bị lừa này sợ là không đòi lại đủ được, nên làm thế nào?”

Ta suy nghĩ một chút, dán một tờ thông báo trước cửa Thiên Cơ Các: Phàm là những người bị tên lừa đảo kia h.ã.m hại, mang theo bằng chứng tới đăng ký, Thiên Cơ Các sẽ đền bù trước một nửa. Số còn lại, đợi truy thu được tang vật sẽ bổ sung sau.

A Nguyễn lo lắng đến mức dậm chân: “Cô nương, đây là một số tiền rất lớn đó.”

“Ta biết.” Ta nhìn những người phụ nữ ôm con, ăn mặc đơn bạc kia, “Ta kiếm tiền, là để sống được tự tại.

Nếu thấy người khác bị lừa đến mức không sống nổi, mà vẫn chỉ nghĩ đến việc khóa tiền trong rương, thì số tiền đó cũng chẳng còn ý nghĩa gì.”

Tin tức truyền vào trong cung, Bùi Nghiễn Chi không phái người đến khen ngợi ta, chỉ đưa tới một chiếc rương gỗ nặng trĩu.

Bên trong là đợt tang bạc đầu tiên triều đình truy thu được, còn có bốn chữ chính tay hắn viết: Lấy đạo nghĩa làm đầu.

Ta dán tờ giấy đó lên nơi dễ thấy nhất trong trướng phòng.

Thiên Cơ Các dần dần trở thành nơi náo nhiệt nhất kinh thành. Có người tới hỏi chuyện làm ăn, có người tới hỏi chuyện tiền đồ, có người chỉ là đi ngang qua, vào uống một bát trà nóng, nghe A Nguyễn kể vài câu chuyện thú vị thật giả khó phân.

Ta vẫn bói toán, nhưng không còn chuyện gì cũng bói.

Có cô nương hỏi phu quân liệu có thay lòng đổi dạ, ta sẽ hỏi trước xem bản thân nàng ấy muốn sống cuộc đời như thế nào; có thư sinh hỏi khoa cử liệu có đỗ đạt, ta sẽ bảo hắn đọc suôn bài văn trước; có cha mẹ hỏi mệnh số của con cái, ta sẽ nói cho họ biết, con cái không phải là một lá số chờ được phê bình.

Mệnh là khởi điểm, con đường phải tự mình bước đi.

12.

Trước khi đến Giang Nam, ta còn xử lý một chuyện liên quan tới Hầu phủ.

Liễu nương tử, góa phụ của bộ hạ cũ của Giang Sùng, dẫn theo đứa con trai tám tuổi quỳ trước cửa An Bình Hầu phủ cầu kiến. Sau khi chồng nàng tử trận, tiền tử tuất trong quân bị một tên hiệu úy quản lý lương thực từng lớp bớt xén, cuối cùng thứ đến tay nàng chỉ còn lại một túi gạo cũ trộn lẫn cát. Tên hiệu úy kia dựa hơi một quản sự xa nhà họ, Liễu nương tử đi cáo mấy lần, ngược lại bị người ta trách mắng là tham lam không biết đủ.

Giang Sùng lúc đó đang ở trong phủ tiếp khách, quản sự sợ làm phiền khách quý, liền sai người đuổi Liễu nương tử đi.

Tin tức truyền tới Thiên Cơ Các, ta cùng A Nguyễn vội vàng chạy tới, vừa vặn nhìn thấy đứa bé kia ôm chân mẹ, trán đập vào bậc đá, chảy ra một đường máu nhỏ. Thị vệ đưa tay ra chặn ta, ta liền đưa tấm bài gỗ mun ra trước mặt hắn.

“Tránh ra. Ngày hôm nay cánh cửa này, không ai được phép đóng lại thay cho Hầu phủ.”

Trong tiền sảnh đang ngồi vài vị phu nhân của các võ tướng. Ta không chừa cho Giang Sùng chút mặt mũi nào, trước mặt mọi người trải tờ trạng của Liễu nương tử ra, lại bảo A Nguyễn đọc chi tiết tiền tử tuất trong quân.

Sắc mặt Giang Sùng tái mét, trước hết hỏi ta tại sao không nói riêng với ông.

Ta cười: “Phụ thân, nói riêng, quản sự sẽ chỉ âm thầm chèn ép.

