Thông tin truyện

Mẹ Kế Đã Nuôi Chúng Ta Nên Người

Đánh giá
  • Lượt xem:
  • 0
  • Số chương:
  • 0

Giới thiệu:

Cha ta khi xây cầu cho làng thì bị chết đuối.

Mẹ kế đối với chúng ta không đánh thì mắng, mọi người đều cho rằng bà ấy đối xử không tốt với chúng ta.

Sau này huynh trưởng làm quan lớn, Hoàng thượng phong cho bà ấy danh hiệu Cáo mệnh phu nhân.

Mẹ kế vô cùng phong quang, mọi người mới chợt hiểu ra, bà ấy ngoài miệng thì nói lời cay nghiệt nhưng trong lòng lại rất tốt.


Cha ta qua đời rồi.

Ta và huynh trưởng ngay cả cơm cũng không dám ăn nhiều.

Bởi vì các bà các cô trong làng, mỗi lần nhìn thấy chúng ta, đều dặn dò: “Phải nghe lời mẹ kế đấy, nếu không bà ấy bán các con đi, hoặc bỏ rơi các con rồi đi lấy phu quân khác, lúc đó các con phải làm sao!”

Huynh trưởng ta 10 tuổi, ta 8 tuổi, sau khi mẹ kế gả cho cha, sinh ra một đệ đệ, bây giờ 6 tuổi.

Ta ăn lưng bụng rồi đặt đũa xuống, cẩn thận nhìn mẹ kế: “Dì, con lên núi đốn củi.”

Huynh trưởng cũng buông bát đũa xuống: “Con đi cuốc đất đây.”

Chỉ có đệ đệ là vẫn ngoan ngoãn gặm bánh bao mì. 

Nó ăn nhiều thật đấy, ta sợ nó ăn nhiều quá, mùa đông chúng ta sẽ không còn lương thực, mẹ kế sẽ bán chúng ta đi, hoặc tự mình bỏ đi mất.

Vậy thì ba đứa trẻ chúng ta chỉ còn cách đi làm ăn mày.

Thôi được rồi, bữa sau ta sẽ ăn ít đi một chút, để dành lương thực cho gia đình.

Mẹ kế sững người, đôi mắt xinh đẹp liếc nhìn chúng ta: “Các ngươi chán sống rồi hả! Lương thực quý giá như vậy mà lại lãng phí, ngứa đòn phải không!”

Vừa nói, bà ấy liền lấy bát của ta và huynh trưởng, múc cháo trong thùng chia vào bát cho chúng ta.

Ta thấy bà ấy cạo thùng gỗ mấy lần, cũng không múc thêm được bao nhiêu cháo.

Nhà chúng ta ruộng đất ít, chỉ trồng trọt thì không đủ lương thực cho cả nhà ăn, lúc cha còn sống, là thợ hồ trong làng, ai xây nhà, đào giếng, ông ấy đều giúp đỡ, người ta sẽ cho một ít lương thực làm thù lao.

Lúc nông nhàn, cha còn mang theo cung tên lên núi săn bắn, thú rừng săn được, da và thịt có thể bán lấy tiền.

Thỉnh thoảng thú rừng săn được cũng để cải thiện bữa ăn cho chúng ta.

Lúc cha còn sống, nhà chúng ta là nhà sống tốt nhất trong làng. 

Mẹ kế hiền lành tháo vát, quần áo của chúng ta luôn sạch sẽ, huynh trưởng còn có tiền để đi học ở trường tư.

Cha vừa mất, vì phải lo liệu tang lễ cho ông ấy, mua quan tài, mời thầy cúng làm lễ.

Tiền học trường tư của huynh trưởng vì khai giảng mùa thu đã đóng một lần rồi, gia đình vốn đã nghèo lại càng thêm khó khăn.

Ta cẩn thận nhìn mẹ kế, cúi đầu ăn cơm.

Mẹ kế gắp một đũa rau cho vào bát ta.

Rau dại là ta dắt đệ đệ đi hái, hy vọng mẹ kế nhìn thấy ta cũng có ích, sẽ không bán ta đi.

Đột nhiên, huynh trưởng nói: “Con không muốn đi học nữa.”

Tim ta chùng xuống, lúc cha còn sống, luôn muốn huynh trưởng đi theo con đường khoa cử, không phải cực khổ làm ruộng như ông ấy.

Cha vừa mất, cho dù huynh trưởng không nói, nhà chúng ta ngay cả cơm cũng không đủ ăn, làm sao có thể cho huynh ấy đi học được?

Nước mắt ta lặng lẽ rơi vào bát.

“Ngươi dám không đi học, ta sẽ đánh gãy chân ngươi!” Mẹ kế hung dữ nói.

Sau khi cha mất, tính cách của mẹ kế thay đổi chóng mặt, trước đây là một người dịu dàng, bây giờ còn đáng sợ hơn cả cha lúc mắng chửi.


Bà ấy lại mắng tiếp, mắng cha nhẫn tâm, mắng chúng ta là gánh nặng.

Chúng ta không dám nói gì, vội vàng ăn cơm.

Ta đeo gùi lên núi sau đốn củi.

Gặp bà Hoàng, bà ấy dúi cho ta mấy hạt lạc, hỏi ta: “Mẹ kế của con lại mắng các con à?”

Ta khẽ gật đầu.

Bà Hoàng “ồ” lên một tiếng, lầm bầm: “Quả nhiên mẹ kế không có ai tốt cả.”

Rồi bà Hoàng nhỏ giọng nói với ta: “Nhị Nữu, đừng cãi lại mẹ kế con, bà ấy mắng thì cứ để bà ấy mắng.”

Mẹ kế không tốt, ta đã nghe rất nhiều lần rồi.

Từ khi bà mối bắt đầu mai mối cho cha, cho đến khi mẹ kế về nhà, người trong làng đều đang chờ xem mẹ kế sẽ hành hạ ta và huynh trưởng như thế nào.

Nhưng khi cha còn sống, mẹ kế rất quan tâm đến chúng ta. 

Người lớn nói vì cha không dễ chọc, mẹ kế sợ bị cha đánh.

Cha mất rồi, mẹ kế ngày nào cũng mắng chúng ta, người trong làng đều nghe thấy, rồi nói, quả nhiên là vậy.

Ánh mắt nhìn ta và huynh trưởng đều mang theo sự thương hại.

Ta cẩn thận cất mấy hạt lạc vào túi vải nhỏ đeo trên cổ, tiếp tục đi lên núi.

Mùa thu lá rụng nhiều, lá kim của cây thông cũng rụng nhiều, đều đã ngả vàng, mang về nhà có thể dùng để nhóm lửa.

Ta dùng liềm cắt một ít cành cây,

Lại nhặt thêm một ít cành cây, buộc thành một bó đầy ắp gùi, lảo đảo trở về nhà.

Đốn củi và cắt cỏ là những việc ta làm thành thạo nhất, bởi vì trước đây mẹ kế đi làm, bà ấy bảo ta dắt đệ đệ đi theo, chúng ta chơi bên cạnh, bà ấy làm việc.

Bây giờ bà ấy làm công việc của cha, đi cuốc đất, trồng trọt.

Ta về đến nhà, mẹ kế đang ngồi dưới mái hiên, vừa đ.ấ.m lưng vừa nghỉ ngơi.

Đệ đệ nhìn thấy ta, vui mừng chạy đến ôm, ta vội vàng mang củi vào bếp.

Rửa tay xong ta mới ôm đệ đệ.

Huynh trưởng cũng cầm cuốc về đến nhà, chân đầy bùn đất.

Ta lấy mấy hạt lạc bà Hoàng cho ra đếm, tổng cộng có sáu hạt.

Ta đưa cho mẹ kế: “Dì, con có lạc này.”

Trên mặt mẹ kế hiện lên vẻ vui mừng, nhận lấy, chia lạc thành ba phần, ba đứa trẻ chúng ta mỗi đứa hai hạt.
Bà ấy lặng lẽ ngồi bên cạnh nhìn trời dần tối.
Ta cảm thấy hơi cô đơn, chỉ biết ôm chặt đệ đệ.

Bà Hoàng lại chạy đến nhà chúng ta, trên mặt vừa phấn khích vừa căm phẫn.

Bà ấy nói với mẹ kế: “Muội muội! Trưởng làng nói, tối nay mọi người sẽ đến gõ mõ bàn bạc về ruộng đất của Trường Quý ca để lại!

Mặt mẹ kế tái mét…

Gõ mõ là nơi dân làng chúng ta bàn bạc những việc quan trọng.

Lần trước bàn bạc việc lớn, là cùng nhau xây cầu, không xây cầu thì chúng ta không có cách nào ra khỏi làng.

Kết quả cha ta qua đời.

Bây giờ cha mất được một tháng, người trong làng đã nhòm ngó đất của cha rồi!

Một lát sau, đại bá phụ và tam thúc đều đến nhà.

Huynh trưởng đổ nước vào nồi, ta nhóm lửa, huynh ấy cho vài củ khoai vào, đó chính là bữa tối của chúng ta.

Chúng ta đều nín thin thít, chăm chú lắng nghe câu chuyện của người lớn.

Mẹ kế bắt đầu khóc, tiếng khóc nghẹn ngào cố nén lại.

Nhưng ba huynh muội chúng ta vẫn nghe thấy. 

Kể cũng lạ, hôm nay đệ đệ chẳng hề nghịch ngợm như mọi khi.

Bá phụ thẳng thắn nói: “Đệ muội, muội cho chúng ta một lời chắc chắn. Trường Quý đã mất, muội còn trẻ, nếu muốn đi bước nữa, chúng ta cũng không trách. Còn nếu muội muốn ở lại nuôi con, chúng ta dù có phải liều chết cũng không để ai cướp mất ruộng đất của Trường Quý!”

Lời bá phụ nói ra đầy sát khí, khiến chúng ta sợ hãi, tim đập thình thịch, lo rằng sẽ có ẩu đả xảy ra.

Năm ngoái, làng lại chia ruộng đất một lần nữa.

Ấy là do cha yêu cầu, bởi vì đệ đệ là con trai.

