Giới thiệu:
Nữ chính: Khương Nhược Lam (23 tuổi), tiến sĩ nông nghiệp thời hiện đại, vô tình xuyên thư trở thành nữ phụ ác độc pháo hôi vừa bị gia đình hào môn trục xuất về quê, thôn Lạc Diệp thanh bình nuôi tằm làm ruộng để nhường chỗ cho nữ chính nguyên tác. Thấu hiểu kết cục bi thảm trong sách, nàng lập tức buông bỏ thù hận, chỉ mong ước làm giàu tự thân và sống an nhàn giữa thiên nhiên. Nam chính: Tiêu Lập (26 tuổi), chàng thợ săn ít nói, thô ráp sống ở rìa rừng, thực chất là Trấn Bắc tướng quân đang giả chết dưỡng thương lánh nạn. Xung đột nảy sinh khi đám họ hàng tham lam cùng hào môn kinh thành liên tục tìm cách chiếm đoạt đất đai và tài sản mà Nhược Lam gầy dựng. Bằng kiến thức khoa học tiên tiến, nàng lai tạo giống ngô ngọt siêu năng suất, làm phân bón hữu cơ, lập xưởng dệt lụa tơ tằm vang danh khắp vùng, đập tan mọi mưu đồ bẩn thỉu của kẻ xấu. Tiêu Lập âm thầm làm chỗ dựa vững chắc bảo vệ nàng. Kết thúc, Nhược Lam trở thành nữ thương nhân mẫu mực của cả triều đình, cùng Tiêu Lập hưởng thụ hạnh phúc điền viên trọn vẹn.
Cơn đau buốt từ hai bên thái dương giật lên từng hồi như có ai dùng dùi sắt nung đỏ mà đục vào đại não. Khương Nhược Lam khó nhọc hé mở mi mắt nặng trĩu, thứ đầu tiên lọt vào tầm nhìn mờ mịt của nàng không phải là trần nhà màu trắng toát của phòng thí nghiệm viện nông học, cũng chẳng có tiếng bíp bíp đều đặn của máy đo điện tâm đồ quen thuộc.
Trước mắt nàng là một mảng trần nhà ken bằng rơm rạ mục nát, đen xỉn vì bồ hóng và ẩm mốc. Từng kẽ hở to bằng cổ tay để lộ ra bầu trời xám xịt của một buổi chiều tà ảm đạm.
“Tõm.”
Một giọt nước lạnh buốt từ mái tranh nhỏ thẳng xuống gò má gầy guộc, làm Nhược Lam rùng mình run rẩy. Nàng theo phản xạ đưa tay lên quẹt ngang mặt, nhưng bàn tay giơ lên trước mắt lại khiến cả người nàng đông cứng. Đó không phải là bàn tay với những khớp xương thon dài thường xuyên cầm kính hiển vi và bút ghi chép của nàng, mà là một bàn tay nhỏ nhắn, mảnh khảnh đến trơ xương, da dẻ tái mét vì nhiễm lạnh, lòng bàn tay còn vương vài vết trầy xước rớm máu đã đóng vảy thâm sì.
Một luồng ký ức xa lạ và hỗn độn tựa như thác lũ đột ngột tràn vào thức hải, xé toạc mọi ranh giới nhận thức của nàng.
Đại Ninh quốc… Kinh thành Thạnh An… Phủ Thượng thư…
Nàng — Khương Nhược Lam, hai mươi ba tuổi, tiến sĩ nông học chuyên ngành thổ nhưỡng và cải tạo giống cây trồng của thế kỷ hai mươi mốt, thế mà lại chết vì làm việc kiệt sức trong đợt thử nghiệm giống ngô lai chịu hạn, để rồi linh hồn trôi dạt vào thân xác một nữ phụ pháo hôi cùng tên trong cuốn tiểu thuyết cung đấu diễm tình từng đọc lướt qua trên mạng.
Trớ trêu thay, nguyên thân vốn là đích nữ danh chính ngôn thuận của Khương Thượng thư. Mẫu thân nàng mất sớm, phụ thân quay ngoắt cưới kế thất, rước về một người mẹ kế khẩu Phật tâm xà cùng thứ muội Khương Ngọc Trinh kém nàng ba tuổi. Trong nguyên tác, Khương Ngọc Trinh là nữ chính thiên mệnh mang hào quang vạn trượng, đoan trang hiền thục bên ngoài nhưng tâm cơ thâm sâu như đáy biển. Để trải phẳng con đường cho Ngọc Trinh bước vào Đông cung làm Thái tử phi, rồi sau này bước lên ngôi vị mẫu nghi thiên hạ, mẹ con ả đã liên thủ giăng bẫy, đổ vấy cho nguyên thân tội đẩy thứ muội xuống hồ sen giữa mùa đông giá rét.
Một người cha máu lạnh vô tình, chỉ biết đến tiền đồ gia tộc liền dứt khoát phế bỏ thân phận đích nữ của nàng, gạch tên khỏi gia phả kinh kỳ, ném lên một cỗ xe bò tồi tàn rồi trục xuất về tận làng quê hẻo lánh thôn Lạc Diệp dưới chân dãy Lạc Nhạn.
Đau đớn, uất ức và tuyệt vọng, nguyên thân trên đường đi đã dầm mưa dãi nắng, vừa đặt chân đến căn nhà tranh đổ nát của tổ tiên để lại thì lên cơn sốt rét thập tử nhất sinh. Trong ký ức tàn dư, cô gái đáng thương ấy trước khi trút hơi thở cuối cùng vẫn còn ôm chặt nỗi hận ngút trời, thề rằng dù có biến thành lệ quỷ cũng phải bò về kinh thành cắn đứt cổ họng đôi mẹ con độc ác kia.
“Báo thù cái con khỉ mốc…”
Nhược Lam khó khăn nuốt ngụm nước bọt khan rát, khóe môi khô nứt khẽ co giật. Giọng nói phát ra từ cổ họng nàng khàn đặc, yếu ớt như tiếng mèo hen.
Là một người theo chủ nghĩa duy vật biện chứng và sống thực tế đến từng tế bào, nàng quá hiểu cái kết cục của những kẻ mang tâm lý báo thù mù quáng trong mấy cuốn tiểu thuyết cẩu huyết này. Không tiền, không quyền, không chỗ dựa, thân thể lại yếu nhớt như cọng bún thiu, bò về kinh thành thì làm được gì? Chẳng phải vừa thò đầu ra cửa thành đã bị thị vệ phủ Thượng thư một đao chém chết, hoặc bị tống vào đại lao rồi chết thảm nơi xó xỉnh hay sao? Cung đấu ư? Đấu đá với một đám đàn bà rảnh rỗi chỉ biết tranh giành một gã đàn ông tam thê tứ thiếp? Đầu óc nàng đâu có bị úng nước!
“Mạng sống là của mình, tự do tự tại mới là chân lý.” Nhược Lam hít sâu một hơi, mùi rơm mục quyện với mùi đất ẩm nồng nặc xộc thẳng vào khoang mũi. “Xé kịch bản! Ai thích làm Hoàng hậu thì cứ việc nhào vô mà tranh đoạt, bà đây về quê làm ruộng, trồng trọt kiếm cơm ăn cho béo tốt!”
Quyết định xong xuôi, Nhược Lam gắng gượng chống hai tay xuống giường tre để ngồi dậy. Chiếc chõng tre ọp ẹp dưới thân lập tức phát ra những tiếng kêu “cọt kẹt” thê lương, tựa hồ chỉ cần nàng dùng thêm một chút lực là sẽ sụp đổ tan tành.
Toàn thân nàng ê ẩm như vừa bị một cỗ xe lu nghiến qua, các khớp xương nhức nhối rã rời. Cơn sốt rét dường như đã lùi bớt, chỉ còn lại sự suy kiệt tột cùng do đói lả. Cái bụng lép kẹp bắt đầu réo lên từng hồi ùng ục biểu tình dữ dội.
Nhược Lam chống tay vào vách đất nứt nẻ, vịn từng bước run rẩy nhìn quanh nơi mình đang trú ngụ.
Đây là một gian nhà tranh rộng chưa đầy ba trượng, bốn bề trống huếch trống hoác. Vách đất trát rơm đã tróc lở từng mảng lớn, gió lạnh cuối thu từ các khe nứt tha hồ lùa vào hun hút rít lên từng cơn rợn người. Góc nhà kê một chiếc bàn gỗ ba chân cập kê, phải chêm một hòn đá xanh bên dưới mới đứng vững. Trên bàn có một chiếc ấm đất nung đã mẻ mất nửa cái vòi, bên cạnh là một cái bát sành sứt mẻ cáu bẩn.
Nàng lảo đảo bước lại gần góc bếp tạm bợ đối diện giường. Bếp lò đắp bằng đất sét đã nứt toác từ lâu, tro tàn bên trong lạnh ngắt tự bao giờ. Dưới đáy một cái vại sành vỡ miệng chỉ còn trơ trọi nửa túi vải gai thô rách nát.
Nhược Lam thọc tay vào túi gai, khẽ nhíu mày.
Không phải gạo, cũng chẳng phải bột mì trắng trẻo, mà là nửa túi cám ngô thô ráp lẫn đầy vỏ trấu, sờ vào thấy ẩm ướt nhớp nháp, bốc lên mùi chua chua mốc thếch của thức ăn ôi thiu lâu ngày. Đây chính là toàn bộ gia sản mà tên gia đinh phủ Thượng thư quẳng lại cho nàng trước khi đánh xe quay đầu về kinh thành, rõ ràng là muốn để nàng tự sinh tự diệt nơi đồng không mông quạnh này.
“Đúng là một khởi đầu không thể thảm hại hơn.” Nhược Lam nhếch mép cười tự giễu, nhưng ánh mắt hạnh lanh lợi lại lóe lên tia sáng kiên cường, quật khởi.
Là một tiến sĩ nông học từng lội ruộng bùn lầy lội dưới cái nắng bốn mươi độ C, từng ăn bờ ngủ bụi hàng tháng trời ở các trang trại vùng cao để theo dõi chỉ số đất, nàng chưa bao giờ biết đầu hàng trước nghịch cảnh. Đất đai không bao giờ bạc đãi người có tâm. Chỉ cần còn một hơi thở, có đất, có nước, nàng nhất định sẽ biến nơi này thành thiên đường điền viên cho riêng mình.
Nhưng trước mắt, vấn đề cấp bách nhất chính là: Nàng sắp chết đói thật rồi.
Nhược Lam cầm chiếc ấm sứt vòi lên, bên trong còn đọng lại một chút nước mưa chảy từ máng tranh xuống. Nàng chẳng màng đến việc nước chưa đun sôi, ghé miệng vào tu ừng ực vài ngụm lớn để xoa dịu cái cổ họng như đang bốc hỏa. Vị nước ngai ngái mùi lá mục và bụi đất trôi xuống thực quản, tạm thời ép cơn cồn cào trong dạ dày lắng xuống đôi chút.
Đúng lúc nàng đang cân nhắc xem có nên ra sau nhà vặt mấy cọng cỏ dại luộc ăn cầm hơi hay không, thì bên ngoài bỗng vang lên tiếng bước chân lẹp xẹp dẫm trên bùn đất lầy lội.
“Bộp… bộp…”
Tiếng bước chân rất nặng nề, dừng lại ngay trước cánh liếp tre xiêu vẹo vốn dùng làm cửa ra vào. Nhược Lam lập tức căng thẳng, với tay nắm lấy một đoạn củi gãy dưới chân bếp, đôi mắt cảnh giác nhìn chằm chằm ra cửa. Giờ đây nàng thân cô thế cô, lại mang danh một thiên kim bị trục xuất, lỡ gặp phải kẻ xấu hay lưu manh trong thôn thì hậu quả khôn lường.
“Nhược Lam nha đầu… con… con có ở trong đó không?”
Một giọng nói đàn ông trầm đục, khàn khàn và ngập ngừng cất lên sau tấm liếp tre, mang theo âm điệu đặc sệt của người dân xứ núi.
Lục lọi trong trí nhớ hỗn độn của nguyên thân, một hình ảnh quen thuộc lướt qua. Nhược Lam buông lỏng đoạn củi trong tay, khẽ thở phào một cái. Đó là giọng của Khương Vĩnh Cửu, người mà nguyên thân phải gọi là Tam Thúc.
Chi phái của Khương gia ở thôn Lạc Diệp vốn là nhánh bần hàn, nghèo xơ xác, bao năm qua chỉ biết cắm mặt vào mấy sào ruộng sỏi đá cằn cỗi. Năm xưa khi mẫu thân của Nhược Lam còn sống, bà vốn xuất thân từ gia đình lương thiện, tính tình nhân hậu, mỗi độ tết đến xuân về đều ngầm sai người gửi chút bạc vụn và vải vóc về quê tương trợ cho nhà Tam Thúc vượt qua mùa đông đói kém. Món ân tình ấy, vợ chồng Tam Thúc vẫn luôn khắc cốt ghi tâm.
Chỉ tiếc là sau khi mẹ nàng qua đời, Khương Thượng thư cắt đứt hoàn toàn liên lạc với họ hàng quê cũ, coi đám thân thích nghèo hèn này như cỏ rác bẩn thỉu. Khi Nhược Lam bị đày về đây, người trong thôn vì e sợ uy thế của Thượng thư phủ kinh thành nên chẳng ai dám tới gần căn nhà tranh hoang phế này, duy chỉ có nhà Tam Thúc là thỉnh thoảng đứng từ xa nhìn ngó đầy vẻ xót xa.
Tấm liếp tre khẽ lay động rồi bị đẩy lệch sang một bên. Một bóng người cao gầy, lưng hơi còng bước vào mang theo một luồng gió lạnh ẩm ướt.
Khương Vĩnh Cửu chừng bốn mươi tám tuổi, nhưng khuôn mặt khắc khổ, đầy những nếp nhăn sâu hoắm cùng làn da sạm đen vì dầm sương dãi nắng khiến ông trông già nua như một lão trượng ngoài sáu mươi. Ông mặc một bộ áo vải thô màu xám vá chằng vá đụp, ống quần xắn cao tới đầu gối bết đầy bùn đất đỏ quạnh. Chiếc nón tơi đan bằng lá cọ rách rưới trên lưng ông vẫn còn đang nhỏ nước tòng tòng.
Vừa bước qua cửa, nhìn thấy Nhược Lam đang đứng dựa vào vách đất, sắc mặt trắng bệch như tờ giấy, Khương Vĩnh Cửu sững sờ trong giây lát, đôi mắt đùng đục thoáng qua một tia chua xót nghẹn ngào.
“Con… con tỉnh rồi đấy à?” Ông hấp tấp cởi chiếc nón tơi đặt xuống góc cửa, rồi như chợt nhớ ra điều gì, vội vàng luồn tay vào trong vạt áo trước ngực, cẩn thận lấy ra một chiếc bát sành thô màu nâu đen được bọc kín bằng nhiều lớp lá chuối rừng còn ấm nóng. “Tạ ơn trời đất… Ta cứ ngỡ con sốt cao thế kia… không qua khỏi…”
Nhược Lam nhìn người đàn ông khắc khổ trước mặt, trong lòng dâng lên một dòng nước ấm áp lạ kỳ. Nàng khẽ cúi đầu, cất giọng lễ phép nhưng vẫn giữ được nét đoan trang tự nhiên:
“Tam Thúc… Người đến rồi.”