Người luôn nói Hầu phủ trọng quân công nhất, vậy thì đừng để gia quyến của tướng sĩ tử trận phải quỳ ngoài cửa. Hôm nay nếu con không đến, ngày mai trong kinh sẽ đồn rằng, An Bình Hầu phủ đến cả một túi gạo sạch cũng không nỡ cho.”

Tên quản sự xa kia còn muốn cãi cố, nói tiền tử tuất đều đã phát theo quy củ. Ta bảo hắn duỗi tay ra.

Hắn không chịu.

Ta nói: “Ngón cái và ngón trỏ tay phải của ngươi có vết chai do mài mực, nhưng lòng bàn tay trái lại có vết chai mỏng do năm này qua tháng nọ đếm tiền đồng. Một kẻ quản việc mua sắm, sao lại có nhiều tiền mặt đến thế? Ngươi tháng trước thua năm trăm lượng ở sòng bạc, tiền từ đâu mà ra, tra sổ sách của ngươi là rõ ngay.”

Các phu nhân võ tướng đang ngồi đó liền ra lệnh cho người khống chế hắn. Tra sổ sách ra, quả nhiên lôi ra được vài kẻ trong quân đội ăn chặn tiền lương, nuốt tiền tử tuất. Giang Sùng đích thân đưa những kẻ liên quan vào Đại Lý Tự, lại lấy từ sổ sách Hầu phủ ra bù đủ tiền tử tuất cho Liễu nương tử.

Liễu nương tử nhận được bạc phiếu, khóc lóc đòi dập đầu với ta. Ta đỡ nàng dậy, thay đứa bé kia lau sạch m.á.u trên trán.

“Chồng nàng từng vì Đại Lương mà giữ vững biên quan, lấy lại những gì đáng được hưởng, không có gì phải quỳ cả.”

Sau sự việc này, Giang Sùng bãi miễn một nửa số quản sự lão thành trong phủ, còn đưa sổ sách điền trang của Hầu phủ đến Thiên Cơ Các, mời ta và A Nguyễn giúp đỡ chỉnh đốn lại. A Nguyễn gảy bàn tính lạch cạch, ba ngày liền phát hiện ra hai nơi trang đầu khai khống sản lượng, hai nơi mua sắm nâng giá.

Giang Sùng nhìn sổ sách mới, im lặng hồi lâu, cuối cùng nói với ta: “Hầu phủ sau này mỗi năm trích ra hai phần doanh thu, chuyên dùng làm học đường và y quán cho con cái của tướng sĩ trận vong. Sổ sách do Thiên Cơ Các các con giám sát.”

Ta đồng ý.

Ta không coi chuyện này là tích đức thay cho Hầu phủ. Người cần phải chịu trách nhiệm, thì nên gánh vác trách nhiệm đó trở lại. Giang Sùng đến lúc này mới hiểu ra, thể diện không dựa vào việc chặn tiếng khóc ngoài cửa, có lỗi thì sửa, có nợ thì trả, thì cửa nhà mới đứng vững được.

13.

Mùa xuân năm đó, ta đóng cửa Thiên Cơ Các ba ngày, cùng A Nguyễn đi Giang Nam.

Bùi Nghiễn Chi sau khi biết chuyện, chỉ phái hai ám vệ đi theo phía xa, không tới ngăn cản ta.

Trước lúc lên đường, hắn để nội thị gửi tới một hộp Long Tỉnh mới ra và một tờ lộ dẫn trống, ý tứ rất rõ ràng: Muốn đi bao xa cũng được, thiếu cái gì cứ mở lời.

Ta nhận lấy trà, nhét tờ lộ dẫn vào lớp trong cùng của tay nải.

Mưa Giang Nam mảnh như tơ, thuyền ô bồng chui qua dưới gầm cầu đá, hàng liễu bên bờ rủ xuống nước. Ta ngồi ở mũi thuyền, dưới chân đặt một chiếc hộp nhỏ chứa đầy bạc phiếu, A Nguyễn đang học hát tiểu điệu với thuyền nương trong khoang thuyền.

Những năm này, Chiếu Vi Ký của Giang Chiếu Vi đã mở đến ba thành, La thị đã học được cách không can thiệp quá mức, Giang Sùng gặp ai cũng khoe khoang hai cô con gái của ông đều rất có năng lực. Bùi Nghiễn Chi trở thành một vị hoàng đế cần chính, trong triều có kẻ phản đối Thiên Cơ Các, cuối cùng đều bị hắn dùng một câu “Giang các chủ nộp thuế theo luật, có tội tình gì” chặn họng.