Năm nay đã sáu tuổi, nên được chia phần ruộng.

Ruộng đất trong làng được chia theo số lượng nam nhân trong nhà, giờ cha mất rồi, nhà ta thiếu mất một người, làng muốn thu hồi lại ruộng đất.

Ta nghe thấy mẹ kế nói: “Ta gả cho ai bây giờ? Lão già chết tiệt ấy không nghe lời ta khuyên can, cứ khăng khăng đi sửa cầu, giờ bỏ lại bốn mẹ con ta côi cút, mặc người ta ức hiếp. Ta chết rồi cũng phải vào mộ tổ Chu gia, hỏi cho ra nhẽ lão có biết mình sai lầm không!”

Nước mắt của huynh trưởng rơi lã chã trên tay ta.

Huynh ấy ôm chặt ta, nói: “Muội muội đừng sợ, ca ca nhất định sẽ bảo vệ muội và đệ đệ!”

Mẹ kế vào bếp, bà dặn dò chúng ta: “Ăn khoai xong thì đi ngủ đi. Đại Lang, ngày mai con tự đi học nhé.”

Bà vắt con dao phay vào sau lưng.

Hình như bà muốn liều mạng với người ta.

Tâm trạng chúng ta đều nặng trĩu.
Cuối cùng, em út cũng ăn khoai xong rồi ngủ. 

Huynh trưởng dẫn ta lén lút chạy ra gác trống nghe trộm người lớn nói chuyện.

Mẹ kế đang xõa tóc, vừa khóc vừa gào thét: “Kẻ nào dám lấy ruộng đất nhà ta, thì hôm nay không ta chết, thì ngươi vong mạng!”

Bà rút con dao phay ra, chỉ thẳng vào mấy nam nhân trong làng đang vây quanh bà!

Mấy nam nhân kia thấy vậy liền lùi lại một chút.

Hình như họ có chút kiêng dè con dao trên tay mẹ kế.

Bá phụ và tam thúc đứng sau lưng mẹ kế, cùng đối phó với bọn họ.

Mọi người bắt đầu khuyên can mẹ kế bình tĩnh lại.

Mẹ kế lớn tiếng mắng: “Bình tĩnh? Ta làm sao bình tĩnh được! Ta một mình nuôi nấng ba đứa con, lương thực trong nhà vốn đã chẳng đủ ăn, giờ lại còn bị thu hồi ruộng đất. Bốn mẹ con chúng ta sắp chết đói rồi! Cha của Trường Quý vì làng xóm mà bỏ mạng! Vậy mà giờ ông ấy vừa mới mất, các người đã dám ức hiếp mẹ con ta! Các người không sợ quả báo sao!”

Có người lẩm bẩm sao mẹ kế có thể mắng chửi người ta như vậy!

Mẹ kế quát: “Ta không chỉ biết mắng, mà còn dám chém người! Đừng tưởng ta là nữ nhân thì dễ ức hiếp!”

Cuối cùng, việc chia lại ruộng đất cũng tạm thời bị gác lại.

Nửa tháng trôi qua, huynh trưởng mỗi ngày về nhà càng lúc càng muộn.

Trước kia huynh ấy tan học còn về nhà phụ giúp việc đồng áng, giờ thì trời tối om om mới thấy về.

Hôm nay, huynh trưởng vừa bước chân vào cửa, mẹ kế đã ngồi sẵn trên ghế, tay cầm một cây roi tre: “Sao giờ này mới về?”

Huynh trưởng có vẻ hoảng hốt nói:  “Con bị thầy giữ lại.”

Mẹ kế nhìn huynh trường chằm chằm.

Không khí giữa hai người căng thẳng như dây đàn.

Nhưng mẹ kế lại không nói gì thêm.

Buổi tối, ta chạy đến chỗ huynh trưởng: “Ca ca, hôm nay muội và dì nghe bà lão họ Hoàng nói huynh chơi chung với mấy tên du côn trong trấn, còn bảo huynh học hư rồi. Huynh đừng chơi với bọn họ nữa nhé!”

Mấy tên du côn trong trấn là lũ người vô công rồi nghề, ai ai cũng ghét bọn chúng, bởi vì chúng chỉ biết đánh bạc, không chịu làm ăn, lại còn hay trộm cắp vặt. 

Ngay cả người nhà chúng cũng thấy xấu hổ.

Bà lão họ Hoàng khi kể chuyện này, giọng điệu vừa khinh thường, vừa có vẻ khoái trá, lại còn có chút sợ sệt. 

Bởi vì nếu bị lũ du côn đó để mắt tới thì chẳng yên thân đâu. 

Chúng là hạng người cùng đường, liều lĩnh, lại đi thành bầy thành nhóm, đánh nhau thì ai mà địch nổi.

Huynh trưởng quay lưng vào tường, ngủ mất.

Điều này khiến ta thấy lo lắng trong lòng.

Hôm sau, ăn cơm trưa xong, ta phải dắt đệ đệ đi cắt cỏ cho trâu vàng ăn.

Mẹ kế nói với ta: “Một lát nữa chúng ta đi đón ca ca con tan học.”

Ta nghe vậy thì mừng lắm, vì có thể được đi vào trấn! Cắt cỏ cũng nhanh tay hơn hẳn.

Nhưng nghĩ đến chuyện huynh trưởng học hư, lại nghĩ mẹ kế chắc chắn không rảnh rỗi mà đi đón huynh ấy, ta lại thấy bất an.

Về đến nhà, mẹ kế lấy bộ quần áo mới may cho ta dịp Tết ra.

Mẹ kế lại thay cho đệ đệ bộ quần áo mới, rồi mới dẫn chúng ta ra ngoài.

Bà cõng đệ đệ trên lưng, ta lẽo đẽo theo sau.

Mẹ kế đen đi nhiều, tay cũng chai sần hơn trước.

Chúng ta đến trường học chờ đợi, nhưng đợi mãi đến khi mọi người về hết, vẫn không thấy bóng dáng huynh trưởng đâu.

Thầy đồ ra ngoài, thấy chúng ta, liền lắc đầu thở dài: “Trong đám học trò, thông minh nhất là Chu Bảo Đình, vậy mà dạo này nó không đến lớp nữa!”

Sắc mặt mẹ kế sa sầm. Có người học trò mách huynh trưởng đang làm tiểu nhị ở một sòng bạc, chuyên bưng trà rót nước cho người ta.

Khi chúng ta đến sòng bạc, thì thấy huynh trưởng đang đứng ở cửa cùng với mấy tên du côn, giống như đang canh gác vậy.

Mẹ kế đưa đệ đệ cho ta bế, rồi xắn tay áo xông vào.

Huynh trưởng thấy mẹ kế thì hoảng hốt,  mẹ kế lao vào nắm lấy tai huynh ấy mắng: “Ta cho con ăn học đàng hoàng! Con có thấy hổ thẹn với ta không? Con có thấy hổ thẹn với cha con không?”

Mọi người thấy vậy đều dừng lại xem náo nhiệt.

Huynh trưởng mặt đỏ bừng, tức giận nói: “Con không thích đi học! Con không muốn đi học nữa! Con muốn kiếm tiền!”

Huynh trưởng vẫn còn giãy giụa, không muốn bị mẹ kế khống chế.

Ta thấy mẹ kế bị huynh ấy giãy giụa làm cho lảo đảo, trong lòng lo sợ mẹ kế không đánh lại huynh ấy mất rồi. 

Nếu vậy thì sẽ chẳng ai quản được huynh ấy nữa.

Mẹ kế quát: “Nhị Nữu, tìm cho ta một cây roi!”

Bên cạnh có người bán sọt tre, vừa hay có sẵn mấy cây trúc.

Ta cầm lấy cây trúc đi tới, nhưng lại do dự.

Ta vậy mà lại đang giúp mẹ kế!

Những người xung quanh đều chỉ trỏ bàn tán: “Ây da! Cha nó chết rồi, mẹ kế chẳng phải đang muốn đánh chết đứa con của vợ trước đó sao! Chậc chậc chậc, quả nhiên mẹ kế chẳng có ai tốt đẹp cả!”

Mẹ kế trừng mắt nhìn ta: “Đưa đây cho ta!”

Ta run rẩy đưa cây trúc cho bà.

Mẹ kế vụt roi vừa nhanh vừa chuẩn, miệng không ngừng mắng: “Ta cho con học hư! Ta cho con học hư! Còn dám nữa không? Còn dám nữa không!”

Mẹ kế đánh cho đến khi đám người xem náo nhiệt giải tán hết, huynh trưởng cũng khóc ầm lên, mà bà vẫn không dừng tay.

Ta và đệ đệ cùng khóc lóc van xin: “Dì ơi, đừng đánh ca ca nữa, hu hu hu, đừng đánh nữa…”

Mẹ kế không nghe, ta liền chạy tới ôm lấy huynh trưởng, che chắn cho huynh ấy. 

Roi trúc quất lên người ta, đau quá, đau quá!

Đệ đệ cũng khóc lóc ôm lấy ta.

Ba huynh muội ôm chặt lấy nhau, khóc đến rung trời chuyển đất.

Đợi đến khi không bị đánh nữa, chúng ta mới rụt rè nhìn mẹ kế.

Mẹ kế nhìn huynh trưởng , hỏi: “Có chịu quay lại trường học không?”

Mông huynh trưởng rớm máu, huynh ấy lí nhí: “Con chịu.”

Để kiếm thêm tiền, mẹ kế bắt đầu đi khắp nơi trong trấn nhận thêu khăn tay, khâu đế giày các loại.

Huynh trưởng quay lại trường học tiếp tục học hành.

Mỗi tối, mẹ kế đều kiểm tra bài vở của huynh ấy.

Mẹ kế không biết chữ, nên muốn huynh trưởng dạy ta đệ đệ học. 

Bà ấy thì ngồi bên bếp lửa, vừa sưởi ấm vừa làm đồ thêu.

Có hôm, ta thấy bà ấy lặng lẽ đếm những đồng tiền lẻ, rồi thở dài.