Khương Vĩnh Cửu dường như không quen với sự lễ độ của một thiên kim tiểu thư từng sống trong nhung lụa kinh kỳ. Ông lúng túng đưa bàn tay thô ráp, chai sạn quẹt ngang trán, rồi vội vã bưng chiếc bát sành đến đặt lên chiếc bàn ba chân khấp khểnh.
Khi lớp lá chuối rừng được gỡ ra, một làn khói mỏng bốc lên nghi ngút kéo theo mùi thơm nồng nàn, ngọt ngào của ngô mới xay quyện với hơi ấm của gạo tấm. Đó là một bát cháo ngô vàng ruộm, tuy hạt ngô giã còn thô và lấm tấm vài mảnh mày ngô sẫm màu, nhưng đối với một người đang đói đến cồn cào ruột gan như Nhược Lam lúc này, nó chẳng khác nào cao lương mỹ vị chốn trần gian.
“Tam thẩm con… bà ấy xay mớ ngô vụ trước, nấu vội được bát cháo này.” Khương Vĩnh Cửu ngập ngừng xoa xoa hai bàn tay nứt nẻ vào nhau, giọng nói đầy vẻ áy náy, ngượng ngùng. “Nhà ta… nhà ta nghèo quá, chẳng có lấy hạt gạo trắng nào tẩm bổ cho con. Con vốn là cành vàng lá ngọc ở kinh thành, ăn quen sơn hào hải vị… thứ cháo cám lợn này… chỉ sợ con nuốt không trôi.”
Nhìn đôi mắt trĩu nặng âu lo và tự ti của người nông dân chất phác, Nhược Lam không kìm được mỉm cười. Nụ cười của nàng rạng rỡ, làm bừng sáng cả gian nhà tranh ẩm thấp tăm tối.“Tam Thúc nói gì vậy ạ?” Nàng bước lại gần bàn, hai tay nâng lấy chiếc bát sành ấm áp, trân trọng như nâng niu báu vật. “Trong lúc hoạn nạn đói khổ này, một bát cháo nóng của Thúc và Thẩm còn quý hơn ngàn vạn lượng bạc trắng. Con cảm tạ Thúc Thẩm còn không hết, sao dám chê bai nửa lời.”
Nói đoạn, nàng cầm chiếc thìa gỗ cũ kỹ bên cạnh múc một thìa cháo ngô đưa vào miệng.
Cháo hơi ráp ở đầu lưỡi, hạt ngô không được xay mịn như ngô ngọt thời hiện đại, nhưng bù lại giữ được vị ngọt thanh nguyên bản của giống ngô quê, quyện với chút vị mặn nhè nhẹ của hạt muối thô. Luồng hơi ấm men theo thực quản trôi thẳng xuống dạ dày, làm bừng tỉnh mọi giác quan đang uể oải, khiến từng tế bào trong cơ thể nàng như được hồi sinh.
Nhược Lam không hề tỏ ra kiêu kỳ hay gượng gạo, nàng ăn từng thìa một cách ngon lành, nghiêm túc và trân trọng từng hạt lương thực.
Khương Vĩnh Cửu đứng bên cạnh nhìn thấy cảnh tượng ấy, lồng ngực phập phồng xúc động. Ông cứ ngỡ chất nữ từ kinh thành về sẽ khóc lóc om sòm, oán trời trách đất hoặc tuyệt thực đòi chết, không ngờ con bé lại hiểu chuyện và kiên cường đến mức này. Đôi mắt già nua của ông khẽ đỏ lên, ông đưa ống tay áo thô lên lau vội khóe mắt.
“Ăn chậm thôi con, kẻo bỏng.” Ông khẽ thở dài, kéo chiếc ghế đẩu mục nát ngồi xuống đối diện, giọng chùng xuống đầy chua xót. “Chuyện ở kinh thành… ta cũng có nghe ngóng được đôi chút qua miệng đám sai dịch huyện nha. Nhược Lam à, phụ thân con… ôi, thôi thì sự đã rồi. Người sống được là còn phúc lớn. Con đừng nghĩ quẩn, cũng đừng ôm hận mà làm điều dại dột. Ở chốn kinh kỳ lụa là ấy toàn những chuyện tanh máu, về lại thôn quê tuy khổ cực cơ hàn, nhưng chí ít… mạng mình là của mình.”
Nhược Lam nuốt trọn thìa cháo cuối cùng, cẩn thận dùng thìa vét sạch từng hạt cháo dính quanh thành bát. Đặt chiếc bát không xuống bàn, nàng ngẩng đầu nhìn Tam Thúc, ánh mắt trong veo không gợn một tia oán thán hay bi lụy.
“Tam Thúc yên tâm, con hiểu rõ hơn ai hết.” Giọng nàng rành rọt, từng chữ như đinh đóng cột. “Từ khoảnh khắc cỗ xe ngựa rời khỏi cổng thành Thạnh An, Khương Nhược Lam của phủ Thượng thư đã chết rồi. Nay con chỉ là Nhược Lam của thôn Lạc Diệp. Nơi kinh thành phồn hoa đô hội ấy người ta tranh danh đoạt lợi, giẫm đạp lên nhau mà sống, con chẳng thèm quay lại đó làm gì cho bẩn chân.”
Khương Vĩnh Cửu ngẩn người nhìn đứa cháu gái. Trước mắt ông, cô gái nhỏ nhắn này dường như đã lột xác hoàn toàn, không còn nét yếu đuối, u sầu của một tiểu thư khuê các bị vứt bỏ, mà toát ra một khí chất trầm ổn, tự tin và kiên định lạ thường.
“Con… con nghĩ thông suốt được như vậy là tốt, là tốt lắm…” Khương Vĩnh Cửu gật đầu lia lịa, trên gương mặt khắc khổ rốt cuộc cũng giãn ra một nụ cười an lòng. “Nhưng mà… cuộc sống ở đây gian nan lắm. Mảnh đất quanh căn nhà này vốn là đồi đá bạc màu bị bỏ hoang nhiều năm, cày cuốc chỉ toàn trúng đá tảng. Đất ở Lạc Diệp này lại chua phèn, gieo mười hạt thóc chỉ thu về được ba bốn hạt lép. Mùa đông thì rét buốt cắt da cắt thịt… Nhà ta cũng chẳng dư dả gì, bữa đói bữa no, sợ rằng chẳng giúp được con bao nhiêu.”
“Tam Thúc đừng lo, con có hai bàn tay, có sức khỏe, tuyệt đối sẽ không để mình chết đói đâu ạ.” Nhược Lam tự tin mỉm cười. Nàng nhìn qua khe cửa ra khoảng đồi thoai thoải sau nhà, nơi lớp đất mặt xám xịt lẫn đầy sỏi đá đang chìm trong màn mưa lất phất.
Đất chua phèn? Đất bạc màu?
Đối với người nông dân thời đại này, đó là bản án tử cho mùa màng. Nhưng đối với một tiến sĩ nông nghiệp như nàng, đất chua chỉ đơn giản là loại đất “đang bị đau dạ dày” vì mất cân bằng độ pH. Chỉ cần xử lý đúng cách bằng vôi bột khử chua, bón tro trấu bổ sung kali, ủ rác hữu cơ tạo mùn vi sinh, rồi luân canh cây họ đậu để rễ cây cố định đạm tự nhiên, biến mảnh đồi cằn này thành mảnh đất màu mỡ trù phú chỉ là chuyện sớm muộn!
Thấy trời đã sẩm tối, mưa bên ngoài cũng bắt đầu nặng hạt hơn, Khương Vĩnh Cửu đứng dậy, với lấy chiếc nón tơi khoác lên vai.
“Thôi, con vừa mới dứt cơn sốt, mau lên giường nằm nghỉ cho ấm. Cửa nẻo nhớ cài chặt lại, rừng Lạc Nhạn ngay sát sau lưng, đêm hôm thỉnh thoảng có thú hoang hay sài lang mò xuống đấy.” Ông dặn dò tỉ mỉ, rồi từ trong túi áo móc ra một mẩu đá lửa nhỏ và một nhúm bùi nhùi khô đặt lên bàn. “Mai tạnh ráo, ta bảo thím con mang sang cho con ít rơm khô lót ổ nằm cho đỡ lạnh lưng.”
“Con cảm ơn Tam Thúc nhiều lắm ạ. Thúc đi đường cẩn thận.” Nhược Lam tiễn ông ra tận mép hiên, nhìn bóng dáng gầy gò của người đàn ông khuất dần sau rặng tre ngả nghiêng trong gió mưa, cõi lòng nàng tràn ngập sự cảm kích.
Giữa một thế giới xa lạ đầy toan tính và bạc bẽo này, một bát cháo ngô ấm nóng và sự quan tâm mộc mạc của vợ chồng Tam Thúc chính là sợi dây neo giữ nàng lại, cho nàng cảm giác mình thực sự tồn tại và được che chở.
Nhược Lam quay trở vào gian nhà, cẩn thận kéo tấm liếp tre lại. Nàng nhặt một đoạn củi gỗ tương đối chắc chắn, cài ngang qua hai mấu tre đóng trên khung cửa để làm then cài tạm bợ.
Bụng đã có thức ăn lót dạ, tinh lực trong người nàng dần hồi phục. Nhược Lam thắp một que đóm nhỏ từ mẩu đá lửa Tam Thúc để lại, ánh lửa bập bùng xua tan bớt màn đêm u tối và hơi lạnh lẽo đang bủa vây căn phòng.
Nàng ngồi xuống mép chõng tre, bắt đầu vạch ra những kế hoạch sinh tồn chi tiết trong đầu.
Bước một: Ngày mai trời sáng, nàng phải lên bìa rừng Lạc Nhạn tìm kiếm thức ăn. Rừng nguyên sinh luôn là kho báu vô tận nếu biết cách khai thác. Nàng cần tìm các loại rau rừng ăn được, nấm, củ mài, và quan trọng nhất là tìm xem có nguồn thảo dược hay hạt giống hoang dã nào có thể thuần hóa được không.
Bước hai: Kiểm tra thổ nhưỡng. Nàng cần lấy mẫu đất quanh nhà, kiểm tra kết cấu và độ chua bằng phương pháp trực quan sinh học. Không có giấy quỳ đo pH thì quan sát thảm thực vật bản địa: nơi nào có nhiều cỏ tranh, cây dương xỉ hay cỏ chỉ mọc rậm rạp thì nơi đó đất chua nặng; nơi nào có rêu xanh mướt mọc thì đất ẩm và thiếu thoáng khí. Phải tìm cách kiếm tro bếp hoặc đá vôi về nung để khử chua từng luống một.
Bước ba: Củng cố nơi ở. Mái tranh dột nát này không thể chống chọi được qua mùa đông sắp tới. Nàng phải cắt cỏ tranh về phơi khô, đan lại mái, trát lại vách đất bằng bùn trộn rơm băm nhỏ để giữ ấm.
“Cứ từng bước một, tích tiểu thành đại. Có làm thì mới có ăn, bàn tay này sẽ biến đống hoang tàn này thành trang viên trù phú!” Nhược Lam tự siết chặt nắm tay, trong lòng tràn trề ý chí phấn đấu.
Nàng thổi tắt đóm lửa để tiết kiệm bùi nhùi, gian phòng lập tức chìm vào bóng tối đen đặc như mực. Tiếng mưa rả rích bên ngoài đã ngớt dần, chỉ còn lại tiếng ếch nhái râm ran ngoài đồng xa quyện với tiếng gió rít qua rặng tre kẽo kẹt.
Nhược Lam ngả lưng xuống chiếc chõng tre, kéo tấm chăn rách phủ lên người. Dù nệm tre cứng ngắc chọc vào lưng đau điếng, nhưng cảm giác no bụng cùng sự bình yên không vướng bận mưu mô cung đấu khiến nàng cảm thấy nhẹ nhõm hơn bao giờ hết. Mi mắt nàng dần trĩu xuống, chuẩn bị chìm vào giấc ngủ sâu để lấy lại thể lực cho ngày mai.
“Xào xạc…”
Đột nhiên, một âm thanh rất khẽ vang lên ngoài bờ dậu sau nhà.
Đó không phải là tiếng gió thổi cành cây, mà là tiếng bước chân dẫm lên lá khô bị đè nén cẩn thận!
Các giác quan của Nhược Lam lập tức căng như dây đàn. Nàng mở to mắt, nín thở nằm im bất động, đôi tai dỏng lên lắng nghe từng biến động nhỏ nhất ngoài màn đêm.
“Lẹp xẹp… rắc…”
Một cành củi khô bị giẫm gãy gãy giòn tan, kèm theo tiếng th* d*c trầm đục và tiếng lầm bầm khe khẽ của ai đó bên ngoài bờ dậu nứa rách nát.
Kẻ đó đang rón rén tiến lại gần vách nhà nàng!
Nhược Lam khẽ nghiêng đầu nhìn qua khe hở to tướng giữa hai nan nứa trên vách đất. Dưới ánh trăng mờ ảo vừa ló ra sau tầng mây đen rách nát, nàng lờ mờ nhìn thấy một bóng đen gầy guộc, lưng hơi gù đang lấm lét dòm ngó vào bên trong.
Đặc biệt, qua khe hở hẹp hòi, nàng bắt gặp một ánh mắt ti hí, lóe lên tia sáng tham lam, giảo hoạt và đầy toan tính bẩn thỉu đang đảo qua đảo lại quét khắp gian nhà trống trơn của nàng.
Đó tuyệt đối không phải là thú hoang trong rừng, mà là một con người bằng xương bằng thịt!
Bóng đen dừng lại bên vách nứa hồi lâu, dường như đang thăm dò xem người bên trong còn sống hay đã chết, rồi khẽ tặc lưỡi một tiếng đầy vẻ thất vọng trước cảnh tượng xơ xác tiêu điều, sau đó mới chậm rãi lùi dần vào bóng tối của rặng tre rồi biến mất.
Nhược Lam nằm trên chõng tre, hai bàn tay giấu dưới lớp chăn rách siết chặt lại, đôi mắt hạnh nheo lại sắc bén như lưỡi dao giữa đêm đen.
Chu gia… hay là kẻ nào trong thôn?
Xem ra, nơi thôn dã tưởng chừng yên bình này cũng chẳng thiếu những loài ruồi bọ thèm khát máu tanh. Chúng thấy một cô gái đơn độc bị trục xuất liền muốn mò đến kiếm chác, thậm chí là giở trò đồi bại hay sao?
Nàng khẽ nhếch môi, một nụ cười lạnh lùng thoáng hiện trên gương mặt thanh tú.
Muốn ức h**p Khương Nhược Lam này? Cứ việc bước tới đây mà thử xem! Để xem cái cuốc làm nông của bà đây có đập vỡ cái gáo dừa của các người ra hay không!
Gió sớm từ rặng Lạc Nhạn tràn xuống thung lũng, mang theo hơi sương lạnh buốt và mùi ngai ngái của đất rừng ẩm ướt sau cơn mưa đêm.
Khương Nhược Lam mở mắt khi tia nắng đầu tiên vừa len qua khe hở trên vách nứa, rọi một vệt sáng vàng nhạt nhảy múa trên nền đất nện. Sau một giấc ngủ sâu tuy chập chờn vì bóng đen rình rập nửa đêm, thể lực của nàng đã hồi phục được sáu bảy phần. Cơn sốt rét dai dẳng hành hạ nguyên thân dường như đã bị bát cháo ngô nóng của Tam Thúc đêm qua cùng ý chí sinh tồn mãnh liệt của một tiến sĩ nông học thế kỷ hai mươi mốt đánh bạt hoàn toàn.