Thỉnh thoảng ta lại nhớ về đêm đầu tiên trở lại Hầu phủ. Khi đó ta ngồi bên mép giường, tất cả mọi người đều đợi xem ta biện giải thế nào. Nếu ta thực sự khóc lóc, nhẫn nhịn đúng như họ mong đợi, có lẽ có thể đổi lấy vài lời thương hại giả tạo, nhưng không thể đổi lấy Thiên Cơ Các của ngày hôm nay.

May thay ta từ trước tới nay chưa bao giờ chịu thiệt thòi.

Khi thuyền cập bến, mưa đã tạnh. Những dãy núi đằng xa được gột rửa xanh biếc, chợ búa vừa mở, những cô nương bán hoa gánh đôi quang gánh bước ra từ đầu ngõ, hương thơm của hoa bạch ngọc lan theo gió bay tới trên thuyền.

Ta vấn lại tóc bằng cây trâm gỗ đào, ôm hộp bạc bước lên những bậc đá xanh ướt át.

A Nguyễn đuổi từ trên thuyền xuống, trong lòng ôm một cuộn bản vẽ mặt bằng mới vẽ. Nàng nói các cô nương Giang Nam cũng thích hỏi chuyện nhân duyên, hay là chúng ta cứ mở một chi nhánh ở đây, sân sau trồng hai gốc quế, mùa hè bán đồ uống lạnh, mùa đông bán trà nóng.

Ta nhận lấy bản vẽ, nhìn thấy dòng chữ nhỏ viết ở dưới cùng: Chỗ ngồi riêng của các chủ, người ngoài không được chiếm dụng.

Ta cười nàng tính toán còn xa hơn cả ta.

A Nguyễn lý lẽ hùng hồn: “Cô nương từng dạy con, cơ hội đưa đến tận cửa, phải hỏi trước xem kiếm được bao nhiêu tiền.

Phú hộ Giang Nam nhiều, bạc cũng nhiều, chúng ta không thể tới đây một chuyến tay không được.”

Nàng nói rất có lý.

Ta ngước nhìn con phố dài. Nước mưa chảy qua kẽ gạch xanh, những chiếc lồng đèn đỏ dưới mái hiên lần lượt thắp sáng, ông lão bán kẹo hồ lô vừa dựng xong lò, hơi nóng từ nồi đồng bốc lên.

Đằng xa truyền lại tiếng cười đùa của lũ trẻ thả diều, con diều chao liệng trên bầu trời được gột rửa trong xanh, như muốn bay đến nơi xa hơn nữa.

Ta rút một tờ bạc phiếu từ hộp bạc, nhét vào tay A Nguyễn.

“Đi thuê cửa tiệm đi, chọn nơi nào đón ánh sáng tốt. Biển hiệu vẫn viết Thiên Cơ Các, chìa khóa két sắt nàng giữ một cái.”

A Nguyễn reo lên một tiếng, quay người chạy đi, chạy được vài bước lại quay lại, nghiêm túc hỏi ta: “Cô nương, chúng ta còn bói mệnh không?”

“Bói.” Ta nhìn nàng, “Cũng bán trà, cũng giúp người ta tra sổ sách, cũng giúp những kẻ không có nơi phân trần gửi một phong thư. Quy củ vẫn là quy củ cũ, lấy đạo nghĩa làm đầu, giá cả công bằng.”

Nàng gật đầu lia lịa, vạt váy tung bay trong gió.

Ta ngoái đầu nhìn lại chiếc thuyền ô bồng đang đỗ bên bờ sông. Phu thuyền đã thu xong dây cáp, trên mặt nước nổi lên những bóng đèn vụn vặt. Kinh thành, Hầu phủ, tường cung, đều ở rất xa, nhưng không nơi nào có thể nhốt ta lại được nữa.

Ta chạm vào tấm bài gỗ mun trong tay áo. Nó không phải xiềng xích, mà là sự tự tin mà một người nào đó đã trang trọng trao cho ta. Còn về việc sau này bước trên con đường nào, dừng chân ở tòa thành nào, kiếm bạc của ai, vẫn là do chính ta quyết định.

Phía trước còn có thành mới, người mới, rắc rối mới, cũng có cả những đồng tiền xem quẻ mới.

Mà một đời của ta, mới chỉ vừa bắt đầu náo nhiệt lên mà thôi.

HẾT.

© Vườn Truyện. Một sản phẩm của Oriole