Huynh trưởng đi học cần một lượng bạc, mà nhà ta thì làm gì có.

Huynh ấy phải học ít nhất là 5 năm, đến năm 14 tuổi mới được đi thi Hương.

Nếu thi không đậu, huynh ấy lại phải tiếp tục đến trường học.

Bá phụ và tam thúc rủ nhau ra sông đánh cá. 

Trước kia cha thường đi cùng, giờ thì mẹ kế đi theo.

Bá phụ và tam thúc có vẻ muốn nói gì đó rồi lại thôi.

Mẹ kế liền nói: “Đại Lang muốn đi học thì phải có tiền.”

Bá phụ khinh khỉnh nói: “Các người đúng là mơ mộng hão huyền! Đọc sách thì có ích gì? Chi bằng nó ở nhà làm việc còn hơn!”

Đại ca và nhị ca nhà bá phụ đều không đi học, ngày ngày ở nhà làm việc. 

Ruộng đất nhà bá phụ được chăm sóc cẩn thận, không giống như ruộng nhà ta, cỏ dại mọc um tùm, chẳng ai có sức mà nhổ.

Mẹ kế vẫn kiên quyết đi đánh cá.

Bà ấy đúng là người cố chấp, cố chấp muốn cho huynh trưởng được đi học.

Mẹ kế đi theo ba ngày liền, ngày nào cũng đánh cá đến nửa đêm mới về. 

Sáng hôm sau, trời còn chưa sáng, bà đã gánh cá ra chợ bán.

Huynh trưởng đi học, cõng đệ đệ trên lưng, còn ta thì cõng cặp sách cho huynh ấy.

Ta thật sự rất ngưỡng mộ huynh ấy. Những đứa trẻ khác đều phải làm việc, chỉ có huynh ấy được ngồi trong lớp học.

Mẹ kế bán cá cũng kiếm được ít tiền, nhưng vẫn không đủ đóng học phí.

Hơn nữa, bà ấy làm việc quá sức nên bị ốm, sốt cao mê man.

Huynh trưởng muốn đi mời thầy lang, nhưng mẹ kế không cho.

Chúng ta đành nấu nước gừng cho bà ấy uống,

Ta lại chạy sang nhà bá phụ xin ít rượu, xoa lên trán và sau tai cho mẹ kế.

Hôm sau, bà ấy cũng hạ sốt, nhưng người vẫn còn rất yếu.

Bá phụ và tam thúc đến giúp đỡ làm việc nhà.

Ta thì ở nhà nấu cơm, trông đệ đệ, cắt cỏ cho trâu vàng ăn.

Có lúc ta dẫn đệ đệ, dắt trâu vàng lên sườn núi gần rừng để ăn cỏ.

Ta nghe người ta kể chuyện, rằng có những con vật tu luyện thành tinh, có thể biến ra vàng bạc châu báu. 

Ta thường hay hướng về phía núi mà gọi: “Có ai không? Có ai không?”

Hoặc là ta nói với trâu vàng: “Hoàng Ngưu bá bá, ông biến ra ít tiền cho con được không?”

Trâu vàng rất quấn quýt ta. 

Trước kia nó ốm nặng sắp chết, cha mua nó về với giá rất rẻ, định bụng giết thịt. 

Nhưng rồi nó khỏi bệnh, cha không nỡ giết nữa. 

Từ ngày đầu tiên nó về nhà ta, ta là người cho nó ăn, chăm sóc nó, cũng giống như ta chăm sóc đệ đệ vậy. 

Nó rất ỷ lại vào ta, mỗi khi ta nói chuyện, nó đều nhìn ta chăm chú.

Ta cầu nguyện mãi, cuối cùng mẹ kế cũng khỏi bệnh, lại có thể ra đồng làm việc.

Nhưng vẫn chẳng có con vật thành tinh nào biến ra tiền cho ta cả.

Một hôm, trâu vàng không nghe lời ta, cứ thế chạy lên núi.

Ta tức giận mắng nó, vì trời ngày càng lạnh, ta không muốn lên núi chịu rét.

Nhưng nó không chịu nghe, ta đành phải dắt đệ đệ đuổi theo.

Chúng ta đi một lúc lâu, thì nó dừng lại trước cửa một cái hang, vươn đầu vào trong, ra hiệu cho ta nhìn.

Trong hang… là một con heo rừng đã chết!!!

Con heo to lớn!!!

Trời ơi, phát tài rồi!!!

Ta kích động đến nỗi mặt đỏ bừng.

Con heo rừng này, dù không mang đi bán thịt, chỉ để ở nhà ăn thôi, thì mùa đông này cả nhà cũng có thịt ăn no nê rồi!

Nghĩ đến mùi vị thơm ngon của thịt heo, ta nuốt nước miếng ừng ực.

Ta nhỏ giọng hỏi đệ đệ: “Út ơi, có muốn ăn thịt không?!”

“Muốn!” Nó đáp ngay tắp lự, rồi lại tủi thân xoa xoa cái bụng: “Nhị tỷ, đệ đói quá.”

“Đợi tối nay về nhà là có thịt ăn no nê rồi!”

Ta ôm lấy cổ trâu vàng, hôn nó một cái thật kêu: “Hoàng Ngưu bá bá! Ông đúng là trâu vàng thành tinh rồi!”

Không biết có phải ta nhìn nhầm không, mà hình như lông mày và ánh mắt của nó cong cong như đang cười.

Vui mừng một lúc, ta lại thấy lo lắng.

Vì làm sao để đưa con heo rừng ra khỏi hang, rồi mang về nhà là một vấn đề nan giải.
Không thể nói cho ai biết, cũng không thể lớn tiếng gọi người đến, nhỡ đâu bị người ta nghe thấy, con heo rừng sẽ bị cướp mất.

Trời dần tối.

Trong rừng thi thoảng lại vọng ra tiếng chim kêu thê lương, nghe thật rợn người. 

Trời cũng càng lúc càng lạnh.

Ta quan sát một lượt, thấy cái hang này không phải bẫy thợ săn đặt, mà là một cái hang trống không. 

Con heo rừng chắc là bị rơi xuống, không leo lên được, rồi chết đói trong đó.

Chắc là nó mới chết được một hai hôm.

Nếu bây giờ về gọi mẹ kế, nhỡ đâu lúc bà ấy đến thì con heo rừng đã bị người ta tha đi mất rồi thì sao?

Một lát sau, ta quyết định liều một phen.

Ta nhìn trâu vàng, vỗ vỗ đầu nó: “Hoàng Ngưu bá bá, nhà chúng ta có được ăn thịt heo hay không, đều trông cậy vào ông đấy!”

Ta cởi dây thừng trên sọt tre, buộc vào cây, rồi đeo sọt tre và cái liềm, tụt xuống hang.

Đệ đệ nằm sấp bên mép hang, lo lắng nhìn ta.

Ta dặn nó: “Út đừng nhúc nhích, ngã xuống là đau đấy.”

Nó vội vàng lấy tay che mông, chớp chớp mắt, nghiêm túc gật đầu.

May mà mỗi lần ra ngoài, ta đều mang theo liềm và sọt tre.

Ta cắt phần thịt dễ cắt nhất ở bụng con heo bỏ vào sọt, chỗ nào có xương thì ta tránh. 

Cứ thế, ta cắt mãi, cắt mãi, đến khi trời tối đen, mà cái sọt nhỏ cũng chỉ mới đầy được hơn một nửa.

Nặng quá!

Ta không dám tham lam nữa.

Ta cõng sọt tre, cố sức bám vào dây thừng leo lên.

Ta vội vàng dắt đệ đệ và trâu vàng, loạng choạng men theo đường núi trở về.

Vì đi quá xa, trời lại tối, đệ đệ ngã mấy lần, nhưng nó không khóc, chỉ nắm chặt tay ta. 

Dưới ánh trăng mờ ảo, ta thấy nét mặt nó rất nghiêm nghị.

Xuống đến chân núi, ta nghe thấy tiếng mẹ kế  gọi: “Nhị Nữu! Tam Oa! Bảo Châu! Bảo Sơn!”

Huynh trưởng cũng đang gọi ta!

Ta lớn tiếng đáp: “Dì ơi! Ca ca! Chúng con ở đây!”

Ta mệt quá!

Trên lưng nặng ít nhất cũng phải 30 cân!

Ta cần người giúp đỡ!

Ai ngờ vừa thấy ta, mẹ kế đã vung roi đánh tới tấp!

Ta đau quá, vội rụt tay lại.

Nước mắt cứ thế tuôn rơi.

“Các con chạy đi đâu vậy? Không thấy trời tối rồi sao? Có biết ta lo lắng lắm không hả? A! Có phải một ngày không mắng, da các con liền ngứa ngáy phải không!”

“Oa!!! Hu hu hu!!!” Đệ đệ òa khóc: “Không cho đánh nhị tỷ!!! Hu hu hu!!!”

Ta cũng khóc, vừa khóc vừa nhỏ giọng nói: “Dì ơi, hu hu, con không có ham chơi, hu hu, trong sọt của con có, có, hu hu, có thịt heo, con, con, con cõng nặng đi không nhanh được, hu hu…”

“Cái gì?!”

Ta nhỏ giọng kể lại đầu đuôi câu chuyện.

Mẹ kế và huynh trưởng đều lo lắng liếc nhìn xung quanh xem có người không.

Rồi lại nhỏ giọng hỏi: “Trên đường có gặp người quen không?”

Ta lo lắng đáp: “Không ạ.”

Mẹ kế nhận lấy sọt tre của ta, nhanh chóng về nhà, huynh trưởng cõng đệ đệ đi theo.

Họ để ta ở lại đó chờ.

Không lâu sau, mẹ kế gánh theo đòn gánh quay lại.

Huynh trưởng thì cõng theo một cái sọt tre lớn hơn.

Ta dắt trâu vàng, vội vàng dẫn đường phía trước.

Thật là một buổi tối nguy hiểm. Tim ta đập thình thịch không thôi.

Mẹ kế và huynh trưởng cầm đuốc, dùng dao chặt con heo rừng ra từng khúc.