Nàng vươn vai, khớp xương toàn thân kêu răng rắc giòn giã. Hít một hơi thật sâu lồng ngực đầy ắp dưỡng khí trong lành không vướng chút khói bụi công nghiệp, Nhược Lam khẽ mỉm cười.
Bước xuống chõng tre, nàng cẩn thận kiểm tra then cài cửa. Hai mấu tre vẫn y nguyên, mặt đất sát mép hiên còn in hằn một dấu chân to bè, ngón chân tõe ra, gót lún sâu – dấu vết rõ ràng của kẻ đã lén lút dòm ngó đêm qua. Ánh mắt Nhược Lam khẽ trầm xuống. Kẻ kia gầy gò, lưng gù, bước đi lẹp xẹp mang theo mùi nồng nặc của bùn tanh và thuốc lào rẻ tiền… Rất giống với dáng vẻ của lão cữu cữu Chu Trực mà ký ức nguyên thân còn sót lại.
“Cứ chờ đấy, chỉ cần dám thò tay vào đây, bà đây sẽ cho các người biết thế nào là quả báo nhãn tiền.” Nàng lẩm bẩm, rồi nhanh chóng gác chuyện đó sang một bên. Việc cấp bách nhất lúc này không phải là lo sợ kẻ xấu, mà là lấp đầy cái dạ dày đang bắt đầu réo rắt từng hồi.
Nhược Lam lục lọi trong góc bếp đổ nát, tìm được một chiếc gùi tre cũ kỹ đã mòn vẹt đáy nhưng các nan đan còn khá chắc, cùng một con dao quắm gỉ sét lưỡi mẻ lởm chởm. Nàng đem dao ra bờ giếng hoang mài đi mài lại trên phiến đá ráp cho đến khi ánh thép xám lạnh lóe lên sáng loáng, sau đó thắt chặt vạt áo vải thô, quấn xà cạp bằng vải gai quanh bắp chân để chống vắt và gai cào, rồi khoác gùi sải bước hướng về phía chân núi Lạc Nhạn.
Thôn Lạc Diệp buổi sớm chìm trong làn khói bếp bảng lảng. Nhược Lam cố ý đi đường vòng men theo con mương cạn sau làng để tránh chạm mặt những kẻ tọc mạch.
Vừa đi, đôi mắt nhà nghề của nàng vừa không ngừng quét qua từng tấc đất ven đường. Đất ở vùng chân đồi này chủ yếu là đất feralit đỏ vàng bị xói mòn nghiêm trọng, tầng canh tác mỏng dính, xen lẫn vô số sỏi đá cuội. Nhìn đám dương xỉ mọc ken dày như nấm sau mưa và những vạt cỏ tranh cao quá đầu gối lá sắc như dao, nàng thở dài một hơi.
Đất chua phèn nặng, độ pH ước chừng chưa nổi 4.5. Nếu cứ thế mà gieo hạt, cây trồng chẳng những không lớn nổi mà rễ non sẽ bị ngộ độc nhôm, sắt mà thối rữa chết yểu. Nhưng trong mắt một chuyên gia nông học, không có mảnh đất nào là phế thải, chỉ có người không biết cách cải tạo. Muốn khử thứ bệnh kinh niên này của đất, nàng cần một lượng lớn vôi bột, tro trấu và phân hữu cơ ủ hoai mục để cân bằng lại độ màu mỡ, giải phóng chất dinh dưỡng đang bị đất khóa chặt.
“Vôi thì phải tìm đá vôi trên núi nung lên, còn tro trấu… vụ gặt tới phải tìm cách gom rơm rạ của bà con mới được.” Nhược Lam vừa lẩm bẩm tính toán đường dài, vừa rảo bước thoăn thoắt tiến sâu vào bìa rừng.
Rừng Lạc Nhạn nguyên sinh hiện ra sừng sững như một bức tường thành xanh thẫm khổng lồ. Cây cổ thụ cao vút che khuất ánh mặt trời, dây leo chằng chịt quấn quanh những thân cây ba bốn người ôm. Không khí trong rừng mát lạnh, thơm nồng mùi rêu phong, lá mục và hương hoa dại thoang thoảng.
Nhược Lam như cá gặp nước, đôi mắt hạnh sáng rực lên. Rừng rậm chính là kho báu tự nhiên trù phú nhất đối với người biết nhìn nhận.
Chỉ sau nửa canh giờ lội qua một con suối nhỏ róc rách, nàng đã tìm thấy một vạt rau dớn xanh mướt mọc chen chúc bên những tảng đá ẩm ướt. Ngọn rau dớn cuộn tròn như chiếc vòi voi non nớt, mập mạp, phủ một lớp lông tơ mịn màng. Nàng dùng móng tay bấm nhẹ, tiếng giòn giã tanh tách vang lên, nhựa rau thơm lừng ứa ra nơi đầu ngón tay. Nàng nhanh thoăn thoắt hái một ôm lớn ngọn non bỏ vào đáy gùi.
Tiếp đó, nàng lại phát hiện một bụi măng giang đang nhú lên khỏi lớp lá mục sau cơn mưa đêm. Măng giang vỏ mỏng, ruột đặc, vị ngọt thanh chứ không đắng chát như măng tre thông thường. Nhược Lam dùng dao quắm đào khéo léo quanh gốc, bẻ lấy năm sáu củ măng mập ú, trắng nõn nà như củ cải.
Đang mải mê lúi húi gạt lớp lá khô tìm nấm, ánh mắt nàng bỗng khựng lại trước một vách đá xám xịt nằm khuất sau bụi rậm gai góc. Trên bề mặt vách đá nham nhở những vệt khoáng chất màu trắng đục kết tinh thành từng mảng lớn, xung quanh có rất nhiều dấu móng guốc của hươu nai và lợn rừng cọ xát, l**m láp nhẵn thín.
Nhược Lam bước nhanh tới, đưa tay cạo một ít bột trắng đưa lên đầu lưỡi nếm thử.
Vị mặn mòi lập tức lan tỏa, kèm theo chút hậu vị chát nhẹ đặc trưng của khoáng chất thiên nhiên!
“Là mỏ muối khoáng tự nhiên!” Nàng không kìm được khẽ reo lên một tiếng đầy phấn khích.
Ở thời đại Đại Ninh này, muối ăn là mặt hàng bị quan phủ kiểm soát gắt gao, giá đắt như vàng ròng. Dân nghèo thôn dã quanh năm suốt tháng chỉ dám chấm đầu đũa vào bát nước muối loãng xỉn màu, người nào thiếu muối lâu ngày chân tay đều bủn rủn, chẳng có sức mà cày cấy. Mỏ đá muối này tuy có lẫn tạp chất, nhưng chỉ cần đập nhỏ hòa tan vào nước, gạn bỏ cặn bã rồi đun sôi kết tinh lại là sẽ thu được thứ muối tinh khiết hảo hạng.
Chưa dừng lại ở đó, ngay bên cạnh vách đá muối, Nhược Lam ngửi thấy một mùi hương cay nồng, the mát xộc thẳng vào cánh mũi. Vạch tán lá rậm rạp ra xem, nàng sững sờ khi thấy một bụi cây dại cao ngang ngực, cành lá sum suê chi chít những chùm quả nhỏ li ti màu xanh sẫm.
Nàng ngắt một chùm quả, bóp nát trong lòng bàn tay. Mùi tinh dầu ấm nóng, thơm phức tựa như sự kết hợp hoàn hảo giữa hạt dổi, mắc khén vùng Tây Bắc và tiêu rừng hoang dại lập tức bốc lên ngào ngạt. Đây chính là thứ gia vị sơn dã tuyệt đỉnh! Không chỉ có tính kháng khuẩn tự nhiên giúp khử sạch tà khí ôi thiu của thịt thú, mà tinh dầu của nó còn có khả năng át sạch mùi gây, mùi tanh nồng của thú rừng một cách thần kỳ.
“Trời không tuyệt đường sống của Khương Nhược Lam này mà!” Nàng sung sướng cười tít mắt, vội vàng bẻ lấy bẻ để từng chùm quả mọng nhét đầy một góc gùi, lại cẩn thận cậy thêm mấy tảng muối khoáng to bằng nắm tay bọc vào vạt áo lá sen rừng.
“Gầm… ụt…”
Đột nhiên, một tiếng gầm gừ trầm đục rợn người xé toạc không gian yên tĩnh của cánh rừng già.
Tiếng cành cây gãy răng rắc kèm theo tiếng bước chân nặng nề như sấm nện dồn dập từ phía khe núi dốc đứng bên trên lao xuống. Mùi máu tanh tưởi, ngai ngái nồng nặc theo cơn gió thốc thẳng vào mặt khiến sống lưng Nhược Lam lạnh toát.
Nàng lập tức nép mình sau một thân cây dẻ gai cổ thụ, nắm chặt con dao quắm trong tay, tim đập thình thịch nhưng ánh mắt vẫn giữ được sự bình tĩnh phi thường của một nhà khoa học từng bao lần đối mặt với hiểm nguy nơi thực địa.
Bụi cây rậm rạp phía trước bị xé toạc ra.
Một bóng đen khổng lồ lao vụt tới, nhưng không phải là thú dữ đang săn mồi, mà là một con lợn rừng nanh nhọn hung tợn nặng ngót nghét hơn hai trăm cân, toàn thân lông lá đen sì như gai nhọn, máu tươi ròng ròng từ một vết chém sâu hoắm ngang cổ họng. Nhưng con quái vật ấy lúc này đã hoàn toàn tắt thở, bốn chân chổng lên trời, nằm vắt vẻo trên đôi vai vạm vỡ của một bóng người cao lớn phi thường.
Đó là một nam tử trạc hai mươi lăm, hai mươi sáu tuổi.
Hắn cao chừng tám thước, thân hình vạm vỡ như một ngọn núi đá sừng sững, bờ vai rộng thênh thang tưởng như có thể gánh cả bầu trời, vòng eo thon gọn săn chắc ẩn hiện dưới lớp áo cộc bằng da thú thô sơ bạc màu. Làn da hắn ngăm đen màu đồng hun khỏe khoắn, nổi bật trên đó là những đường cơ bắp cuồn cuộn gân guốc, mồ hôi quyện với máu thú rừng chảy ròng ròng trên v*m ng*c vạm vỡ để trần một nửa.
Gương mặt hắn góc cạnh như được tạc ra từ đá hoa cương, sống mũi cao thẳng kiên nghị, đôi môi mỏng mím chặt lạnh lùng. Nhưng chấn động nhất chính là đôi mắt kia – một đôi mắt sắc bén như chim ưng rình mồi, thâm sâu hun hút, toát ra sát khí lạnh buốt thấu xương khiến bất cứ ai nhìn vào cũng phải rùng mình kinh hãi.
Tiêu Lập! Gã thợ săn mặt lạnh sống cô độc ở căn nhà gỗ biệt lập cạnh bìa rừng Lạc Nhạn!
Tiêu Lập bước đi những bước nặng trịch nhưng cực kỳ vững chãi, mỗi bước chân lún sâu vào lớp mùn rừng ẩm ướt. Hắn vác con mồi nặng bằng hai ba người cộng lại mà dáng điệu chẳng khác nào đang vác một bó củi khô.
Bỗng nhiên, đôi mày rậm của Tiêu Lập khẽ giật một cái. Đôi mắt đại bàng sắc lẹm của hắn quét vụt qua gốc cây dẻ gai, bàn tay gân guốc lập tức hạ con lợn rừng xuống đất cái “bịch”, đồng thời bàn tay còn lại rút phắt thanh đoản đao sáng loáng bên hông ra, mũi đao nhắm thẳng vào nơi Nhược Lam đang ẩn nấp.
“Kẻ nào? Lăn ra đây!”
Giọng nói trầm đục, khàn khàn như tiếng kim loại cọ xát vào đá tảng, mang theo uy áp nặng nề khiến chim chóc trên tán cây hoảng hốt vỗ cánh bay dáo dác.
Nhược Lam biết mình đã bị lộ hành tung, nhưng nàng không hề hoảng loạn. Người đàn ông này tuy sát khí đầy mình, nhưng ánh mắt hắn trong trẻo, cương nghị chứ không hề có vẻ đục ngầu, dâm tà như tên trộm đêm qua. Hơn nữa, sống cạnh rừng sâu, thợ săn có tính cảnh giác cao là chuyện bình thường.
Nàng hít sâu một hơi, buông lỏng cán dao quắm, từ tốn bước ra khỏi bóng cây dẻ gai. Nàng giơ hai bàn tay trống không lên ngang ngực để tỏ rõ thiện chí không mang theo ác ý, trên môi nở một nụ cười thản nhiên, nhẹ nhàng cất tiếng:
“Vị tráng sĩ này chớ nóng giận. Ta chỉ là thôn nữ lên rừng hái rau dại, tình cờ thấy tráng sĩ đi săn ngang qua, chứ tuyệt đối không có ý dòm ngó hay rắp tâm bất chính.”
Tiêu Lập khẽ nheo mắt lại. Thanh đoản đao trong tay hắn không hề hạ xuống, nhưng đáy mắt lóe lên một tia kinh ngạc tột độ.
Trước mắt hắn là một thiếu nữ dáng người mảnh mai, mặc bộ y phục thô sơ chắp vá nhiều chỗ, đầu tóc búi củ tỏi gọn gàng bằng một cành cây khô. Gương mặt nàng thanh tú lạ thường, dù không phấn son tô điểm nhưng làn da vẫn trắng mịn màng như ngọc thạch, đôi mắt hạnh long lanh toát lên vẻ thông tuệ, bình thản đến kỳ lạ.
Một nữ tử yếu đuối đối mặt với một con lợn rừng khổng lồ be bét máu và một gã thợ săn hung hãn cầm đao giữa rừng sâu nước độc, chẳng những không sợ hãi thét gào hay ngất xỉu, mà ngược lại còn đứng thẳng lưng, đĩnh đạc nói chuyện bằng phong thái tự tin, điềm đạm nhường ấy?
Hắn biết nàng. Đây chính là Khương Nhược Lam – vị đích nữ nhà Thượng thư kinh thành vừa bị gia tộc phế truất, đuổi về quê cũ thôn Lạc Diệp chịu tội mấy ngày trước. Lời đồn trong thôn bảo nàng là thứ sao chổi khắc mẫu thân, ngang ngược độc ác đẩy muội muội xuống hồ, về thôn thì ốm liệt giường sắp chết đói chết rét.
Nhưng người đang đứng trước mặt hắn lúc này… sao có thể là một phế vật yếu đuối, độc địa như lời đồn?
Tiêu Lập thu đao về vỏ cái “cạch”, giọng điệu vẫn lạnh như băng tuyết mùa đông: “Rừng sâu nguy hiểm, có lợn rừng gấu ngựa. Muốn sống thì cút về làng.”
Nói đoạn, hắn chẳng thèm liếc nhìn nàng thêm cái thứ hai, khom người tóm lấy chân sau con lợn rừng, chuẩn bị nhấc lên vai tiếp tục lên đường.
“Khoan đã!” Nhược Lam bước lên nửa bước, cất giọng trong trẻo gọi giật lại.
Tiêu Lập dừng tay, quay đầu lại, đôi mày rậm nhíu chặt đầy vẻ mất kiên nhẫn. Sự lạnh lùng trên mặt hắn đủ để khiến những kẻ yếu bóng vía phải run rẩy quỳ rạp xuống đất.