Mẹ kế gánh theo sọt, huynh trưởng cõng sọt tre, bên trong chất đầy thịt heo.

Họ không cho ta cõng nữa, ta liền cầm đuốc soi đường.

Cuối cùng, cả nhà cũng bình an vô sự trở về.

Đệ đệ sớm đã ngủ say trên giường, mẹ kế cài then cửa xong, mệt mỏi ngã người xuống ghế.

“Có đói bụng không?” bà ấy hỏi.

Ta gật đầu. Mẹ kế đưa tay sờ lên mặt ta, khiến ta có chút bất ngờ.

Từ sau khi cha mất, mẹ kế  trở nên hung dữ và nóng nảy, chẳng còn dịu dàng như trước nữa.

“Tối nay chúng ta ăn thịt heo!” bà ấy vui vẻ nói, rồi đi vào bếp chuẩn bị bữa tối.

Huynh trưởng nắm lấy tay ta, nhìn những vết roi hằn đỏ trên đó, nhỏ giọng hỏi: “Có đau không?”

Nước mắt ta lại trào ra, cắn môi lắc đầu.

Ta gọi thằng đệ đệ, dắt nó đi rửa mặt, rồi chúng ta ngồi chờ đợi bữa tối thơm phức.

Đó thật sự là bữa cơm thịnh soạn nhất ta được ăn từ sau khi cha mất.

Mẹ kế nấu cơm, bên dưới thùng gỗ còn để thịt heo và củ cải hầm chung.

Cơm chín, thịt cũng chín. Bà ấy cắt thịt nạc để vào đĩa, còn mỡ heo thì cho vào chảo rán.

Chúng ta ăn no căng bụng.

Ta và đệ đệ nhanh chóng chìm vào giấc ngủ.

Trong lúc mơ màng, ta vẫn nghe thấy tiếng mẹ kế và huynh trưởng ở trong bếp bận rộn chặt thịt.

Hôm sau, khi ta tỉnh dậy, trong nhà trống không, chỉ có đệ đệ đang mở to mắt, nhìn chằm chằm vào chân mình.

Thấy ta dậy, nó vui vẻ nói: “Tỷ tỷ dậy rồi! Chúng ta ăn cơm thôi!”

Trên bàn vậy mà có tận hai quả trứng!!!

Ta mừng rỡ vô cùng.

Ở nhà ta, trứng gà là món ăn quý giá, chỉ khi nào bận rộn việc đồng áng, phụ giúp thật nhiều việc, chúng ta mới được ăn.

Ngoài ra còn có cơm và thịt nữa.

Ta vẫn như thường lệ cõng sọt tre, dắt trâu vàng và đệ đệ  ra ngoài.

Trâu vàng ăn cỏ, ta và đệ đệ  thì đi nhặt củi.

Mùa đông đến rồi, phải nhặt thật nhiều củi dự trữ mới đủ để sưởi ấm qua mùa đông.

Đến trưa, chúng ta trở về nhà, nhưng trong nhà vẫn vắng tanh.

Ta thấy hơi sợ.

Bà lão họ Hoàng lại đến sân nhà ta, cười tủm tỉm nhìn ta.

Bà ấy hỏi: “Nhị Nữu, thịt heo rừng nhà con từ đâu mà có thế?”

Ta không biết có nên nói thật với bà ấy hay không.

Bà lão họ Hoàng lại lấy đậu phộng ra cho ta, nhỏ giọng hỏi: “Có phải là anhchàng bán hàng rong ở làng bên cạnh cho mẹ kế con thịt heo phải không?”

“Đừng giấu bà già này nữa, mẹ kế con một thân nữ nhi, làm sao săn được heo rừng? Ngay cả cha con ngày xưa cũng khó! Nhất định là chàng trai bán hàng rong ở làng bên cạnh muốn cưới mẹ kế con, nên đem thịt heo đến làm quà đấy!”

Bà ấy thở dài, nhìn ta, “chậc chậc” hai tiếng, rồi lắc đầu: “Khổ thân những đứa trẻ, mất mẹ, lại mất cha, giờ đến cả người mẹ kế đánh mắng các con cũng không còn!”

“Dì con… thật sự muốn đi lấy người khác sao?”

Giọng ta nghẹn ngào hỏi.

“Đừng sợ, Nhị Nữu à, xem bá phụ và tam thúc con có thể…” Bà ấy thở dài: “Hai nhà họ cũng nhiều con cái, ăn còn chẳng đủ no, đáng thương thay…”

Bà lão họ Hoàng chậm rãi bỏ đi. 

Ra đến ngã ba đường, gặp một thẩm thẩm, hai người lại dừng lại nói chuyện, vừa nói vừa nhìn về phía nhà ta, rồi lại càng nói càng hăng say.

Lòng ta lạnh toát. Ta ngồi trên ghế trúc khóc nức nở, khóc đến mức toàn thân lạnh run.

Đệ đệ leo lên người ta, hỏi: “Tỷ tỷ, tỷ khóc cái gì vậy?”

“Dì… dì không cần chúng ta nữa…”

“Oa!!! Hu hu hu!!!”

Ta nhớ ra quần áo bẩn vẫn chưa giặt, liền đi giặt quần áo.

Ta hy vọng nếu mình ngoan ngoãn, biết nghe lời, thì mẹ kế sẽ không bỏ đi nữa.

Hoặc là nếu bà ấy có đi, cũng sẽ mang theo chúng ta.

Ta không muốn trở thành đứa trẻ ăn xin.

“Xin hỏi, đây có phải nhà Chu Nhị Lang không?”

Một nam nhân gánh theo sọt, tướng mạo thật thà đứng ở cửa sân hỏi.

Là chàng trai bán hàng rong!

Bên cạnh còn có bà mối trước kia từng đến mai mối cho cha ta!

Ta và đệ đệ khóc to hơn.

Hắn ta cho chúng ta kẹo, nhưng chúng ta kiên quyết không nhận.

Hắn ta ngồi ngoài sân chờ mẹ kế.

Trong làng, người ta nghe tin cũng kéo đến xem, tiện thể mua hàng, hỏi han xem hắn ta đến làm gì.

Bà mối và mấy thẩm thẩm trong làng nói chuyện rôm rả.

Họ thì thầm to nhỏ, ánh mắt trao đổi liên tục, vừa nhìn là biết đang bàn tán chuyện gì đó ghê gớm lắm.

Một lát sau, họ lại cười phá lên rộn ràng.

Qua hơn một canh giờ, mẹ kế và huynh trưởng cuối cùng cũng vội vã trở về.

Huynh trưởng cho ta và đệ đệ mỗi đứa một cái bánh bao!

Đám người xem náo nhiệt cũng giải tán.

Chàng trai bán hàng rong được mời vào nhà ngồi.

Bà mối kéo mẹ kế vào phòng nói chuyện riêng.

Huynh trưởng im lặng bổ củi.

Chàng trai bán hàng rong không nói không rằng, liền gánh nước đổ đầy chum cho nhà ta.

Trước kia gánh nước là việc của cha, vì cha khỏe mạnh.

Về sau, mẹ kế sức yếu, nên chum nước nhà ta thường xuyên cạn sạch.

Bà mối và mẹ kế cuối cùng cũng đi ra.

Mắt mẹ kế đỏ hoe. Bà mối vẫn còn đang nói: “Muội còn trẻ mà! Chàng trai này ngày thường làm nghề gánh vác, kiếm tiền còn nhiều hơn làm ruộng! Hơn nữa, người ta cũng thật thà chất phác. Người trước kia của muội là do ta mai mối đấy, muội nói xem, ta nhìn người bao giờ sai?”

Chàng trai bán hàng rong vừa lúc gánh hai thùng nước về, thấy mẹ kế thì có vẻ ngại ngùng, đổ nước xong lại thở hồng hộc đi ra ngoài.

“Muội một thân nữ nhi, làm sao nuôi nổi ba đứa trẻ? Hơn nữa, đừng nói ta nói lời khó nghe, nhưng mẹ kế mà, có làm nhiều đến mấy, người ta trong lòng cũng sẽ không coi muội là người thân! Muội nuôi lớn chúng rồi, chẳng phải là công cốc sao?”

Bà mối làm một động tác, kéo dài giọng nói: “Múc nước bằng giỏ tre! Vất vả mà chẳng được tiếng thơm gì!”

Mẹ kế chỉ lặng lẽ lau nước mắt.

Mẹ kế tiễn bà mối và chàng trai bán hàng rong ra về. 

Ta thấy bà mối đi xa một chút, chàng trai bán hàng rong và mẹ kế đứng lại, nói riêng với nhau điều gì đó.

Không khí trong nhà thật nặng nề. Huynh trưởng cũng len lén lau nước mắt.

Hôm huynh trưởng ra ruộng nhổ củ cải, ta lẽo đẽo theo sau lưng huynh ấy, hỏi: “Dì sẽ tái giá sao?”

Huynh trưởng cúi đầu nhổ củ cải: “Không biết.”

“Ồ.”

“Đừng sợ, tiểu muội,” Huynh trưởng nhìn ta, đôi mắt đỏ hoe: “Nếu không ai cần chúng ta, ca ca sẽ nuôi muội khôn lớn. Ca ca vĩnh viễn sẽ không rời xa muội.”

Ta thấy chua xót trong lòng, huynh trưởng  đang cố tỏ ra mạnh mẽ, dù trong lòng cũng sợ hãi, nhưng vẫn muốn làm chỗ dựa cho ta.

Chúng ta vẫn luôn chờ đợi mẹ kế nói chuyện tái giá.

Chàng trai bán hàng rong lại đến mấy lần, mỗi lần đều mang cho mẹ kế một ít đồ.

Có khi là một bao gạo, có khi là một con gà.

Mẹ kế đều không nhận, hắn ta liền ném đồ xuống rồi bỏ đi, mẹ kế lại đuổi theo cả dặm đường để trả lại.

Thời tiết ngày càng lạnh. Tay chúng ta đều bị nứt nẻ vì giá rét.

Thịt heo rừng trong nhà càng ngày càng vơi.

Một hôm, đệ đệ hỏi ta: “Tỷ, đệ muốn ăn thịt. Đệ chưa no.”

Ta đi lục chum thịt muối, nhưng chỉ còn lại một miếng.

Ta hỏi huynh trưởng: “Thịt heo đâu rồi?”

Huynh ấy “suỵt” một tiếng: “Bán lấy tiền rồi, đừng nói lung tung, kẻo nhà bị trộm.”

Chàng trai bán hàng rong không đến nhà ta nữa.

Ta biết mẹ kế sẽ không gả cho hắn ta, trong lòng mừng thầm.

Một hôm, ta thấy mẹ kế đang đếm tiền.

Rất nhiều túi tiền.

Ta kinh ngạc hỏi: “Dì, tiền ở đâu ra vậy?”

Bà ấy cũng “suỵt” một tiếng: “Nhất định đừng nói cho ai biết chúng ta có tiền, nếu có ai hỏi, con cứ bảo là dì đã trả hết nợ cho cha con rồi.”

Ta lo lắng gật đầu.

Bà ấy thở dài: “Số tiền này, công lớn nhất là của con, nhờ con lanh lợi phát hiện ra con heo rừng, nếu không…”

“Học phí của ca ca đủ rồi sao?” ta vội hỏi.

“Còn phải tiết kiệm thêm.”

Bà ấy đuổi ta ra ngoài.

Ta biết bà ấy chia tiền ra, cất giấu ở nhiều nơi khác nhau.

Thời tiết lạnh giá, cỏ cây đều khô héo.

Ta chỉ có thể cho trâu vàng ăn rơm khô.

Nó không hề kén chọn, vẫn ăn ngon lành.

Nhưng ta vẫn phải dắt nó ra bờ sông uống nước.

Vì nước trên ruộng cạn quá, mỗi lần uống, nó đều ngậm đầy một miệng bùn.

Mẹ kế mắng ta: “Trời lạnh thế này, con muốn chết cóng à? Nó được đúc bằng vàng hay sao mà phải uống nước sạch như vậy!”

Ta sợ hãi nhìn mẹ kế.

“Ta gặp phải các con, đúng là nghiệp chướng!”

Bà ấy lấy một chiếc áo cũ đưa cho ta: “Bọc tay con lại! Đông cứng hết cả rồi, không muốn giữ đôi tay này nữa sao!”

Ta hít hít mũi: “Cảm ơn dì.”

Bà ấy điểm nhẹ vào trán ta: “Về sớm đấy, hôm nay đông chí, dì nấu canh thuốc.”

Canh thuốc là món canh hầm gà ác với đủ loại thảo dược, thơm ngon bổ dưỡng.

Ta gật đầu, rồi dắt trâu vàng ra ngoài.

Trâu vàng chậm rãi uống nước, vừa uống vừa ngẩng đầu nhìn trời.

Trong lòng ta chợt thấy buồn, nói với nó: “Hoàng Ngưu bá bá, tối qua dì và ca ca nói muốn bán ông đi để lấy tiền cho ca ca đóng học phí. Hu hu, chúng ta là bạn tốt của nhau mà. Con không nỡ xa ông, nhưng ca ca rất thích đi học. Hay là ông bị bán đi rồi, tìm cách trốn về nhé? Nhưng mà… không được, làm vậy là không thành thật. Vậy… chúng ta lại lên núi một chuyến nữa đi, xem có con heo rừng nào không nhé?”

Từ sau lần trâu vàng tìm thấy con heo rừng, đừng nói là ta, ngay cả huynh trưởng mỗi khi tan học về nhà cũng đều dắt nó ra ngoài đi dạo, hy vọng nó sẽ lại giúp chúng ta tìm được con mồi nào đó.

Nhưng chẳng có lần nào may mắn như vậy nữa.

Đi nhiều lần như vậy, trâu vàng còn biết cách giả vờ, nó nằm lăn ra đất, mặc kệ ta kéo thế nào cũng không chịu đi.

Chúng ta đành từ bỏ ý định tìm kiếm “kho báu” nhờ trâu vàng.

Hôm nay, trâu vàng lại đưa đầu đến gần, ta sờ sờ đầu nó.

Bỗng nhiên, nó quỳ nửa người xuống đất.

Ta kinh ngạc hỏi: “Ông muốn cho ta cưỡi sao?”

Nó “hừ” một tiếng.

Ta cẩn thận trèo lên lưng nó, nắm chặt lấy bộ lông của nó .

Trâu vàng không đưa ta về nhà, mà đi dọc theo bờ sông. Con đường bằng phẳng, dễ đi.

Càng đi, nhà cửa hai bên bờ càng thưa thớt, chỉ còn lại núi non trùng điệp.

Chúng ta đi được một lúc, nó dừng lại, quỳ nửa người xuống đất, ra hiệu cho ta xuống.

Nó đi thêm vài bước, rồi duỗi đầu ra, chỉ về phía bụi tre.

Ta tò mò vén đám cỏ ra, thì thấy bên trong có mấy con… thỏ con mới sinh?

Ta lại đi xa hơn một chút, thì phát hiện ra cửa hang rắn, xung quanh có rất nhiều lông thỏ.

Thế là ta lại nhặt được “vàng”!

–——-

Đứng trong bếp, mặt ta đỏ bừng!

Vì vừa nãy mẹ kế đã hôn ta một cái.

Bà ấy vui mừng lắm. Ta bưng bát canh nóng hổi, bên trong có một cái đùi gà.

Đệ đệ cứ hỏi mãi làm sao ta tìm thấy được mấy con thỏ con.

Ta cười tủm tỉm kể lại chuyện lúc nãy.

Huynh trưởng chua chát nói: “Mấy con vật nhỏ nhà mình đúng là biết nhận chủ rồi, chỉ có muội sai bảo được chúng, cũng chỉ quấn quýt với mình muội!”

Mẹ kế mỉm cười, ánh lửa bập bùng hắt lên khuôn mặt dì ấy.

Bà ấy đang lót ổ cho thỏ con, đặt ở chỗ không xa không gần bếp lửa, vừa đủ ấm.

Rồi bà ấy còn nấu cháo cho chúng ăn nữa.

Mẹ của mấy con thỏ con chắc là bị rắn ăn thịt rồi.

Tuy rằng tàn nhẫn, nhưng khi chúng lớn lên, ta cũng sẽ bán hoặc làm thịt chúng.

Mùa đông ngày càng lạnh, chúng ta rất ít khi ra ngoài.

Trong chum còn một ít thịt, ngoài ra còn có cải thảo, củ cải và khoai lang dự trữ.

Trường học của huynh trưởng cũng được nghỉ. 

Huynh ấy dùng cành cây viết chữ trên nền đất để dạy chúng ta.

Mẹ kế thì ngồi bên cạnh khâu đế giày.

Xuân về, những chú thỏ con của ta đã lớn, lông mọc xù xì.

Mỗi ngày ta lại có thêm một việc cần làm, đó là cắt cỏ cho thỏ.

Thỏ con rất kén ăn, còn kén chọn hơn cả trâu vàng.

Tổng cộng có năm con thỏ sống sót.

Mỗi lần đi qua nhà ta, bà lão họ Hoàng đều nhìn ta với ánh mắt trìu mến: “Nhị Nữu à, con thật sự là một cô bé năng động lại hiểu chuyện. Sau này bà sẽ tìm cho con một tấm phu quân tốt, con nhất định sẽ là một người vợ đảm đang!”

Ta ngượng ngùng cười.

Trong trấn có một vị quan nhân muốn ăn thịt thỏ, quản gia của ông ta đã đến mua hai con thỏ nhà ta.

Mẹ kế bán cho ông ta hai con thỏ đực, còn giữ lại một con đực và hai con cái.

Đến mùa hè, thỏ lại sinh thêm nhiều thỏ con.

Cuối cùng, mẹ kế cũng dành dụm đủ tiền học cho huynh trưởng.

Tối hôm trước ngày đóng học phí, mẹ kế kéo ba huynh muội chúng ta quỳ trước bàn thờ cha.

Ngoài tiền giấy và đồ cúng cho cha, còn có mấy túi tiền.

Bà nói với huynh trưởng: “Con có biết số tiền này từ đâu mà có không?”

Huynh trưởng gật đầu.

Mẹ kế nói: “Từ đâu mà có?”

“Heo rừng muội muội tìm thấy, bán được rất nhiều tiền. Tiền dì đi khâu đế giày, thêu vải bán, còn có tiền muội muội nuôi thỏ kiếm được.”

Mẹ kế lau nước mắt, nói với huynh trưởng: “Ta biết bạn học của con đều là con cái nhà quan lại, hương thân, phú thương, trong trường học chỉ có mình con là con nhà nông. Bọn họ thường xuyên khinh thường con, chê cười con mặc đồ rách rưới, ăn uống kham khổ. Nhưng nhà chúng ta chỉ có điều kiện như vậy, cho con đi học, đã dùng hết toàn bộ sức lực, may mà muội muội con và con trâu của nó, vận may tốt, mới có thể kiếm được chút tiền…”

“Con biết, dì,” Huynh trưởng mím môi, ánh mắt kiên định nói: “Con không để ý người khác chê cười con thế nào, bởi vì con biết lý tưởng con muốn là gì. Con sẽ học hành cho giỏi, tương lai thi đỗ công danh, để dì, muội muội, đệ đệ sống cuộc sống tốt đẹp!”

“Con hãy thề trước bài vị của cha con đi.”

“Con, Chu Bảo Đình, xin thề sẽ không phụ lòng dì, muội muội và đệ đệ. Con nhất định sẽ chăm chỉ học hành, thi đỗ công danh!”

Lời nói của huynh trưởng khiến ta chấn động. Huynh trưởng đã trưởng thành rồi.

Mẹ kế nói: “Mùa thu khai giảng, con sẽ ở lại trường học luôn nhé. Ta đã nói chuyện với thầy của con rồi.”

Huynh trưởng đi rồi, trong nhà vắng vẻ hẳn.