Nhưng Khương Nhược Lam là ai chứ? Nàng là tiến sĩ nông học từng lăn lộn khắp các trang trại heo bò cừu, từng đối mặt với những giáo sư khó tính nhất giới học thuật, một gã thợ săn mặt lạnh làm sao dọa được nàng?
Ánh mắt Nhược Lam lướt qua con lợn rừng nằm dưới đất, cẩn thận quan sát vết thương rồi nhìn lên bầu trời xuyên qua kẽ lá. Nắng đã bắt đầu gắt, hơi ẩm bốc lên hầm hập. Nàng mỉm cười, giọng điệu mang theo sự tự tin tuyệt đối của một bậc thầy nghề nghiệp:
“Tráng sĩ, con lợn rừng này của huynh trúng đao ở cổ họng, nhưng do chạy một quãng đường dài trước khi chết nên máu độc ứ trong các thớ thịt rất nhiều. Giờ này trời đang đứng bóng, thời tiết oi ả hầm hập thế này, từ đây gánh về đến nhà gỗ của tráng sĩ rồi xẻ thịt cũng mất ít nhất nửa canh giờ. Thịt thú rừng vốn nhiều gân cơ, lại đọng máu độc, chỉ cần quá trưa là hơi ẩm cùng khí độc trong rừng bốc lên khiến thớ thịt sinh chua, bốc mùi hôi nồng nặc, mỡ gặp gió nóng liền biến chất vàng khè khét lẹt. Dù tráng sĩ có đem hun khói thì tảng thịt này cũng hỏng mất một nửa, ăn vào chỉ tổ đau bụng mà thôi.”
Bàn tay Tiêu Lập đang nắm chân lợn bỗng khựng lại.
Hắn nhìn chằm chằm vào Nhược Lam, ánh mắt chim ưng lóe lên tia dò xét sâu sắc. Hắn săn bắn nhiều năm, tự nhiên biết rõ nhược điểm chí mạng của thịt lợn rừng vào mùa nắng nóng. Thịt thú rừng rất nhanh hôi, đặc biệt là lợn rừng đực có tuyến xạ hôi nồng. Mỗi lần săn được thú lớn, hắn đều phải vội vã lọc lấy phần nạc ngon nhất đem hun khói, phần còn lại đành ngậm ngùi vứt bỏ cho kền kền hoặc chôn sâu vì không có cách nào bảo quản trong thời tiết này.
Thế nhưng, những kiến thức sắc bén về thớ thịt, máu ứ và cách nhìn thời tiết đoán biến chất thịt kia… làm sao một thiên kim tiểu thư sống trong nhung lụa ở kinh thành lại có thể nắm rõ như lòng bàn tay? Từng câu từng chữ nàng nói ra nghe mộc mạc nhưng lại vô cùng hợp lý, chuẩn xác đến từng chi tiết!
“Nàng muốn nói gì?” Tiêu Lập trầm giọng hỏi, thân hình cao lớn bất giác thả lỏng đôi chút.
Nhược Lam cong khóe môi, chỉ vào chiếc gùi tre sau lưng mình:
“Ta muốn làm một cuộc giao dịch công bằng với tráng sĩ.”
“Giao dịch?” Tiêu Lập nhướng mày, vẻ mặt như đang nghe một chuyện nực cười nhất thiên hạ. Một cô gái hai bàn tay trắng, nghèo rớt mồng tơi, lấy tư cách gì đòi giao dịch với một thợ săn như hắn?
“Đúng vậy, một giao dịch đôi bên cùng có lợi!” Nhược Lam bước lại gần con suối nhỏ cách đó vài bước, đặt gùi tre xuống rồi lấy ra mấy tảng muối khoáng và những chùm quả dại thơm nồng: “Ta vừa tìm được mỏ muối khoáng tự nhiên và một vạt cây hương sơn dại. Ta có cách xử lý thịt gia truyền: dùng nước suối lạnh xả sạch máu ứ, dùng muối khoáng nghiền mịn kết hợp với tinh dầu thảo mộc này xát đều lên các thớ thịt. Tinh dầu này có tính thanh trừ tà khí cực mạnh, có thể át hoàn toàn mùi xạ hôi của lợn rừng, giữ cho thịt tươi rói suốt ba ngày ba đêm mà không hề ôi thiu hay đổi vị. Nếu tráng sĩ muốn làm thịt sấy khô hay hun khói, dùng thứ này ướp trước thì hương vị sẽ thơm ngon đậm đà gấp mười lần cách làm thô sơ trước nay.”
Nói đến đây, nàng ngước đôi mắt hạnh trong veo nhìn thẳng vào mắt Tiêu Lập, ánh mắt không chút né tránh hay tự ti, thẳng thắn đưa ra điều kiện:
“Ta sẽ giúp tráng sĩ mổ thịt, xả máu, khử hôi và ướp muối toàn bộ con lợn rừng này ngay tại bờ suối. Bù lại, ta chỉ xin tráng sĩ nửa tảng sườn heo tươi ngon kia. Huynh thấy thế nào?”
Không gian cánh rừng bỗng chốc im phăng phắc. Tiếng suối chảy róc rách dường như càng làm tôn lên vẻ tĩnh lặng đến nghẹt thở.
Tiêu Lập đứng sừng sững như pho tượng đồng, ánh mắt thâm trầm khóa chặt lấy gương mặt nhỏ nhắn của Nhược Lam. Hắn từng lãnh đạo vạn quân nơi sa trường đẫm máu, từng đối diện với những tướng giặc hung hãn nhất cũng như đám quan lại xảo quyệt chốn triều đình, hắn liếc mắt một cái là nhìn thấu tâm can kẻ đối diện.
Nhưng trước mắt hắn lúc này, tiểu nương tử nhà họ Khương lại như một câu đố kỳ lạ không có lời giải. Nàng không có chút sợ hãi, không có sự nũng nịu yếu đuối của nữ tử khuê các, càng không có vẻ thèm thuồng hèn mọn của kẻ đói khát. Nàng đàm phán với hắn bằng phong thái đĩnh đạc của một người làm ăn chân chính, tự tin vào giá trị mà đôi bàn tay và trí tuệ của mình mang lại.
Ánh mắt hắn khẽ lướt qua vạt áo rách vá chằng đụp của nàng, rồi dừng lại ở những ngón tay thon thả búp măng dính đầy bụi đất và nhựa cây.
Một tia gợn sóng rất khẽ, ấm áp và kỳ lạ thoáng lướt qua cõi lòng vốn đã chai sạn như sắt đá của người đàn ông.
“Được.”
Tiêu Lập mở miệng, phun ra một chữ ngắn gọn dứt khoát.
Không phí một lời thừa thãi, hắn lập tức vác con lợn rừng ném xuống một tảng đá phẳng phiu bên bờ suối. Rút phắt thanh đoản đao sắc lẹm bên hông ra, hắn đưa mắt nhìn nàng như muốn bảo: “Để ta xem nàng làm thế nào.”
Nhược Lam không hề lúng túng. Nàng xắn cao tay áo thô lên tận khuỷu, để lộ đôi cẳng tay trắng nõn nà đối lập hoàn toàn với làn da ngăm đen của Tiêu Lập.“Tráng sĩ, trước hết rạch một đường dài từ ức xuống bụng, mũi dao chếch một góc nghiêng vừa phải để tránh chọc thủng bàng quang và ruột già làm bẩn thịt.” Nhược Lam cất giọng chỉ huy rành rọt, tự nhiên như một vị giáo sư đang hướng dẫn sinh viên trong phòng thí nghiệm.
Đôi mắt Tiêu Lập lóe lên một tia thán phục. Hắn gật đầu, lưỡi đao vung lên mau lẹ như chớp giật. Đường rạch ngọt xớt, chuẩn xác đến từng phân, tách rời lớp da dày và mỡ mà không hề chạm vào nội tạng. Kỹ năng dùng đao của hắn thuần thục, dứt khoát đến mức toát lên vẻ đẹp tàn khốc của một sát thủ chiến trận. Nhược Lam thầm giật mình đánh giá: người này tuyệt đối không phải thợ săn bình thường, đao pháp này phải tôi luyện qua hàng ngàn lần chém giết sinh tử mới có được! Nhưng nàng khôn ngoan không để lộ bất kỳ sự tò mò nào trên nét mặt.
Trong khi Tiêu Lập xẻ thịt, Nhược Lam nhặt hai hòn đá cuội to bên suối, rửa sạch rồi bắt đầu nghiền nát những tảng muối khoáng thành thứ bột mịn trắng tinh. Tiếp đó, nàng cho những chùm quả thảo mộc dại vào giã nát chung với muối. Tinh dầu thơm nồng quyện với vị mặn mòi bốc lên ngào ngạt, át sạch mùi tanh tưởi của máu huyết xung quanh.
“Xối nước suối lạnh vào các thớ thịt nạc để ép hết máu đọng ra ngoài.” Nhược Lam vừa chỉ dẫn vừa dùng hai tay bốc từng nắm bột muối thảo mộc xát mạnh lên các tảng thịt vừa được lọc ra.
Đôi bàn tay nhỏ nhắn của nàng thoăn thoắt xoa bóp, miết đều hỗn hợp gia vị vào từng kẽ thịt, từng thớ nạc đỏ tươi. Kỳ diệu thay, thứ thịt lợn rừng vốn đỏ thẫm và bốc mùi tanh nồng, sau khi được bàn tay nàng xoa bóp bằng thứ muối thơm kia, bề mặt lập tức se lại, thớ thịt săn chắc, toát ra một mùi hương thanh khiết, ấm áp của núi rừng, không còn vương lại dù chỉ một chút mùi tanh tao hay gây ngái!
Tiêu Lập đứng bên cạnh nhìn từng động tác thuần thục, uyển chuyển của nàng, trong lòng chấn động không thôi. Hắn vô thức hít một hơi thật sâu, mùi hương cay nồng dễ chịu của thảo mộc xộc thẳng vào khứu giác, khiến bụng hắn cũng bất giác cồn cào.
Nửa canh giờ trôi qua nhanh chóng. Toàn bộ con lợn rừng hơn hai trăm cân đã được phân tách gọn gàng thành từng tảng thịt vuông vức, sạch sẽ, ướp muối thơm lừng xếp ngay ngắn trên những tàu lá chuối rừng xanh mướt.
Tiêu Lập nhìn thành quả trước mắt, đáy mắt lộ rõ vẻ hài lòng hiếm thấy. Hắn liếc nhìn tảng sườn heo béo ngậy xen lẫn nạc mỡ đều đặn – phần thịt ngon nhất, mềm nhất của cả con lợn.
Không một chút do dự, hắn vung đao chém phập một tiếng giòn tan. Một nửa tảng sườn non tươi rói, dày cộm, nặng chừng sáu bảy cân được hắn nhấc bổng lên bằng một tay, đặt gọn gàng vào trong chiếc gùi tre của Nhược Lam. Không những thế, hắn còn tiện tay cắt thêm một dải thịt ba chỉ béo núc ních ném thêm vào gùi cho nàng.
Nhược Lam ngẩn người, chớp chớp mắt nhìn dải thịt ba chỉ tươi ngon: “Tráng sĩ, ta chỉ xin nửa tảng sườn theo đúng thỏa thuận thôi mà?”
Tiêu Lập lau sạch lưỡi đao vào vạt áo da thú, tra đao vào vỏ. Hắn quay lưng lại với nàng, cúi người buộc lại đống thịt của mình, giọng nói trầm thấp cất lên đều đều:
“Cách ướp thịt của nàng… đáng giá hơn số này.”
Dừng một chút, như thể cảm thấy lời nói của mình quá dài dòng, hắn khẽ hắng giọng bổ sung thêm một câu cộc lốc: “Lần sau lên rừng, đừng đi một mình. Rừng này… không hiền như nàng nghĩ.”
Nói dứt lời, người đàn ông vạm vỡ liền xốc bó thịt lợn rừng nặng trĩu lên vai, sải bước thoăn thoắt về phía con đường mòn dẫn lên sườn núi cao rậm rạp. Bóng lưng hắn cao lớn, thẳng tắp như cây tùng bách ngạo nghễ giữa sương gió, chỉ chớp mắt đã khuất sau những tầng lá xanh thẳm.
Nhược Lam đứng bên bờ suối nhìn theo bóng lưng hắn biến mất, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười rạng rỡ.
“Gã thợ săn mặt lạnh này… nhìn thì thô lỗ dữ dằn, nhưng tính tình lại sòng phẳng và chu đáo phết đấy chứ.” Nàng lẩm bẩm một mình, cảm thấy lòng tràn ngập niềm vui sướng.
Cúi xuống nhìn chiếc gùi tre đầy ắp chiến lợi phẩm: nửa tảng sườn lợn rừng tươi rói đã được ướp muối thơm nức, một tảng thịt ba chỉ dày dặn, mấy củ măng giang mập mạp trắng nõn, một ôm rau dớn non mướt cùng một túi muối khoáng quý giá.
Một bữa tiệc thịnh soạn! Sau bao ngày chịu đói khát và ăn cám mốc, hôm nay nàng nhất định phải bồi bổ một bữa ra trò!
Nhược Lam khoác gùi lên vai. Sức nặng của thịt và rau khiến đôi vai gầy của nàng hơi trĩu xuống, nhưng bước chân nàng lại nhẹ tênh như lướt trên mây. Nàng bước thoăn thoắt men theo con đường cũ trở về thôn Lạc Diệp.
Khi Nhược Lam về đến trước cổng rào nứa xiêu vẹo của căn nhà tranh, mặt trời đã lên cao quá ngọn tre. Nắng vàng rực rỡ rải đều trên những luống đất cằn cỗi hoang tàn quanh sân.
Ở góc sân, hai bóng người đang sốt ruột ngóng ra ngõ.
Một người phụ nữ trung niên trạc bốn mươi lăm tuổi, khuôn mặt phúc hậu khắc khổ đầy nếp nhăn, mặc chiếc áo vải thô vá chằng chịt, trên tay ôm một bó rơm khô thơm mùi nắng mới. Đứng bên cạnh bà là một bé gái chừng mười tuổi, đôi mắt tròn xoe đen láy, hai má phúng phính nhưng nước da hơi xanh xao vì thiếu chất, tóc thắt hai bím đuôi sam lúc lắc.
Đó chính là Tam Thẩm – Lý thị và bé Bảo Nha, con gái út của nhà Tam Thúc!
Vừa nhìn thấy bóng Nhược Lam từ xa đi lại, bé Bảo Nha đã reo to lên: “Mẹ ơi, Nhược Lam tỷ tỷ về rồi kìa!”
Tam Thẩm vội vã buông bó rơm xuống đất, hấp tấp chạy ra đón nàng, vẻ mặt vừa lo lắng vừa xót xa: “Ôi chao tổ cô của tôi ơi! Con vừa mới dứt cơn sốt đêm qua, chân tay còn bủn rủn thế kia sao lại dám mò mẫm lên tận rừng sâu thế này? Sáng nay thím với bé Bảo Nha mang ít rơm khô sang lót ổ nằm cho con, thấy cửa mở toang hoác không bóng người, thím lo đến thắt cả ruột gan!”
Nhìn sự quan tâm chân thành ánh lên trong đôi mắt đỏ hoe của Tam Thẩm, cõi lòng Nhược Lam ấm áp vô cùng. Nàng vội đặt gùi tre xuống gốc cây ổi cằn cỗi trước sân, nắm lấy bàn tay thô ráp, nứt nẻ của bà, cười trấn an:
“Tam Thẩm, người đừng lo. Con đã khỏe hẳn rồi, không tin người xem này, con còn đi lại thoăn thoắt được đây thím thấy không? Con lên bìa rừng tìm ít rau dại lót dạ thôi mà.”