Bà lão họ Hoàng đến nhà ta chơi, thở dài nói: “Chu Nhị gia tức phụ à, nhà các người đúng là tâm cao hơn trời. Một đứa con nhà nông, sao có thể đi thi cử? Chi bằng để Đại Lang ở nhà phụ giúp việc đồng áng, tích cóp ít tiền, sớm ngày cưới thê tử!”

“Ngươi xem, giờ nó còn ở hẳn trong trường học nữa chứ! Ta nói này, đứa nhỏ này rời khỏi nhà rồi, tâm tính sẽ thay đổi, nhìn thấy thế giới bên ngoài, nó sẽ chê ngươi nghèo, chê ngươi xấu, chê nhà nghèo đấy.”

Mỗi lần huynh trưởng đến trường, mẹ kế đều làm một bát thức ăn thịnh soạn, gói ghém cẩn thận cho huynh ấy, lại còn chuẩn bị thêm bánh, dưa muối. 

Có khi may mắn, ta và đệ đệ đào được cá bống, cá nhỏ, mẹ kế sẽ chia một nửa cho chúng ta ăn, nửa còn lại đưa cho huynh ấy mang đi.

Bạn học của huynh trưởng, đứa nào đứa nấy đều ăn mặc lụa là gấm vóc, cử chỉ tao nhã, đúng mực.

Nhưng khi họ nhìn thấy chúng ta, lại đánh giá từ trên xuống dưới, khiến ta vô cớ muốn trốn đi.

Ta cảm thấy xấu hổ, tự ti vì mình không được như bọn họ.

“Bảo Đình, đây là mẹ kế và muội muội của ngươi sao?” 

Một thiếu gia bên cạnh có tiểu đồng đi theo cười hỏi: “Nghe nói nhà ngươi nghèo lắm, không bằng để muội muội ngươi làm nha hoàn cho ta, thế nào?”

“Không cần.”

Huynh trưởng lạnh lùng đáp.

Người kia tiếp tục nói: “Tương lai ta thu nhận muội muội ngươi làm thiếp, chắc chắn sẽ không để nhà các ngươi thiếu thốn bạc tiền, các ngươi cũng không cần phải tiều tụy thế này, cứ đứng co ro ở góc tường như ăn mày vậy. Ngươi xem, người ta còn tưởng thư viện chúng ta là nơi ăn mày cũng có thể vào học!”

Ta nhìn huynh trưởng nắm chặt tay. 

Trước kia, mỗi lần tên mập trong làng ức hiếp ta và đệ đệ, trước khi đánh nhau, huynh ấy đều có vẻ mặt như vậy.

Nhưng những người này không giống với lũ trẻ con trong làng. Nếu đắc tội với bọn họ, huynh ấy có thể sẽ bị đuổi khỏi trường học.

Một lát sau, huynh trưởng nói với chúng ta: “Ta dẫn mọi người đến cửa sau.”

Chúng ta tìm một nơi vắng người, nói chuyện với huynh trưởng.

Huynh trưởng nhỏ giọng nói: “Người vừa rồi là con trai của huyện lệnh, tên là Vương Phong, ta không thể đắc tội với hắn ta. Xin lỗi.”

Mẹ kế ôn hòa nói: “Con có thể nhận rõ tình thế, ta rất hài lòng.”

Ta nắm lấy tay huynh trưởng nói: “Đợi ca ca sau này làm quan to, chúng ta sẽ đánh hắn!”

“Đánh hắn!” Đệ đệ hung dữ phụ họa.

Cả nhà cùng cười phá lên.

Hình như ta rất có duyên với loài vật.

Người khác nuôi thỏ thường hay bị chết, còn thỏ của ta thì không, con nào con nấy đều khỏe mạnh, lớn nhanh.

Mẹ kế mua cho ta mười con vịt con, mười con gà con, tất cả đều lớn nhanh như thổi.

Mẹ kế ngạc nhiên nói: “Ta với con đúng là trái ngược nhau. Ta nuôi con gì chết con đó, đến nỗi không dám nuôi heo. Còn con, nuôi con gì, con nấy cũng đều quấn quýt.”

Ta nghe vậy thì đắc ý lắm.

Tiền ta kiếm được cho gia đình ngày càng nhiều.

Mẹ kế bảo huynh trưởng ghi chép cẩn thận, nói sau này số tiền đó sẽ là của hồi môn của ta.

Mẹ kế vẫn chưa cho đệ đệ đi học.

Các bà các thẩm trong làng không còn nói mẹ kế ác độc nữa, mà thường hay nói với chúng ta: “Đại Lang, Nhị Nữu, các con phải thật hiếu thuận với dì con đấy. Dì ấy vì các con mà hy sinh rất nhiều.”

Ta vừa ngoan ngoãn gật đầu, vừa cắt cỏ. 

Trâu vàng vẫn như cũ ở chỗ không xa, chậm rãi gặm cỏ, thỉnh thoảng lại ra hồ uống nước.

Bà lão họ Hoàng vẫn đang lải nhải, thì từ xa bỗng vang lên một giọng nói hào sảng: “Chu Bảo Đình thi đậu rồi!!!l Làng chúng ta có một vị cử nhân!!!”

Huynh trưởng thi Hương đỗ cử nhân!

Bà lão họ Hoàng quay đầu hỏi ta: “Thi đậu là gì?”

Ta lắc đầu: “Có phải ca ca ở trường học xảy ra chuyện gì rồi không?!”

Ta ném liềm xuống, vội vàng chạy về nhà, đệ đệ cũng lẽo đẽo theo sau.

Trâu vàng “ụm bò” một tiếng, cũng chạy theo.

Mẹ kế đang khóc nức nở, ta hoảng hốt hỏi: “Dì, làm sao vậy?”

Đệ đệ nắm chặt tay: “Có phải có người ức hiếp ca ca không? Con đi đánh chết hắn!”

Mẹ kế ngừng khóc, nhíu mày, hung dữ nói với đệ đệ: “Chu Bảo Sơn! Con mà dám đi đánh nhau, ta đánh chết con trước!”

Người đánh chiêng đến báo tin vui vẻ nói: “Chắc hẳn hai vị là muội muội và đệ đệ của vị cử nhân mới? Chúc mừng, chúc mừng! Chu cử nhân thi đậu rồi! Cậu ấy là vị cử nhân trẻ tuổi nhất đấy! Tương lai tiền đồ vô lượng!”

Mẹ kế nói với người kia: “Đại nhân, ngài đợi một chút.”

Mẹ kế vội vàng vào nhà.

Ta tò mò hỏi: “Là ca ca thi đậu sao? Nhưng huynh ấy có nói là sắp thi đâu?”

Mẹ kế lại vội vã đi ra, dúi cho người kia một xâu tiền, ta nhìn mà xót ruột.

Bà lão họ Hoàng đã đến cửa nhà ta xem náo nhiệt.

Bỗng nhiên, bà ấy reo lên: “Ôi ôi ôi! Chu Nhị gia tức phụ, ngươi nhìn xem, Đại Lang nhà ngươi cưỡi ngựa cao đầu trở về kìa! Trên ngựa còn có một đóa hoa đỏ to nữa!”

“Ca ca đẹp trai quá!!!” đệ đệ reo lên.

Ta cũng nhìn đến ngây người.

Cả làng kéo nhau ra xem náo nhiệt. 

Huynh trưởng ta thật oai phong lẫm liệt! 

Không chỉ được cưỡi ngựa, mà phía trước còn có nha dịch của nha môn cung kính dắt ngựa cho huynh ấy!

Bà con lối xóm đều đến chúc mừng, huynh trưởng ta chắp tay vái chào đáp lễ.

Đúng là phong thái của bậc đại nhân! 

Ta bỗng giật mình nhận ra, huynh ấy đã mười bốn tuổi rồi! 

Cũng đã đến tuổi trưởng thành, có thể tự mình gánh vác mọi việc. 

Mà ta lại không hề hay biết, huynh ấy đã khôn lớn nhanh chóng đến nhường nào. 

Còn ta cùng với đệ đệ, vẫn chỉ là những đứa trẻ con ngày ngày chơi đùa với đất cát ngoài đồng, ra ruộng bắt cá trạch, lên núi hái quả dại. 

Huynh trưởng giờ đây, trông chẳng khác gì bằng hữu đồng môn của huynh ấy, đều là những thiếu niên tuấn tú, phong độ ngời ngời, khiến người người ngưỡng mộ. 

Bọn họ và chúng ta, quả thật khác biệt một trời một vực. 

Ta bỗng nhớ đến ánh mắt khinh miệt của Vương Phong công tử – con trai của huyện lệnh khi nhìn chúng ta. 

Huynh trưởng à, huynh có bao giờ khinh thường ta như vậy không?

Đây là lần đầu tiên ta thấy mẹ kế sượng sùng đến vậy, tay chân luống cuống không biết để đâu cho phải! 

Bà ấy chà chà hai tay, lại nhìn thoáng qua đất bẩn trong kẽ móng tay, muốn đi rửa, nhưng đã không còn kịp nữa rồi. 

Đệ đệ đã chạy ra ngoài, lớn tiếng gọi: “Ca ca!!! Cho đệ cưỡi thử một chút với!” 

Mẹ kế vội vàng kéo đệ đệ lại. Hai tay bà ấy nắm chặt lấy vai đệ đệ, như muốn trấn an đứa nhỏ hiếu động này. 

Ta bước tới, nắm lấy vạt áo của mẹ kế, bà kéo ta lại gần. 

Huynh trưởng nhanh chóng xuống ngựa, bước qua đám người hàng xóm đang vây quanh, nhìn chúng ta, cuối cùng quỳ xuống trước mặt bà:”Mẹ, con không phụ lòng mong mỏi của mẹ, con thi đậu rồi!”

Mẹ kế lại khóc lên: “Nhị Lang à! Cuối cùng ta cũng đợi được ngày con thành tài rồi!” 

Huynh trưởng quỳ gối bước tới, ôm lấy ba chúng ta vào lòng. 

Vậy là cha đã qua đời được bốn năm rồi, thời gian trôi qua thật nhanh. 