Bé Bảo Nha tò mò nghé mắt nhìn vào trong chiếc gùi tre to tướng. Đột nhiên, con bé mở to hai mắt, hít hít cái mũi nhỏ xíu rồi reo lên kinh ngạc:
“Thịt! Mẹ ơi, trong gùi của tỷ tỷ có tảng thịt to đùng kìa! Ôi chao ôi, thơm quá đi mất!”
Tam Thẩm nghe vậy giật nảy mình, vội vàng nhìn vào gùi. Đến khi tận mắt nhìn thấy nửa tảng sườn lợn rừng dày cộm và miếng thịt ba chỉ mỡ màng đỏ au nằm gọn gàng bên cạnh măng tươi và rau rừng, sắc mặt bà lập tức biến đổi, từ lo lắng chuyển sang hoảng hốt tột độ.
“Nhược Lam… cái này… thịt này ở đâu ra thế con?” Giọng Tam Thẩm run rẩy, bà hạ thấp giọng xuống thì thào đầy sợ hãi: “Con… con không làm chuyện gì dại dột đấy chứ? Nhà họ Chu làng bên mà biết con có thịt thế này, bọn họ vu vạ cho con tội trộm cắp thì chết dở đấy con ơi!”
Nhược Lam phì cười trước trí tưởng tượng phong phú của Tam Thẩm. Nàng kéo bà ngồi xuống chiếc ghế đẩu mục bên hiên nhà, kiên nhẫn giải thích:
“Thím yên tâm đi, thịt này là con đường đường chính chính đổi được bằng sức lao động đấy ạ! Sáng nay con lên rừng tình cờ gặp thợ săn Tiêu Lập săn được lợn rừng lớn. Con biết một bài thuốc gia truyền dùng thảo mộc và muối khoáng giúp huynh ấy xử lý thịt tươi không bị hôi ôi thiu trong ngày nắng, huynh ấy cảm tạ nên xẻ cho con chỗ thịt này đấy.”
“Tiêu Lập?” Tam Thẩm nghe đến cái tên này thì hít sâu một hơi khí lạnh, đưa tay vỗ vỗ ngực: “Trời đất quỷ thần ơi! Con bé này gan to bằng trời rồi! Gã thợ săn mặt lạnh họ Tiêu đó là người hung dữ, lầm lì nhất vùng này đấy. Nghe đồn hắn từng g**t ch*t cả hổ dữ trên núi, ai nhìn thấy hắn cũng phải né xa ba trượng, thế mà con dám đến gần nói chuyện rồi đổi thịt với hắn ư?”
“Người ta mặt lạnh nhưng tâm địa rất sòng phẳng, chính trực thím ạ, không xấu như miệng lưỡi thế gian đồn đại đâu.” Nhược Lam cười xua tay, rồi sốt sắng nói: “Tam Thẩm, hôm nay trời cho lộc lớn, thím đừng về vội. Thím ở lại đây, gọi cả Tam Thúc sang, trưa nay nhà chúng ta ăn một bữa thịt sườn hầm măng thật no nê!”
Đúng lúc đó, từ ngoài ngõ có tiếng bước chân vội vã. Tam Thúc – Khương Vĩnh Cửu vai vác chiếc cuốc sứt cán, mồ hôi nhễ nhại hớt hải chạy vào: “Bà nó ơi! Tìm thấy con bé chưa? Tôi nghe người làng bảo thấy con bé lên núi…”
Lời nói của Tam Thúc nghẹn lại nơi cổ họng khi nhìn thấy cảnh tượng trước mắt: Nhược Lam khỏe mạnh tươi tắn đang ngồi cười, còn trong chiếc gùi tre đặt giữa sân là một tảng sườn lợn rừng to đùng tỏa hương thơm lừng!
Sau một hồi giải thích ngọn ngành, Tam Thúc mới thở phào nhẹ nhõm, lau mồ hôi trán rồi nhìn Nhược Lam với ánh mắt đầy thán phục và tự hào: “Con bé này… quả thật thông minh lanh lợi giống hệt mẫu thân con năm xưa! Được, hôm nay nghe lời cháu gái, cả nhà ta ăn thịt!”
Không khí trong căn nhà tranh hoang tàn bỗng chốc trở nên rộn ràng, ấm cúng lạ thường.
Nhược Lam lập tức bắt tay vào việc nấu nướng – niềm đam mê lớn thứ hai của nàng sau nghề nông.
Căn bếp nhỏ xiêu vẹo thiếu thốn đủ thứ, chỉ có một chiếc kiềng sắt ba chân gỉ sét và một chiếc nồi đất nung cũ kỹ đã sứt vài chỗ ở miệng do Tam Thẩm vừa chạy về nhà mang sang cho mượn. Nhưng bấy nhiêu đó là quá đủ đối với một tay hòm chìa khóa đảm đang như Nhược Lam.
Nàng phân công công việc nhịp nhàng: Tam Thúc lấy lớp rơm khô lót lại chõng tre cho êm ái rồi ra vườn dọn cỏ dại; Tam Thẩm phụ trách tước măng giang thành từng sợi nhỏ luộc qua nước sôi để khử bớt vị the nồng; bé Bảo Nha lanh lợi ngồi nhặt từng cọng rau dớn, đôi mắt trong veo thỉnh thoảng lại liếc nhìn tảng thịt trên thớt gỗ mà nuốt nước miếng ừng ực.
Nhược Lam đem tảng sườn heo chặt thành từng khúc vuông vức vừa ăn. Sườn lợn rừng thớ thịt săn chắc, mỡ mỏng dính, tủy đỏ au tươi rói. Nàng cắt một miếng mỡ lợn từ dải ba chỉ cho vào nồi đất đun nóng.
“Xèo… xèo…”
Âm thanh mỡ rán sôi lên giòn giã vang vọng khắp gian bếp nghèo. Mỡ lợn tan chảy xèo xèo, bốc lên mùi thơm ngậy đặc trưng khiến người ta phải cồn cào ruột gan. Nhược Lam đập dập một nhánh gừng rừng và vài tép tỏi dại thả vào chảo mỡ phi thơm lừng, sau đó trút toàn bộ chỗ sườn chặt vào xào săn lại.
Thịt sườn gặp mỡ nóng lập tức co lại, bề mặt xém vàng óng ả, mùi thơm của thịt quyện với vị cay nồng của gừng tỏi và tinh dầu quả dại rừng bốc lên ngùn ngụt, lan tỏa khắp gian nhà tranh, bay qua bờ dậu, bay sang tận những nếp nhà lân cận.
Bảo Nha ngồi bên bếp lò hít hà, hai mắt sáng lấp lánh như sao sa: “Thơm quá… Nhược Lam tỷ tỷ ơi, muội chưa bao giờ ngửi thấy mùi thịt nào thơm như thế này cả!”
Nhược Lam cười xoa đầu cô bé: “Chờ một chút nữa thôi, khi măng ngấm vị ngọt của xương tủy thì mới thực sự là tuyệt phẩm.”
Khi miếng sườn đã săn lại và ngả màu vàng cánh gián tuyệt đẹp, Nhược Lam đổ nước suối trong vắt ngập mặt thịt, nêm thêm một nhúm muối khoáng đã tinh chế rồi đậy vung lại, giữ lửa riu riu. Nồi đất giữ nhiệt cực tốt, nước dùng bên trong sôi lục bục sủi bọt trắng xóa. Nàng hớt sạch lớp bọt cặn nổi lên trên để nước dùng trong veo, rồi trút toàn bộ măng giang xé sợi vào hầm chung.
Lửa than củi bập bùng soi rọi gương mặt lấm tấm mồ hôi nhưng rạng ngời hạnh phúc của nàng.
Nửa canh giờ sau, nồi sườn hầm măng rừng đã chín nhừ. Nhược Lam bắc nồi xuống đất, rắc thêm một nhúm hành tăm và tiêu rừng giã nhỏ lên trên. Nàng lại dùng chút mỡ lợn còn sót lại trong chảo xào nhanh đĩa rau dớn xanh mướt, đĩa rau bóng bẩy giòn sần sật, điểm xuyết vài hạt muối trắng muốt.
Bữa cơm được dọn ra trên một chiếc chõng tre đã được lau chùi sạch sẽ kê giữa gian nhà.
Chiếc nồi đất nung bốc khói nghi ngút, bên trong là những miếng sườn lợn rừng chín mềm róc xương, từng dải măng giang vàng óng ngập trong thứ nước dùng béo ngậy ngọt lịm từ tủy xương hầm kỹ. Bên cạnh là đĩa rau dớn xào xanh mướt bóng bẩy và một âu cháo ngô xay nhuyễn sánh mịn do Tam Thẩm mang sang.
Cả nhà bốn người ngồi quây quần bên nhau.
Tam Thúc nhìn nồi thịt đầy ắp, sống mũi cay cay, đôi mắt mờ đi vì xúc động: “Đã bao năm rồi… từ ngày mẹ cháu mất đi, nhà ta chưa từng được ăn một bữa cơm có miếng thịt tươm tất thế này.”
Tam Thẩm cũng gạt nước mắt, gắp miếng sườn to nhất bỏ vào bát của Nhược Lam: “Cháu vừa ốm dậy, ăn nhiều vào cho lại sức, con bé ngốc này chịu khổ nhiều quá rồi.”
Nhược Lam mỉm cười ấm áp, nàng không nhận một mình mà thoăn thoắt gắp cho Tam Thúc một miếng sườn nhiều nạc, gắp cho Tam Thẩm một miếng dính sụn giòn, rồi gắp cho bé Bảo Nha một khúc sườn béo ngậy đầy thịt:
“Tam Thúc, Tam Thẩm, hai người đừng nhường con nữa. Hôm nay có phúc cùng hưởng, cả nhà ta cùng ăn! Bảo Nha, ăn mau đi muội!”
Bảo Nha được lệnh, lập tức há to miệng cắn ngập răng vào miếng sườn heo.
Thịt lợn rừng hầm nhừ mềm tan nơi đầu lưỡi nhưng vẫn giữ được độ dai ngọt tự nhiên của thú rừng, mỡ mỏng không hề ngấy mà béo bùi đậm đà, vị mặn mòi tinh khiết của muối khoáng hòa quyện với vị thơm nồng the cay của thảo mộc rừng khiến mọi giác quan như bừng tỉnh. Miếng măng giang hút trọn tinh hoa của nước hầm xương, cắn vào vừa giòn sần sật vừa ngọt lịm nước tủy.
“Ngon quá! Tỷ tỷ ơi, ngon đến mức muội muốn nuốt luôn cả lưỡi rồi!” Bảo Nha vừa nhai nhồm nhoàm vừa reo lên sung sướng, hai má phúng phính phồng lên như chú sóc nhỏ đang gặm hạt dẻ.
Tam Thúc và Tam Thẩm nếm thử một miếng thịt, hai người nhìn nhau sững sờ rồi tấm tắc khen không ngớt lời: “Trời đất ơi, thịt lợn rừng vốn nổi tiếng hôi gây khó ăn, sao qua tay con bé Lam lại mềm ngọt, thơm phức thế này? Đến cả cao lương mỹ vị trên huyện thành chắc cũng chỉ ngon đến thế này là cùng!”
Tiếng cười nói rộn rã, tiếng húp nước súp xì xụp chan chứa niềm vui và sự ấm áp tình thân lan tỏa khắp gian nhà tranh rách nát. Dưới mái nhà dột nát ấy, hơi ấm của bữa cơm gia đình và vị ngọt ngào của sức lao động chân chính đã xua tan đi tất cả những u ám, cơ hàn và bất công của số phận.
Bữa cơm thịnh soạn vừa dứt, Nhược Lam bưng bát nước lá rừng thơm mát lên nhấp một ngụm, định cùng Tam Thúc bàn bạc chuyện khai hoang khoảnh đồi sau nhà vào ngày mai.
“RẦM!”
Một tiếng động kinh thiên động địa vang lên!
Chiếc cổng rào nứa tạm bợ trước sân bị ai đó dùng chân đạp mạnh một cú trời giáng, gãy đôi rồi đổ sụp xuống đất bụi bay mù mịt!
Kèm theo đó là một giọng nói the thé như hoạn lợn nhưng đầy vẻ hung hãn, trịch thượng và bẩn thỉu xộc thẳng vào trong sân:
“Con ranh phế vật Khương Nhược Lam đâu rồi? Mau cút xéo ra đây cho ông mày! Nhà họ Khương đã tống cổ mày về đây thì mảnh đất tổ này là của Chu gia tao! Hôm nay mày không chịu dọn đồ cút đi, hay là muốn để cữu cữu này trói mày lại gả cho lão Tiền què làng bên hả?!”
Tiếng rào tre đổ rạp cùng tiếng thét the thé như tiếng lợn bị chọc tiết vừa dứt, không khí ấm cúng trong gian nhà tranh lập tức đông cứng lại.
Bé Bảo Nha giật thót mình, miếng thịt sườn đang nhai dở suýt nữa nghẹn ứ nơi cổ họng. Cô bé sợ hãi buông đũa, vội vàng rúc đầu vào lòng mẹ, cả người run lên bần bật. Nụ cười vừa chớm nở trên môi Tam Thẩm Lý thị vụt tắt, gương mặt chất phác thoắt cái tái nhợt đi vì kinh hãi.
“Chu… Chu Trực!” Tam Thẩm run giọng, hai bàn tay thô ráp siết chặt lấy vai con gái. “Hắn… sao hắn lại đến đây vào lúc này?”
Khương Vĩnh Cửu đặt mạnh bát cháo xuống mặt chõng tre, phát ra một tiếng “cạch” khô khốc. Đôi mắt vốn dĩ hiền lành, nhẫn nhục của người nông phu quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời bỗng chốc vằn lên những tia máu đỏ ngầu. Ông đứng bật dậy, với lấy chiếc đòn gánh dựng ở góc tường, bàn tay gân guốc siết chặt lấy thân tre già bóng loáng:
“Cái ngữ lòng lang dạ thú! Năm xưa chị dâu khuất núi, hắn đã vét sạch số bạc tích cóp của gia đình, nay thấy con bé Lam bị đày về đây bơ vơ không nơi nương tựa, hắn lại muốn dồn ép con bé vào đường chết sao? Để ta ra liều mạng với hắn!”
“Tam Thúc, người bình tĩnh đã.”
Một bàn tay mềm mại nhưng vô cùng vững chãi khẽ đặt lên cánh tay đang run rẩy vì giận dữ của Khương Vĩnh Cửu.
Nhược Lam chậm rãi đứng dậy. Nàng từ tốn vuốt lại nếp áo vải thô đã sờn rách nơi cổ tay, thần sắc trên gương mặt thanh tú không hề có nửa phần kinh hoảng, chỉ có một sự lạnh lùng tĩnh lặng như mặt hồ mùa đông. Đôi mắt hạnh trong veo ánh lên tia nhìn sắc bén, khóe môi khẽ cong lên thành một nụ cười giễu cợt.
Nàng đã sớm liệu được đám đỉa đói này sẽ không để yên. Dấu chân lấm bùn quanh góc hiên đêm qua chính là điềm báo. Chỉ không ngờ, mùi thịt kho vừa bay ra đầu ngõ chưa bao lâu mà cái mũi thính của lũ lang sói đã lần mò tới tận cửa nhanh đến thế.
“Tam Thúc, Tam Thẩm, hai người cứ ngồi yên đây trông Bảo Nha.” Nhược Lam cất giọng trầm tĩnh, thanh âm mang một sức nặng kỳ lạ khiến người ta an lòng. “Có cháu ở đây, để xem hôm nay ai dám động vào một cọng cỏ của căn nhà này.”
Nói đoạn, nàng không hề cầm theo gậy gộc hay dao rựa, cứ thế đĩnh đạc sải bước ra ngoài sân.
Bên ngoài, chiếc cổng nứa đơn sơ bị đạp gãy đôi nằm chỏng trơ giữa đống bùn đất. Đứng sừng sững giữa khoảng sân hoang tàn là một gã đàn ông trung niên béo lùn, bụng phệ như cái trống chầu, hai con mắt ti hí đảo liên hồi như chuột cống. Gã mặc chiếc áo lụa the màu xanh xỉn đã cáu bẩn nơi cổ áo, trên tay phe phẩy chiếc quạt nan rách mép — đó chính là Chu Trực, kẻ mang danh cữu cữu ruột của nguyên thân, nhưng lòng dạ lại hiểm độc hơn cả rắn rết.
Đứng ngay sau lưng Chu Trực là một mụ đàn bà trạc tứ tuần, mặt trét phấn dày cộp như quét vôi, bên khóe miệng có một nốt ruồi to tướng cắm chiếc lông gà ngoe nguẩy. Mụ ta tay cầm chiếc khăn tay sặc sùa mùi phấn hương rẻ tiền, hai con mắt dán chặt vào gian bếp đang bốc khói nghi ngút, miệng không ngừng chép chép hít hà mùi thơm béo ngậy của thịt hầm.
Phía sau cùng còn có hai gã lưu manh lực lưỡng trong làng, tay lăm lăm dây thừng thô và bao tải gai, mặt mày bặm trợn đầy vẻ đe dọa.
Thấy Nhược Lam bước ra với dáng vẻ thanh thoát, không hề có chút tiều tụy, khóc lóc thảm hại như tưởng tượng, Chu Trực thoáng ngẩn người. Nhưng ngay sau đó, mùi sườn heo hầm măng rừng thơm lừng từ trong nhà bay ra xộc thẳng vào mũi khiến gã nuốt nước bọt đánh ực một cái, sự thèm thuồng lập tức hóa thành cơn thịnh nộ ghen ghét.
“Con ranh con!” Chu Trực chĩa thẳng chiếc quạt nan vào mặt Nhược Lam, the thé mắng chửi: “Mày hay cho một đứa con gái bất hiếu, thất đức! Bị Khương phủ đuổi cổ về quê cũ như chó cụt đuôi, không biết ngậm miệng mà sám hối, lại dám lén lút ăn sung mặc sướng ở đây? Mày lấy đâu ra thịt béo thế kia? Có phải mày đã giấu giếm bạc của tổ tiên nhà họ Chu tao mang về đây tiêu xài không hả?!”
Nhược Lam đứng khoanh tay trước bậc thềm đất, ánh mắt quét qua bộ dạng nhếch nhác của gã cữu cữu, khẽ bật cười thành tiếng:
“Chu Trực, ban ngày ban mặt, ngẩng đầu có trời xanh, cúi đầu có đất dày, ngông cuồng sủa bậy không sợ sét đánh trúng đỉnh đầu sao? Bạc của Chu gia các người? Năm xưa khi nương ta gả vào Khương phủ, của hồi môn mang theo toàn là do bà ngoại để lại cho riêng nương ta. Sau khi nương ta tạ thế, số bạc tích cóp gửi về quê sửa sang phần mộ đã bị ai đánh tráo, đem đi nướng sạch vào sòng bạc ngoài huyện thành, trong lòng ngươi tự biết rõ nhất! Ngươi còn mặt mũi nào dám đứng ở đây mở mồm nhắc đến hai chữ tổ tiên?”
“Mày… Mày dám ăn nói với cữu cữu như thế à?!” Chu Trực nghẹn họng, mặt đỏ gay như mào gà chọi. Gã không ngờ con nha đầu vốn dĩ yếu đuối, chỉ biết ôm mặt khóc thút thít ở kinh thành nay lại có cái miệng sắc bén như dao cạo thế này.
Mụ đàn bà mặt phấn đứng bên cạnh — chính là Tôn mối bà nức tiếng hiểm độc ở thôn bên — thấy Chu Trực thất thế liền lắc lư thân hình núc ních bước lên, cất giọng chua loét:
“Ai da, đại cô nương Khương gia ơi là Khương gia! Người ta nói thiên kim tiểu thư dù sa cơ lỡ vận thì cốt cách vẫn còn, sao con bé này mở miệng ra toàn lời đanh đá thế không biết? Cữu cữu của ngươi là vì thương xót ngươi thân gái dặm trường, không cha không mẹ che chở nên mới trăm bề lo nghĩ cho tiền đồ của ngươi đấy chứ!”
Tôn mối bà vẫy vẫy chiếc khăn sực mùi hương rẻ tiền, liếc xéo Nhược Lam từ đầu đến chân rồi cười giả lả:
“Ngươi nhìn lại mình xem, bị phế truất đích nữ, lại mang cái danh bất hiếu ngỗ ngược, ở cái thôn Lạc Diệp khỉ ho cò gáy này thì có ma nào thèm rước? Cữu cữu ngươi đã hao tâm tổn trí, cậy nhờ ta làm mối cho một mối nhân duyên trời ban. Tiền lão gia ở làng bên tuy tuổi tác có hơi cứng một chút, chân cẳng hơi khập khiễng, lại vừa mới mất đi kế thất, nhưng trong nhà có tới năm mươi mẫu ruộng tốt, thóc lúa đầy bồ, bạc nén xếp thành từng hòm! Ngươi gả qua đó làm thiếp, chẳng phải cả đời áo gấm cơm chim, không cần phải cắm mặt xuống bùn làm ruộng hay sao? Tiền lão gia đã hào phóng ra giá hai mươi lượng bạc sính lễ, hôm nay bọn ta mang sính lễ đến đón ngươi đi ngay lập tức!”
“Hai mươi lượng bạc?”
Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu từ trong nhà xông thẳng ra sân, chiếc đòn gánh trong tay giộng mạnh xuống đất nghe một tiếng “thình”, trừng mắt quát lớn:
“Tôn thị! Mụ chớ có ngậm máu phun người! Cả cái huyện Vân Khê này ai mà không biết lão Tiền què kia đã ngoài năm mươi tuổi, tính tình bạo ngược, hai đời vợ trước đều bị lão đánh đập hành hạ đến chết! Mụ và Chu Trực nhận bạc thất đức của lão, muốn đẩy con bé Lam vào hố lửa để lấy tiền chia chác đúng không? Hôm nay Khương Vĩnh Cửu ta còn một hơi thở, đừng hòng ai đụng vào một sợi tóc của cháu gái ta!”
“Khương Vĩnh Cửu! Lão già nghèo kiết xác này cút sang một bên!” Chu Trực nhảy dựng lên, lộ rõ bộ mặt hung tợn: “Mày là cái thớ gì mà dám xía vào chuyện nhà họ Chu? Con Lam là cháu gái ruột của tao, chuyện hôn sự của nó do tao làm chủ! Chưa kể mảnh đất cắm dùi này vốn dĩ là đất của Chu gia, tao đã hứa gán cho Tiền lão gia làm vườn ươm rồi. Hôm nay nó muốn gả cũng phải gả, không muốn gả cũng phải gả! Tụi bây đâu, trói nó lại ném lên xe bò cho tao!”
Hai gã lưu manh phía sau nghe lệnh liền cười gằn, giơ dây thừng sấn tới.
Đúng lúc ấy, tiếng ồn ào huyên náo đã kéo theo cả chục người dân làng Lạc Diệp đang đi làm đồng về đứng vây kín ngoài hàng rào. Người người xì xào bàn tán, ai nấy đều lộ vẻ bất bình trước sự ngang ngược của Chu Trực nhưng lại e ngại đám du thủ du thực hung hãn.
“Dừng tay lại!”
Một tiếng quát sang sảng, đanh thép tựa sấm rền vang lên cắt ngang bầu không khí căng thẳng.
Nhược Lam không hề lùi lại nửa bước, nàng bước thẳng tới trước mặt hai gã lưu manh, ánh mắt sắc như lưỡi kiếm khiến hai tên côn đồ bất giác chùn chân, dừng phắt lại.
Nàng quay sang nhìn thẳng vào Chu Trực, khóe môi nhếch lên một nụ cười lạnh buốt:
“Chu Trực, ngươi mở miệng ra là bảo chuyện hôn sự của ta do ngươi làm chủ, bảo mảnh đất này là của ngươi? Ngươi sống ngần ấy năm trên đời, chẳng lẽ đầu óc chỉ toàn bã đậu, không hiểu nổi một chữ luật pháp của Đại Ninh quốc sao?”
Chu Trực hơi giật mình, chột dạ chớp mắt: “Mày… Mày nói nhảm cái gì đó? Cha mẹ mất thì cữu cữu làm chủ, đó là đạo lý ngàn đời!”
“Đạo lý của phường cướp ngày thì có!” Nhược Lam dõng dạc cất cao giọng, từng câu từng chữ rõ ràng, rành rọt truyền khắp bờ rào cho toàn thể dân làng cùng nghe:
“Thứ nhất, theo luật lệ Hộ tịch của Đại Ninh triều ta, phàm là nữ tử sau tuổi cập kê, nếu không còn phụ mẫu bên cạnh, lại có ‘Đoạn tuyệt thư’ và hộ tịch độc lập do quan phủ chứng thực, thì chính là ‘Hộ nữ chủ’! Ta, Khương Nhược Lam, khi rời khỏi kinh thành đã được Khương Thượng thư ký giấy phân định hộ tịch riêng biệt, nộp lên Huyện nha Vân Khê làm sổ hộ mới. Ta là một nông dân tự do, có quyền tự quyết định thân phận, hôn sự và tài sản của chính mình! Ngươi bất quá chỉ là họ hàng bên ngoại, không có quyền giám hộ, càng không có tên trong gia phả hộ tịch của ta. Ngươi tự tiện nhận tiền sính lễ, ép gả lương dân làm thiếp, chiếu theo hình luật Đại Ninh, tội danh này gọi là ‘c**ng b*c mại nhân’, nhẹ thì phạt trượng năm mươi, nặng thì đày đi biên ải ba năm!”
Lời vừa thốt ra, Tôn mối bà hoảng hốt lùi lại một bước, chiếc khăn tay rơi tuột xuống đất. Mụ làm nghề mối lái bao năm, dĩ nhiên biết luật pháp triều đình cực kỳ nghiêm khắc với tội ép gả dân nữ tự do, chỉ là tưởng con bé này ở kinh thành về thế cô sức yếu nên định bắt nạt, nào ngờ nàng lại hiểu luật như lòng bàn tay!
Nhược Lam không cho bọn chúng kịp thở, nàng tiến thêm một bước, chỉ thẳng tay xuống mảnh đất dưới chân:
“Thứ hai, ngươi nói mảnh đất này là của Chu gia? Mở to mắt chó của ngươi ra mà nhìn cho rõ! Căn nhà tranh này vốn là của cố mẫu ta dựng tạm trên đất hoang làng Lạc Diệp từ hai mươi năm trước. Sau khi mẫu thân theo cha ta lên kinh, nơi này bị bỏ hoang suốt mười lăm năm, cỏ mọc lút đầu người, Chu gia các ngươi có từng đóng một đồng thuế đất nào cho nha môn huyện không? Chiếu theo luật ruộng đất Đại Ninh: đất vô chủ quá mười năm, ai đến khai hoang lập hộ thì người đó được quyền ưu tiên đăng ký khế ước canh tác! Hôm qua ta đã nhờ Tam Thúc trình báo lên Lý chính, xin tiếp nhận mảnh đất hoang cằn cỗi này để tự lực cánh sinh. Ngươi không có khế đất trong tay, không có văn tự đóng dấu của quan phủ, dựa vào cái gì mà dám đem đất làng Lạc Diệp đi gán nợ cho người làng bên?!”
“Nói hay lắm!”
Một tiếng khen ngợi vang lên từ đám đông ngoài ngõ.
Đám dân làng tự động rẽ ra hai bên, một lão nhân râu tóc bạc phơ, tay chống gậy trúc, nét mặt nghiêm nghị bước vào sân. Đó chính là Trần lão trượng — Lý chính của thôn Lạc Diệp.
Dân làng Lạc Diệp vốn chất phác nhưng ghét nhất là kẻ ngoài làng sang ức h**p người trong thôn, lại càng căm ghét cái thói tham lam của Chu Trực. Nghe Nhược Lam nói có tình có lý, luật pháp rành rọt, ai nấy đều gật đầu tán thưởng:
“Đúng đấy! Con bé Lam nói không sai một chữ nào!”
“Đất của thôn Lạc Diệp ta, Chu gia ở tận thôn Đông Hà cớ sao dám sang đây đòi bán?”
“Lão Tiền què khét tiếng bạo ngược, Chu Trực muốn bán cháu gái kiếm chác mà còn dám giở giọng đạo đức giả à?”
Sắc mặt Chu Trực biến đổi liên tục, từ đỏ chuyển sang trắng bệch, rồi lại tím ngắt như gan lợn. Gã nhìn thấy Lý chính xuất hiện, lại thấy bà con lối xóm đều đứng về phía Nhược Lam, hai gã lưu manh đi cùng cũng đã sợ hãi thu dây thừng lùi ra tận cổng, biết hôm nay kế hoạch đã hoàn toàn đổ bể.
Lý chính Trần lão trượng bước tới giữa sân, giộng mạnh cây gậy trúc xuống đất, đôi mắt đục ngầu quắc lên nhìn chằm chằm vào Chu Trực:
“Chu Trực! Ngươi tưởng thôn Lạc Diệp này không có người có học, không có quy củ làng xóm hay sao mà dám kéo lưu manh sang đây càn quấy? Khương nha đầu đã nhập tịch thôn ta, chính là người của Lạc Diệp! Tờ đơn xin nhận lại đất hoang của con bé ta đã tiếp nhận, sáng mai sẽ đệ trình lên huyện nha đóng dấu khế ước. Ngươi còn dám ở đây giở trò ép gả, cướp đất, lão già này lập tức gõ mõ triệu tập toàn bộ trai tráng trong thôn trói gô cổ các ngươi lại tống lên công đường huyện Vân Khê!”
Chu Trực run rẩy lùi lại mấy bước, ngón tay chỉ vào Nhược Lam run bần bật vì tức tối:
“Được… Được lắm! Khương Nhược Lam, mày giỏi lắm! Mày cứ ôm lấy cái đống đất sỏi đá bạc màu này mà sống qua ngày đi! Đừng tưởng có chút thịt vụn lót dạ mà đã lên mặt. Mảnh đất này chua loét cằn cỗi, hạt ngô gieo xuống thành mầm độc, cọng cỏ còn không mọc nổi thì mày chỉ có nước chết đói! Đến lúc đó mày có quỳ xuống lạy van xin tao gả cho Tiền lão gia, tao cũng mặc xác cho mày làm ma đói xó đường!”
Nói dứt lời, Chu Trực không dám nán lại nửa khắc, cùng Tôn mối bà và hai tên tay sai cụp đuôi chen chúc tháo chạy ra khỏi cổng rào, bộ dạng chật vật chẳng khác nào chó nhà có tang.