Bà Hoàng nói với mọi người: “Nhà này bốn mẹ con cũng thật không dễ dàng, mẹ góa con côi, vẫn là nhị tức phụ có tầm nhìn xa trông rộng, biết cho Đại Lang đi học! Ngày đó, ta đã nói rồi, phải cho nó đi học! Đại Lang là người có tài!” 

Mọi người nghe vậy đều thi nhau bàn tán, xôn xao cả lên.

Mẹ kế khóc một lúc, rồi lại trở về dáng vẻ tháo vát thường ngày, bắt đầu thu xếp, chuẩn bị mua heo làm thịt mở tiệc chiêu đãi bà con lối xóm. 

Huynh trưởng đem toàn bộ số bạc quan phủ ban thưởng giao cho mẹ kế. 

Ta cảm thấy như đang nằm mơ vậy. 

Nhà cửa ngày nào cũng nhộn nhịp người ra người vào. 

Nhưng ta lại không thích thú gì cho cam. 

Mỗi khi có khách đến, ta lại dắt trâu ra ngoài đồng ăn cỏ, uống nước. 

Mẹ kế đã bán hết thỏ của ta rồi, chỉ còn lại ba con thỏ mẹ ban đầu. 

Mùa thu đến, khắp nơi đều bội thu. 

Trong làng có một cái ao, bên trong mọc đầy cỏ nước, cỏ dại tươi tốt, lão trâu vàng nhà ta rất thích nơi này. 

Đệ đệ thường ra ngoài khoe khoang với người ta huynh trưởng tài giỏi, lợi hại thế nào.

Còn ta lại cảm thấy huynh trưởng đang dần rời xa ta. 

Nửa tháng sau, huynh ấy thu xếp hành lý, chuẩn bị lên kinh ứng thí. 

Huynh trưởng kéo ta lại gần, ân cần hỏi: “Muội muội của ta có phải lớn rồi không? Sao dạo này suốt ngày ủ rũ suy tư vậy?” 

Ta ôm chầm lấy huynh ấy: “Ca ca, muội không nỡ xa huynh.”

“Đợi ca ca thi xong khoa thi xuân, có được chức quan, sẽ đón mẹ và hai đứa đến kinh thành ở cùng. Muội ở nhà phải ngoan ngoãn hiếu thuận với mẹ, biết chưa?” 

“Dạ, muội biết.”

Huynh trưởng khẽ xoa đầu ta, mỉm cười: “Tiểu muội nhà ta là hiểu chuyện nhất rồi, không cần ta phải dặn dò. Nhớ quản giáo thằng đệ một chút, ta thấy nó nghịch ngợm, sắp lật trời rồi đấy.” 

Ta bật cười khanh khách: “Huynh yên tâm, nó nào dám.”

Huynh trưởng đi rồi, cuộc sống của chúng ta lại trở nên yên bình như trước. 

Chỉ là người trong làng, mỗi khi gặp chúng ta, thường hay hỏi: “Đại Lang nhà các ngươi thi cử thế nào rồi?” 

Hoặc là nói: “Ấy chà, nhà các ngươi có tú tài rồi, còn làm việc gì nữa!” 

Mẹ kế thường xuyên đứng ở đầu làng ngóng trông tin tức từ kinh thành.

Có lúc bà lo lắng huynh trưởng gặp chuyện chẳng lành trên đường đi, có lúc lại sợ huynh ấy thi không tốt. 

Đệ đệ khẽ nói với ta: “Tỷ tỷ, đệ thấy trong lòng mẹ chỉ có mình ca ca là con trai thôi.” 

Ta liền trêu chọc nó: “Thế là ai suốt ngày ra ngoài khoe khoang, nói ca ca mình lợi hại lắm?”

Huynh trưởng đi rồi, mẹ kế bảo ta và đệ đệ cũng đến trường tư thục học hành. 

Ta không muốn đi chút nào, ta không nỡ xa lão trâu vàng và mấy con thỏ của ta. 

Đệ đệ càng không muốn đi, bắt nó ngồi trên ghế, cứ như là muốn giết nó vậy. 

Nhưng chúng ta đều sợ roi tre trong tay bà, đành phải đến trường tư thục chịu đựng dày vò.

 Mùa hè năm ấy, cuối cùng cũng có một đoàn người đến đón chúng ta! 

Người dẫn đầu là một thiếu niên tuấn tú, khôi ngô. 

Nha dịch của huynh trưởng sao lại đẹp trai như vậy?

Kinh thành quả nhiên rộng lớn trù phú, thật khiến người ta kinh ngạc! 

Huynh trưởng viết một bức thư, ta miễn cưỡng đọc được, đại ý là huynh ấy đã xin được một công việc ở kinh thành, có một ngôi nhà hai gian hai chái, đã quét dọn sạch sẽ, đang đợi đón chúng ta đến ở.

Mẹ kế hỏi: “Ca ca con nói gì trong thư vậy?”

“Huynh ấy nói,” ta ấp úng, “mời dì lên kinh thành, còn con và đệ đệ ở lại quê.” 

“Con bé chết tiệt này, càng lớn càng hư! Ca ca con là loại người như vậy sao?” 

Ta né tránh ánh mắt của bà, người đến đón chúng ta mỉm cười nói: “Xem ra Nhị tiểu thư sắp xa nhà nên buồn, ngại ngùng rồi. Đại nhân có nói, Nhị tiểu thư quý nhất trâu và thỏ ở nhà, nên đã chuẩn bị sẵn chuồng trâu và chuồng thỏ, mong Nhị tiểu thư đừng rời xa huynh muội.” 

Ta ngơ ngác hỏi: “Con có thể mang theo cả trâu và thỏ sao?”

“Đương nhiên rồi.” 

Người nọ dừng một chút, nói: “Tại hạ là Bàng Khải, bạn học của Bảo Đình, vì huynh ấy bận công việc, nên nhờ tại hạ đến đón phu nhân và tiểu thư, công tử.”

Buổi tối, ta đến chuồng trâu hỏi lão trâu vàmg: “Trâu vàng bá bá, người có muốn đi kinh thành cùng con không?” 

Ta chống cằm: “Thật ra con không muốn đi lắm. Nhưng mà, con cũng không muốn xa ca ca. Còn có dì và đệ đệ nữa.” 

Dưới ánh trăng thanh dịu, vạn vật đều im lìm. Chỉ có tiếng thỏ kêu “chít chít” khe khẽ trong lồng. 

Ngày hôm sau, ta dắt trâu, xách lồng thỏ lên đường. 

Mẹ kế ngồi kiệu, đệ đệ cưỡi ngựa. 

Bàng Khải đi bên cạnh ta, nói: “Nghe Chu huynh nói, con trâu này rất có linh tính, nếu không phải nó giúp nhà các ngươi phát hiện ra lợn rừng và thỏ, có lẽ huynh ấy đã trở thành một lão nông rồi.” 

Ta hơi khó chịu với hắn. 

Vì ánh mắt của công tử huyện lệnh năm xưa, ta luôn giữ khoảng cách với những người có xuất thân tốt hơn mình. “Ừm.” 


“Tiểu muội ngày thường đọc sách gì?”

“Ừm.” 

“Thích ăn món gì? Ca ca muội ở kinh thành lúc nào cũng nhắc đến con đấy.”

 “Không biết.” 

Cuối cùng, ta bị hắn làm phiền quá, đành chui vào trong xe ngựa. 

Xe ngựa xóc nảy suốt một tháng trời, cuối cùng cũng đến kinh thành.

Huynh trưởng mặc quan phục màu lam, đứng trên đường phố kinh thành, cứ nhón chân lên nhìn về phía chúng ta. 

Đệ đệ đã chạy như bay về phía huynh ấy. 

Ôm đệ đệ một cái, huynh ấy lại đưa tay đỡ dì xuống xe, quỳ xuống trước mặt mẹ kế: “Khiến mẹ lo lắng rồi.”

“Không lo lắng, không lo lắng, mẹ vui mừng còn không hết.” 

“Tiểu muội.” 

Huynh ấy nhìn ta, mắt long lanh lệ. 

Ta nhào vào lòng huynh ấy, huynh ấy khẽ nói bên tai ta: “Ca ca sẽ không bao giờ rời xa muội, ca ca có thể chăm sóc muội rồi.” 

Ta vừa cười vừa khóc, bao nhiêu tủi hờn, nhớ nhung đều tan biến hết. 

Lão trâu vàng kêu “Ụm bò” một tiếng, như muốn chào hỏi người quen cũ. 

Huynh trưởng quay đầu nhìn nó, mỉm cười vái chào nó một cái.

Huynh trưởng có nhà mới, còn có hai người hầu kẻ hạ. 

Chúng ta rất không quen với cuộc sống nơi phủ đệ xa hoa này. 

Nhưng con người vốn có khả năng thích ứng rất nhanh. 

Huynh ấy làm một mảnh vườn nhỏ trong sân, để mẹ kế có thể trồng rau, nuôi gà, vơi bớt nỗi nhớ quê nhà. 

Đệ đệ không ngồi yên được, không đọc được sách, huynh trưởng bèn cho đệ ấy đi học võ. 

Còn ta, vẫn ngày ngày đeo túi sách đến trường tư thục học hành. 

Một hôm, tan học, ta bị hai nha hoàn chặn lại trong ngõ.

 “Ngươi là muội muội của Chu Bảo Đình?” 

Giọng điệu của các nàng rất hung dữ. 

Ta còn chưa kịp lên tiếng, từ phía sau các nàng lại khoan thai bước ra một vị tiểu thư. 

Vị tiểu thư ấy nói với hai nha hoàn: “Không được vô lễ.” 

Rồi nàng ta dịu dàng mỉm cười với ta: “Muội muội, ta là con gái của Lễ bộ Thị lang, tình cờ gặp muội, rất vui được làm quen.” 

“Ta không quen biết ngươi.” 

Nói xong, ta lách qua các nàng bỏ đi. 

Nhưng khi vừa rẽ qua bức tường, ta liền dừng bước. 

Một nha hoàn nói: “Tiểu thư, muội muội của hắn ăn mặc còn không bằng chúng ta, lão gia thật sự muốn gả người cho ca ca của tên nhà quê này sao?” 