Dân làng thấy cảnh tượng đó liền ồ lên cười khoái chí, tiếng cười rộn rã xua tan đi bầu không khí ngột ngạt suốt từ nãy đến giờ.
Nhược Lam bước tới, kính cẩn cúi đầu hành lễ với Lý chính và bà con: “Đa tạ Lý chính gia gia đã phân xử công minh, đa tạ các cô bác chú dì trong thôn đã vì Nhược Lam mà đứng ra che chở.”
Lý chính nhìn thiếu nữ trước mặt tuy mặc áo thô nhưng khí chất thanh tao, ứng đối đĩnh đạc, trong lòng thầm thán phục, hiền từ xoa chòm râu bạc: “Khương nha đầu không cần đa lễ. Cháu là cốt nhục của người có ơn với dân làng, lại hiểu biết lễ nghĩa, luật pháp như vậy, người già này rất mừng. Nhưng mà… Chu Trực nói cũng có phần đúng đấy cháu à. Khoảnh đồi quanh nhà này đất đai xấu lắm, chua phèn nặng trĩu, sỏi đá ken dày, bao năm qua không ai trồng trọt nổi thứ gì. Cháu thân gái một mình, muốn trông cậy vào mấy mẫu đất cằn này để kiếm miếng ăn, sợ rằng gian nan muôn phần…”
Bà con xung quanh cũng lắc đầu ái ngại:
“Phải đấy Lam nha đầu, đất này nước mưa đọng lại chua loét cả đầu lưỡi, gieo lúa thì lúa vàng vọt rụi lá, trồng khoai thì củ bé bằng ngón tay út mà lại đắng ngắt.”
“Chi bằng cháu qua nhà thím phụ dệt vải, kiếm vài bát cám qua ngày…”
Nhược Lam mỉm cười rạng rỡ, ánh mắt nàng nhìn ra khoảng đất trống sau nhà ngập tràn một niềm tin mãnh liệt:
“Cháu xin ghi nhận tấm lòng của Lý chính gia gia và bà con. Nhưng đất đai cũng giống như con người vậy, nếu nó bị bệnh, chỉ cần bắt đúng bệnh, bốc đúng thuốc thì tự khắc sẽ trở nên màu mỡ, đền đáp công sức người chăm bón. Cháu tin bàn tay con người có thể cải tạo được thiên nhiên!”
Những lời nói đầy khí phách và mới mẻ ấy khiến đám đông ngẩn ngơ. Ở cái thời đại mà việc đồng áng hoàn toàn phó mặc cho ý trời, làm gì có ai từng nghe nói đến chuyện “bắt bệnh cho đất” bao giờ? Mọi người chỉ nghĩ nàng là tiểu thư kinh thành chưa từng nếm mùi khổ cực nên nói lời ngây thơ, bèn lắc đầu thở dài rồi lục tục giải tán ra về.
*
Sau khi tiễn dân làng và Lý chính, sân nhà lại trở về với vẻ yên tĩnh vốn có.
Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu không nói một lời, lặng lẽ nhặt lại những thanh nứa gãy, dùng dây rừng chằng buộc lại chiếc cổng rào cho ngay ngắn. Tam Thẩm và bé Bảo Nha thu dọn bát đĩa trên chõng tre, ánh mắt nhìn Nhược Lam chan chứa niềm tự hào lẫn xót xa.
“Lam tỷ tỷ, tỷ vừa nãy oai phong thật đấy!” Bảo Nha chạy lại ôm lấy vạt áo nàng, đôi mắt tròn xoe sáng lấp lánh như hai vì sao nhỏ. “Tỷ mắng cho cái lão Chu Trực béo ú kia không dám ho he một lời nào luôn!”
Nhược Lam bật cười, cúi xuống véo nhẹ chiếc má phúng phính của cô bé: “Muội đó, sau này lớn lên cũng phải nhớ kỹ: ai muốn bắt nạt mình thì mình phải đứng thẳng lưng mà đối đáp, không được để người ta đè đầu cưỡi cổ, rõ chưa?”
“Dạ, muội nhớ rồi!” Bảo Nha gật đầu lia lịa.
Nhược Lam quay sang nhìn Tam Thúc đang lúi húi buộc rào, cất giọng ấm áp: “Tam Thúc, lát nữa người giúp cháu mượn một chiếc cuốc chim và một chiếc xẻng sắt nhé. Chiều nay cháu muốn bắt tay vào làm việc ngay.”
Khương Vĩnh Cửu quay đầu lại, lau mồ hôi trên trán, vẻ mặt đầy băn khoăn: “Lam nhi, cháu định làm ruộng thật sao? Mảnh vườn sau nhà và khoảnh đồi này… thúc nói thật lòng, đất ở đây chua lắm, đào sâu xuống ba tấc toàn là đất sét vàng dẻo quánh, mùa nắng thì nứt toác cứng như đá mài, mùa mưa thì nhão nhoét như cháo ứ nước thối rễ, trồng cây gì cũng chết yểu thôi cháu ơi.”“Tam Thúc yên tâm, cháu đã có cách chữa bệnh cho nó rồi.” Nhược Lam cười tự tin, trong lòng nàng ngọn lửa đam mê của một tiến sĩ nông học hiện đại đang bùng cháy dữ dội.
Đối với người nông dân thời phong kiến, đất chua phèn là “đất chết”, là lời nguyền của trời đất. Nhưng dưới con mắt chuyên môn của Nhược Lam, nàng nhìn thấu bản chất của vấn đề.
Nàng bước ra khoảnh đất rộng chừng hai mẫu sau nhà tranh, ngồi xổm xuống bốc một nắm đất lên tay.
Đất có màu xám xỉn pha lẫn những vệt vàng rỉ sắt đặc trưng của đất phèn hoạt động. Nàng đưa lên mũi ngửi — một mùi chua ngai ngái nồng nặc mùi lưu huỳnh và kim loại nặng bốc lên. Nhìn thảm thực vật tự nhiên, quanh đây chỉ mọc lưa thưa vài bụi cỏ chỉ cằn cỗi và những đám rêu xanh nhớp nháp bám trên bề mặt sỏi đá. Cây cối bản địa xung quanh đều có hiện tượng chùn đọt, mép lá úa vàng và cháy xém.
Độ chua này, theo thang đo hiện đại, pH chắc chắn chỉ dao động từ 4.0 đến 4.3 — một môi trường cực kỳ độc hại với nồng độ nhôm và sắt tự do hòa tan quá cao, làm teo tóp đầu rễ non, khiến cây trồng không thể nào hấp thụ được lân và các chất dinh dưỡng vi lượng.
Muốn cây ngô đâm chồi nảy lộc, bước đầu tiên và sống còn là phải “khử chua hạ phèn”, nâng độ pH lên ngưỡng lý tưởng 6.0 – 6.5, đồng thời phá vỡ kết cấu đất sét kết khối để tạo độ tơi xốp, giữ ẩm và thông khí.
Và để làm được điều đó mà không có phân bón hóa học hiện đại, vũ khí tối thượng của nàng chính là: Vôi bột, tro trấu và đống ủ vi sinh tuần hoàn!
“Tam Thúc,” Nhược Lam ngẩng đầu lên, trong mắt lấp lánh sự tính toán rành mạch: “Gia đình mình và bà con quanh đây sau mùa gặt vụ trước có còn tích trữ tro bếp và rơm rạ mục không ạ? Với lại, quanh thôn ta có lò nung vôi nào không?”
Khương Vĩnh Cửu chớp mắt ngạc nhiên: “Tro bếp thì nhà nào cũng có cả đống sau chuồng lợn, toàn là tro trấu với tro rơm rạ đun bếp quanh năm, chất đống ở đấy chẳng ai thèm lấy. Còn rơm mục thì chuồng trâu nhà thúc có đến mấy đống to tướng. Riêng vôi bột… ở chân núi Lạc Nhạn phía tây có một lò vôi cũ của thợ xây bỏ hoang, dưới đáy lò còn sót lại hàng chục bao vôi cặn bị vỡ vụn, người ta chê vụn nát không xây tường được nên vứt xó ở đó. Cháu… cháu hỏi những thứ phế phẩm đó để làm gì?”
“Đó không phải phế phẩm đâu thúc, đó là vàng ròng để cứu mảnh đất này đấy!” Nhược Lam reo lên, nét mặt rạng rỡ như bắt được vàng.
Thế là, không lãng phí một khắc thời gian, kế hoạch cải tạo đất được Nhược Lam phát động ngay trong buổi chiều hôm ấy.
Khương Vĩnh Cửu mượn được một chiếc xe cút kít bằng gỗ hai bánh kẽo kẹt. Dưới sự chỉ dẫn hăng say của Nhược Lam, hai chú cháu kéo xe lên chân núi Lạc Nhạn. Quả nhiên, tại lò vôi bỏ hoang, những bao vôi bột phong hóa nằm phủ bụi dày cộp. Vôi đã hút ẩm trong không khí biến thành vôi tôi (Canxi Hydroxit – $Ca(OH)_2$), tuy không còn dùng để xây gạch được nhưng lại là thần dược hoàn hảo nhất để trung hòa axit trong đất nông nghiệp!
Hai chú cháu hì hục xúc được bốn bao vôi bột lớn chất lên xe cút kít đẩy về. Tiếp đó, Tam Thúc sang nhà hàng xóm xin thêm năm bao tải tro trấu đen kịt mang về chất đầy góc sân.
Chiều tà, ánh hoàng hôn buông xuống nhuộm đỏ cả vạt rừng Lạc Nhạn.
Trên mảnh đất hoang sau nhà, Khương Vĩnh Cửu vung chiếc cuốc chim khỏe khoắn xới tung từng tảng đất sét cứng ngắc lên. Nhược Lam tay cầm chiếc xẻng gỗ, hướng dẫn thúc cuốc sâu chừng một gang tay (khoảng 20cm) — tầng đất canh tác chủ yếu của rễ cây. Đất được lật ngược lên để phơi nắng, đón nhận oxy.
Ngay sau từng đường cuốc của Tam Thúc, Nhược Lam khoác chiếc thúng tre bên hông, thoăn thoắt vốc từng nắm vôi bột trắng muốt rải đều tăm tắp lên mặt luống.
Bột vôi trắng mịn bay là là trong gió thoảng, phủ lên lớp đất sét xám xịt một lớp áo mỏng như sương muối. Nhược Lam căn chỉnh tỷ lệ vô cùng chuẩn xác: cứ mỗi mẫu đất nàng rải khoảng năm mươi cân vôi. Vôi gặp độ ẩm tự nhiên trong đất sẽ lập tức xảy ra phản ứng trao đổi ion, các cation Canxi ($Ca^{2+}$) sẽ đẩy các ion nhôm ($Al^{3+}$) và hydro ($H^+$) độc hại ra khỏi phức hệ hấp thu của đất, cố định chất phèn và nâng độ pH lên một cách thần kỳ.
Rải vôi xong, nàng tiếp tục rải lớp tro trấu phủ lên trên.
Tro trấu chứa hàm lượng Kali và Silic hữu cơ cực kỳ dồi dào, lại có cấu trúc xốp rỗng. Khi trộn lẫn vào đất sét, những hạt tro trấu li ti sẽ len lỏi vào giữa các hạt sét mịn, tạo ra các khe hở thông khí, giúp đất không còn bị nén chặt, rễ cây sau này sẽ dễ dàng hô hấp và đâm sâu hút nước.
“Lam tỷ tỷ, muội có thể làm gì giúp tỷ?” Bé Bảo Nha lon ton chạy theo sau lưng nàng, đôi bàn tay nhỏ xíu lấm lem bùn đất, háo hức muốn chung tay góp sức.
Nhược Lam dừng tay xẻng, lau mồ hôi trên trán, nhìn cô bé mỉm cười dịu dàng: “Bảo Nha có nhiệm vụ quan trọng nhất đấy. Bây giờ tỷ muội mình sẽ đi làm một ‘ngôi nhà lớn’ cho những người bạn nhỏ giúp tỷ cày đất.”
“Bạn nhỏ nào ạ?” Bảo Nha chớp mắt tò mò.
“Chính là những chú trùn đất!” Nhược Lam cười bí hiểm.
Nàng dẫn Bảo Nha ra góc vườn râm mát dưới bóng cây dâu da cổ thụ, nơi đất có chút độ ẩm tự nhiên. Nhược Lam chỉ cho cô bé cách đào một hố nông hình chữ nhật dài chừng một trượng, sâu hai gang tay. Đây chính là vị trí nàng chọn để dựng đống ủ phân hữu cơ vi sinh tuần hoàn đầu tiên — trái tim dinh dưỡng cho toàn bộ nông trang tương lai!
Nhược Lam tỉ mỉ hướng dẫn Tam Thẩm và Bảo Nha cách xếp từng lớp nguyên liệu theo đúng công thức khoa học:
Lớp đáy đầu tiên, nàng rải một lớp cành củi khô băm nhỏ và rơm rạ thô dày chừng nửa gang tay để tạo độ thông thoáng khí từ đáy lên.
Lớp thứ hai, nàng rải một lớp rơm rạ mục đã được ngâm nước ẩm phối trộn với bã lá rừng mục nát — đây là nguồn cung cấp Carbon (C) chủ yếu để làm thức ăn cho vi sinh vật.
Lớp thứ ba, Tam Thúc gánh lại hai sọt phân chuồng khô từ chuồng trâu sang, Nhược Lam rải đều một lớp mỏng — đây là nguồn đạm (Nitơ – N) tuyệt vời để cân bằng tỷ lệ C/N lý tưởng cho quá trình lên men hoai mục.
Và bí quyết quyết định nhất, linh hồn của đống ủ: Nhược Lam dùng chiếc gùi nhỏ mang ra một lớp đất mùn đen nhánh mà nàng đã bí mật cạo từ lớp thảm mục dưới những gốc cây cổ thụ ngàn năm sâu trong rừng Lạc Nhạn từ chuyến đi sáng nay.
Lớp đất mùn rừng này chứa đựng hàng tỷ vi sinh vật bản địa tự nhiên cực kỳ khỏe mạnh: xạ khuẩn phân giải cellulose, nấm men và vi khuẩn cố định đạm tự do!
Nàng rải đều lớp mùn rừng lên trên phân chuồng, rồi dùng nước suối trong vắt tưới đều lên đống ủ. Nàng bốc một nắm hỗn hợp lên tay, nắm chặt lại rồi mở ra: nắm đất kết dính lại nhưng không có nước rỉ qua kẽ ngón tay.
“Độ ẩm chừng sáu mươi phần trăm, hoàn hảo!” Nhược Lam mỉm cười hài lòng.
Cứ thế, từng lớp Carbon, Nitơ và men vi sinh được xếp chồng lên nhau thành từng tầng lớp lang như một chiếc bánh ga-tô khổng lồ, cao chừng ba thước. Cuối cùng, nàng dùng rơm rạ khô phủ kín toàn bộ bề mặt đống ủ, rồi dùng những tàu lá chuối rừng to bản che chắn bên trên để giữ nhiệt và tránh mưa rửa trôi.
“Lam nhi à, ủ phân thế này… liệu có bốc mùi hôi thối làm phiền xóm giềng không cháu?” Tam Thẩm nhìn đống ủ kỳ lạ, ái ngại hỏi.