Nha hoàn kia cũng nói: “Đúng vậy, người xem nàng ta kìa, chẳng ra dáng tiểu thư khuê các gì cả, sau này nếu thật sự chung sống một nhà với nàng ta, chẳng phải là tủi thân tiểu thư sao?” 

Vị tiểu thư ban nãy nói: “Chu công tử dung mạo tuấn tú, lại trẻ tuổi tài cao, vừa đến triều đã vào được Đô sát viện, không chỉ ta thích, mà cha ta cũng rất ưng ý, chỉ là một cô phu muội thôi mà, đến lúc đó muốn gả cho ai cũng được. Ta nghe nói kế mẫu của Chu công tử khá là chua ngoa…”

“Có chúng ta đi theo tiểu thư, ai dám làm gì tiểu thư chứ?” 

Bỗng nhiên, có người bịt miệng ta lại… “Là ta, đừng nói gì.”

Là huynh trưởng. Về đến nhà, huynh ấy mới nói: “Chuyện vừa rồi, đừng nói với mẹ.” 

“Huynh thật sự muốn cưới nàng ta sao?” 

“Sao có thể chứ?” 

Ta thở phào nhẹ nhõm, mặc cả với huynh ấy: “Ca ca, muội có thể giữ bí mật, nhưng muội không muốn đến trường nữa, người ta cứ cười nhạo muội, muội cũng không thích bọn họ.” 

Huynh ấy điểm nhẹ lên trán ta: “Sao ta lại có đứa muội muội như muội chứ, không biết chữ thì có gì hay ho? Muội mà biết đọc sách viết chữ, sau này quản lý cửa hàng, xem sổ sách, đọc thoại bản, chẳng phải là chuyện dễ như trở bàn tay sao? Con gái nhà người ta, muốn trở nên thông minh lanh lợi thì không thể không đọc sách. Muội không muốn đến trường, ta có thể đồng ý, nhưng không thể không đọc sách. Thôi được rồi, từ hôm nay trở đi, ta sẽ dạy học cho muội và đệ đệ.” 

Huynh ấy vừa vuốt cằm suy tư vừa nói: “Mọi người đều khen ta thiên tư thông minh, chắc là dạy dỗ hai đứa không thành vấn đề.” 

Tối hôm đó, từ thư phòng vọng ra tiếng huynh trưởng gầm thét: “Phải nói bao nhiêu lần các ngươi mới nhớ được hả! Tối nay chép cho ta hai mươi lần! Chép không xong thì không được ngủ!” 

Ta: …
Đệ đệ: … 

Huynh trưởng không lấy vợ. Ta gả cho Bàng Khải.

Là mẹ kế làm chủ hôn sự này, bà nói: “Bàng Khải, ta cũng coi như quen biết nó ba năm rồi. Xuất thân từ gia đình thư hương, môn đăng hộ đối là chúng ta trèo cao rồi. May mà cha mẹ nó đều mất cả, cũng không có huynh đệ muội sau này khinh thường con, nếu nó đối xử không tốt với con, ca ca và đệ đệ con tất nhiên có thể đến tận nhà nó, thay con xả giận. Cũng may là ba năm nay nó cũng có lòng với cục đá như con.” 

Bàng Khải thề sẽ không nạp thiếp, chỉ có mình ta là thê tử duy nhất. 

Hắn mua nhà bên cạnh nhà huynh trưởng, ta từ cửa nhà này, bước sang cửa nhà kia. 

Chuồng trâu nhà hắn rất rộng rãi, trong sân cũng có một mảnh đất trống, để trồng rau cho thỏ của ta ăn. 

Thỏ của ta đã già lắm rồi. 

Dù là rau non ngon nhất, chúng cũng nhai rất chậm. 

Năm thứ hai sau khi thành thân, ta sinh được một đứa con gái, đêm đó, lão trâu vàng của ta qua đời.

Ta vẫn luôn tin rằng, con gái ta chính là lão trâu vàng đầu thai chuyển thế. 

Vì vậy con gái ta tên là Bàng Ngưu Ngưu. 

Mẹ kế thường xuyên sang giúp ta trông con.

Bà bây giờ lại trở nên dịu dàng như lúc cha còn sống. 

Làn da vốn đen sạm do dãi dầu mưa nắng nay đã trở nên trắng trẻo mịn màng hơn, đôi bàn tay thô ráp cũng dần dần được vuốt ve.

Đệ đệ kết giao với một nhóm bạn, nói muốn đến Hàng Châu lấy hàng tơ lụa, mang về kinh thành bán. 

Mẹ kế cho đệ ấy 50 lượng bạc làm vốn. 

Đệ đệ nhanh chóng thua lỗ, trở về nhà trong bộ dạng chán nản. 

Mẹ kế thản nhiên nói: “Con không thích học hành, ta ép cũng ép rồi, khuyên cũng khuyên rồi, con muốn buôn bán, tiền ta cũng cho rồi, đường là do con tự đi, sau này muốn giống đám bạn xấu kia, mắt cao hơn đầu, không thực tế, ỷ vào ca ca con mà khắp nơi làm trò cười cho thiên hạ, hay là chân chân chính chính học một nghề cho ra hồn, tất cả đều do con tự quyết định.”

Đệ đệ nghe vậy liền vào làm người học việc ở một tiệm trang sức. 

Đệ ấy không còn nói mình là đệ đệ của ai nữa, cả người trầm lặng hơn rất nhiều, thỉnh thoảng còn hỏi huynh trưởng một số vấn đề, ghi ghi chép chép vào sổ tay.

Vài năm sau, đệ đệ đến vay tiền ta, mở cửa tiệm riêng. 

Về sau, việc buôn bán của đệ ấy ngày càng phát đạt, người ta gặp đệ ấy, đều cung kính gọi: “Ông chủ Chu.” 

Đệ ấy giàu lòng nhân ái, thường làm việc thiện, xây nhà học cho học trò nghèo, cung cấp cơm ăn áo mặc. 

Huynh trưởng trên quan trường khi thăng khi trầm. 

Có lúc bị giáng chức, đày ra nơi xa, cũng có lúc được thăng quan tiến chức. 

Khi huynh ấy bị đày ra ngoài, mẹ kế đi theo, luôn ở bên cạnh an ủi động viên, nhắc nhở huynh ấy rằng trong cuộc sống luôn có những bước ngoặt bất ngờ. 

Khi huynh ấy được thăng chức, có người đến biếu xén nhờ vả, mẹ kế liền nghiêm khắc bảo huynh ấy đừng làm việc trái với lương tâm, đừng làm chuyện khiến cha phải xấu hổ. 

Về sau huynh trưởng lấy một cô nương rất dịu dàng thú vị. 

Tẩu tẩu có thể ngồi trò chuyện cùng ta và tiểu Ngưu ngưu, lại còn chu môi hỏi tại sao huynh trưởng suốt ngày cau có. 

Mẹ kế không còn nhắc nhở huynh trưởng mọi chuyện nữa, mà bắt đầu ăn chay niệm Phật, cầu phúc cho chúng ta. 

Huynh trưởng trở thành vị thừa tướng trẻ tuổi nhất triều đình. 

Đệ đệ trở thành một thương gia giàu có nức tiếng gần xa.

Có kẻ thù chính trị vu cáo huynh trưởng lợi dụng đệ đệ vơ vét của cải, hối lộ, nhưng tra xét khắp sổ sách, đều không có bất kỳ chứng cứ nào. 

Huynh trưởng vẫn luôn sống ở ngôi nhà chúng ta mới đến kinh thành lúc trước, không hề chuyển đến nơi khác xa hoa hơn. 

Mẹ kế cũng sống ở đó. 

Hoàng thượng hỏi huynh trưởng : “Nghe nói ái khanh khi còn nhỏ mất mẹ, sau đó lại mất cha, gia cảnh bần hàn, mẹ kế hung dữ, đối với các khanh không đánh thì mắng, có phải sự thật không?” 

Huynh trưởng trầm giọng đáp: “Không phải vậy thưa bệ hạ. Khi cha qua đời, thần và muội muội cũng lo lắng mẹ kế sẽ lộ rõ bản chất, hoặc bỏ rơi chúng thần mà đi. Dân làng lúc nào cũng nói với chúng thần về sự độc ác của mẹ kế. Trong lòng rất hoang mang. Nhưng mẹ kế đối với chúng thần không hề bỏ rơi, một nữ nhân, nuôi ba đứa con nhỏ, muốn không bị bắt nạt trong làng, chỉ có thể trở nên mạnh mẽ đến mức ai ai cũng phải e dè. Thần khi đó không muốn đọc sách, muốn chia sẻ gánh nặng với bà ấy, nhưng bà thà bị người ta chỉ trích là ngược đãi con của phu quân cũng phải đánh thần giữa đường, giữa chợ – đêm đó, thần tận mắt thấy người nửa đêm khóc lóc, xin lỗi cha, nói rằng không muốn đánh thần.”

“Người xưa có câu, cha mẹ thương con, tất lo nghĩ cho con lâu dài. Mẹ thần tuy là nữ nhân thôn quê, không biết chữ, nhưng sớm hôm vất vả, cho thần ăn học, lại khiến đệ đệ từ bỏ đường tà, giúp muội muội gả cho phu quân tốt. Tuy không phải mẹ ruột của thần, nhưng ân dưỡng dục đã lớn hơn ân sinh thành.” 

Năm mẹ kế 50 tuổi, con cháu đầy đàn, được Hoàng thượng sắc phong là cáo mệnh phu nhân. 

Bà cười rất dịu dàng, rất đẹp. 

Giống như lần đầu tiên gặp bà, khi ấy thiếu nữ đôi mươi xinh đẹp biết bao.

Bà ấy vẫy tay với ta, lấy kẹo đưa cho ta, dịu dàng nói: “Sau này ta chính là mẹ của con, sẽ giặt giũ nấu cơm, may vá quần áo cho con, biến con thành một tiểu cô nương xinh đẹp.”

Kết thúc truyện.

© Vườn Truyện. Một sản phẩm của Oriole