Nhược Lam lắc đầu, kiên nhẫn giải thích bằng thứ ngôn ngữ giản dị nhất:
“Tam Thẩm yên tâm ạ. Đây là phương pháp ủ nóng hảo khí. Nhờ có lớp mùn rừng và độ thông thoáng, các vi sinh vật tốt sẽ ăn sạch các chất hữu cơ và sinh nhiệt rất nhanh. Chỉ ngày mai thôi, bên trong đống ủ này sẽ nóng ran lên như một lò than con, nhiệt độ có thể lên tới sáu mươi độ, thiêu chết toàn bộ hạt cỏ dại và mầm bệnh nguy hiểm. Sau mười lăm ngày, khi nó hoai mục hoàn toàn, nó sẽ không có mùi hôi mà bốc lên mùi thơm ngai ngái của đất rừng màu mỡ. Lúc đó đem bón lót cho cây, rễ cây ăn vào sẽ lớn nhanh như thổi!”
Khương Vĩnh Cửu đứng tựa vào cán cuốc, nhìn đống ủ được xếp ngăn nắp, vuông vức, lại nhìn mặt đất vừa được rải vôi và tro trấu đều như một bức tranh, trong lòng dâng lên một sự kính phục vô bờ bến.
Đứa cháu gái này của ông, từ nhỏ lớn lên trong nhung lụa kinh thành, vậy mà sao lại am hiểu luân chuyển của đất trời, cây cỏ tường tận đến mức ngay cả những lão nông tri điền sống cả đời bên luống cày cũng phải ngả mũ bái phục thế này? Có lẽ nào… linh hồn của người mẹ quá cố dưới suối vàng đang hiển linh, dẫn dắt cho con bé vượt qua cơn bĩ cực?
Trong lúc Tam Thúc đang cảm thán, Bảo Nha bỗng reo lên khe khẽ: “Tỷ tỷ! Tỷ tỷ nhìn này! Dưới lớp lá mục có mấy con giun đất to bằng chiếc đũa, thân mình đỏ au đang ngoe nguẩy nè!”
Nhược Lam bước lại gần, ngồi xổm xuống xem. Quả nhiên, đó là loài trùn quế tự nhiên bản địa, thân đỏ hồng, bò rất nhanh nhẹn.
Nàng cẩn thận bốc chú trùn đất đặt vào lòng bàn tay nhỏ của Bảo Nha, mỉm cười dặn dò:
“Bảo Nha gom những bạn trùn này lại, thả vào cạnh mép đống ủ và những luống đất ẩm nhé. Đừng sợ, chúng không cắn đâu. Ban ngày chúng sẽ chui sâu xuống lòng đất ăn đất sét và chất mục, ban đêm lại đùn phân lên làm xốp mặt đất. Những đường hầm li ti do chúng đào chính là những ống dẫn nước và không khí tuyệt vời nhất cho rễ ngô thở đấy. Chúng chính là những người thợ cày tí hon của chúng ta!”
Bảo Nha thích thú nhìn chú trùn ngọ nguậy trong lòng bàn tay, nỗi sợ hãi ban đầu biến mất, cô bé cười khúc khích: “Thợ cày tí hon… muội hiểu rồi! Muội sẽ đi tìm thật nhiều thợ cày về giúp tỷ tỷ làm ruộng!”
Tiếng cười trong trẻo của đứa trẻ vang vọng khắp khoảnh vườn chiều, hòa cùng tiếng gió xào xạc của rừng núi Lạc Nhạn, tạo nên một bản hòa ca điền viên êm ả, xua tan đi tất cả những nhọc nhằn, mệt mỏi của một ngày lao động cật lực.
*
Màn đêm buông xuống, bóng tối dần nuốt trọn thôn Lạc Diệp.
Sau khi cả nhà Tam Thúc lưu luyến trở về gian nhà nhỏ phía đầu thôn để nghỉ ngơi, căn nhà tranh quạnh quẽ chỉ còn lại một mình Nhược Lam. Nàng cài then cửa cẩn thận, thắp sáng ngọn đèn dầu lạc leo lét đặt trên mặt chõng tre. Ánh sáng vàng vọt nhảy múa trên vách nứa, xua đi cái lạnh lẽo của đêm rừng.
Nhược Lam không vội đi ngủ. Nàng cẩn thận lấy chiếc gùi thảo dược giấu dưới gầm giường ra.
Từ đáy gùi, nàng nâng niu lấy ra ba bắp ngô dại mà nàng đã kỳ công tìm thấy nơi vách đá cheo leo trong hẻm núi sâu sáng nay.
Những bắp ngô này tuy hạt không to bằng giống ngô lai hiện đại ở thế kỷ 21, nhưng qua con mắt tinh tường của một chuyên gia chọn giống sinh học, nàng nhận ra đây là giống ngô ngọt tự nhiên vô cùng quý hiếm mang nguồn gen thuần chủng tuyệt hảo: áo bắp ôm rất khít chống sâu mọt, lõi ngô nhỏ, hàng hạt thẳng tắp và đặc biệt là sắc vàng óng ả căng mọng, hàm lượng đường tự nhiên rất cao.
Nàng dùng đầu ngón tay khéo léo tách từng hạt ngô ra khỏi cùi. Từng tiếng “tách, tách” khô giòn vang lên êm tai.
Nàng tỉ mỉ chọn lọc: những hạt lép, hạt vỡ hay có vết thâm lập tức bị loại bỏ. Cuối cùng, trên chiếc mẹt tre nhỏ đọng lại khoảng năm trăm hạt ngô tròn trịa, mẩy bóng như những hạt ngọc hoàng kim nguyên chất.
Nhược Lam đi lại bên bếp lò, pha một bát nước ấm theo tỷ lệ “hai sôi ba lạnh” chuẩn xác — khoảng năm mươi tư độ C.
Nàng trút toàn bộ số hạt giống vào bát nước ấm. Nhiệt độ này vừa đủ để kích hoạt các enzyme chuyển hóa tinh bột bên trong phôi hạt thức giấc sau chuỗi ngày ngủ đông, đồng thời tiêu diệt toàn bộ bào tử nấm mốc ẩn náu trên vỏ hạt mà không làm tổn thương mầm sống.
Nàng dùng một mảnh vải xô sạch thấm ướt nước suối, nhẹ nhàng vớt những hạt ngô đã ngậm đủ nước ra, bọc kín lại thành một chiếc túi nhỏ rồi đặt vào chiếc thúng tre lót rơm ấm cạnh bếp than hồng còn âm ỉ.
“Ngủ ngoan nhé những mầm xanh nhỏ bé,” Nhược Lam khẽ thì thầm, ánh mắt tràn ngập sự dịu dàng và kỳ vọng khôn nguôi: “Chỉ cần hai ngày nữa thôi, các ngươi sẽ nứt nanh đâm chồi. Mảnh đất này, số phận này… tất cả tương lai đều trông cậy vào các ngươi đấy.”
Làm xong tất cả mọi việc, cả người Nhược Lam mỏi nhừ sau một ngày dài dốc cạn sức lực. Nàng thổi tắt ngọn đèn dầu, ngả lưng xuống chiếc chõng tre đã được lót một lớp rơm khô thơm mùi nắng do Tam Thẩm mang sang lúc chiều.
Tiếng côn trùng rả rích bên ngoài vách đất hòa cùng tiếng lá xào xạc ngoài rừng như một khúc hát ru bình yên. Nhược Lam nhắm mắt lại, hơi thở dần trở nên đều đặn, chìm vào giấc ngủ sâu.
*
Canh ba đêm muộn.
Gió núi Lạc Nhạn bỗng thổi mạnh từng cơn, rít qua các khe nứa nghe u u rợn người. Ánh trăng mờ ảo bị mây đen che khuất phân nửa, phủ lên khoảng sân hoang tàn một màu xám xịt ma quái.
Cả thôn Lạc Diệp đã chìm sâu vào giấc ngủ say sau một ngày làm đồng mệt nhọc, tiếng chó sủa vu vơ từ đằng xa cũng tắt lịm.
Đột nhiên, tại bờ giậu phía sau căn nhà tranh của Nhược Lam, những cành nứa khô khẽ phát ra tiếng gãy vụn “rắc, rắc” rất nhỏ.
Một bóng đen to bè, núc ních thịt đang thở phì phò khó nhọc trèo qua hàng rào râm bụt. Cái bóng lùn tịt ấy lén lút nép mình vào bóng tối của đống ủ rơm mới đắp, hai con mắt ti hí đảo quanh dáo dác, ánh lên vẻ hung quang tàn độc và thù hận khôn cùng.
Gã ghé sát vào vách nứa, dỏng tai nghe ngóng. Khi nghe thấy tiếng thở đều đặn, yên ả của Nhược Lam bên trong gian nhà, khóe miệng đầy ngấn mỡ của gã khẽ nhếch lên một nụ cười ghê tởm, vặn vẹo.
Hắn từ từ hạ chiếc bao tải gai thô trên lưng xuống đất, bàn tay run rẩy rút từ trong ngực áo ra một chiếc bùi nhùi tẩm dầu trẩu nồng nặc và một thanh đá lửa.
Ánh thép lạnh lẽo lóe lên trong đêm đen tĩnh mịch. Chu Trực nghiến chặt hai hàm răng ố vàng, thầm rít qua kẽ răng:
“Con ranh con… Dám làm nhục tao trước mặt cả làng, dám cướp mối làm ăn hai mươi lượng bạc của tao… Đêm nay tao thiêu rụi cái ổ rơm rác này của mày! Để xem mày cháy thành than rồi, thì cái thân xác này còn cãi luật pháp với ông đây được nữa không!”
Gã giơ thanh đá lửa lên, chuẩn bị quẹt mạnh vào mớ bùi nhùi đang bốc mùi dầu hôi nồng nặc…
Gió đêm từ rặng núi Lạc Nhạn thốc qua từng kẽ nứa rít lên từng hồi u u lạnh lẽo. Dưới bóng tối nhập nhoạng của đống ủ rơm mới đắp ngoài bờ giậu, Chu Trực đang run rẩy giơ cao thanh đá lửa, đôi mắt ti hí vằn lên những tia máu hung tợn. Mùi dầu trẩu nồng nặc bốc lên từ chiếc bùi nhùi bện bằng xơ mướp thô kệch trong tay gã, tanh nồng và ngột ngạt đến phát buồn nôn.
Thế nhưng, ngay khoảnh khắc gã chuẩn bị quẹt mạnh thanh sắt vào đá để đánh lửa, từ bụi rậm sau lưng bỗng vang lên tiếng sột soạt gấp gáp. Hai bóng người lùn tịt, lưng gù gù như lũ chồn hôi bỗng nhào tới, một bàn tay thô ráp đầy cáu ghét vội vã chộp lấy cổ tay Chu Trực, đè nghiến thanh đá lửa xuống.
“Cữu gia! Khoan đã, chớ có manh động!”
Chu Trực giật bắn mình, suýt nữa cắn phải đầu lưỡi. Gã trừng mắt nhìn kẻ vừa giữ tay mình, nhận ra đó là Chu Đại Hổ và Chu Nhị Cẩu — hai gã cháu họ chuyên nghề cờ bạc, trộm gà bắt chó có tiếng trong thôn Lạc Diệp mà chiều nay gã vừa hứa hẹn chia chác năm trăm đồng tiền đồng nếu chịu đi theo gã “dạy dỗ con ranh Khương thị”.
“Chúng mày làm cái trò quỷ gì thế hả?” Chu Trực hạ giọng gắt gỏng qua kẽ răng, bọt mép sùi ra hai bên khóe miệng: “Không thấy tao sắp phóng hỏa thiêu rụi cái ổ rơm rác này sao? Đốt cho nó thành tro tàn, để xem con ranh con ấy còn mở mồm xách luật pháp ra dọa ai!”
Chu Đại Hổ ghé sát tai Chu Trực, l**m mép một cái, đôi mắt ti hí đảo quanh ngôi nhà tranh vẻ thèm thuồng:
“Cữu gia ơi là cữu gia, ngài hồ đồ quá rồi! Chiều nay cả làng ngửi thấy mùi sườn lợn rừng hầm măng thơm nức mũi từ cái bếp này bay ra, ai mà không biết con ranh đó mới vớ được của ngon vật lạ? Ngài nghĩ mà xem, nó dẫu sao cũng từng là đích nữ Thượng thư phủ ở kinh kỳ hoa lệ, dù bị đuổi đi thì trong đãy nải tay nải thế nào chẳng giấu giếm vài lượng bạc vụn hay vòng ngọc trâm cài? Ngài một mồi lửa đốt sạch, chẳng phải là đem tiền bạc ném vào hố phân hay sao?”
Chu Nhị Cẩu đứng bên cạnh cũng gật đầu lia lịa như gà mổ thóc, phụ họa thêm:
“Đúng đấy cữu gia! Đốt nhà thì cùng lắm hả giận một lúc, nhưng mất toi hai mươi lượng bạc sính lễ của Tiền lão gia! Hay là thế này, ba người chúng ta cậy then cửa xông vào. Con ranh đó trói gà không chặt, một mình thân cô thế cô giữa đêm hôm khuya khoắt. Chúng ta bịt miệng trói nghiến nó lại, lục soát sạch sành sanh của cải, gạo thịt mang về. Sau đó… hắc hắc, ngài lấy sẵn tờ hôn thư bán thân mang theo, ép nó lăn tay điểm chỉ đỏ chót! Nếu nó dám kháng cự, chúng cháu lột phăng yếm áo nó ra làm nhục một phen. Gạo nấu thành cơm rồi, sáng mai dẫu nó có chạy đến nha môn huyện thành gõ trống kêu oan thì cũng chỉ là thứ đàn bà mất nết thất tiết, không ngoan ngoãn gả cho Tiền què thì chỉ có nước cạo đầu bôi vôi thả trôi sông!”
Nghe hai tên đồng bọn vẽ ra viễn cảnh vừa có bạc đút túi, vừa lấy lại được sính lễ hai mươi lượng, lại vừa chà đạp được sự kiêu hãnh của đứa cháu gái ngỗ ngược, lồng ngực Chu Trực đập thình thịch vì kích động. Gã hít sâu một hơi, mùi dầu trẩu bỗng chốc nhường chỗ cho lòng tham vô đáy và tà niệm dơ bẩn đang cuồn cuộn dâng trào trong huyết quản.
“Khá lắm! Hai thằng ranh chúng mày đứa nào cũng có cái đầu chứa đầy mưu mẹo thối tha!” Chu Trực cười khẩy một tiếng đầy nham hiểm, vội vàng nhét bùi nhùi và đá lửa vào bọc áo: “Mau, rút lưỡi liềm cạy then cửa! Động tác phải nhanh gọn, tuyệt đối không được để kinh động đến cái nhà họ Khương đầu thôn!”
Dứt lời, ba bóng đen lom khom men theo bờ tường đất, rón rén bước lên bậc thềm hiên nhà.
Bên trong gian nhà tranh tĩnh mịch, ngọn đèn dầu lạc đã tắt từ lâu, chỉ còn lại ánh sáng bàng bạc của vầng trăng khuyết hắt qua khe nứa nứt nẻ.
Nhược Lam vốn là một nhà khoa học với thói quen làm việc độc lập nơi phòng thí nghiệm và những cánh đồng thực nghiệm hoang vắng, thần kinh nàng cực kỳ nhạy bén với từng biến động nhỏ của không gian xung quanh. Thêm vào đó, từ lúc chập tối nàng đã linh cảm Chu Trực là loại tiểu nhân bỉ ổi cùng đường mạt lộ, tất sẽ không chịu nuốt trôi cục tức này một cách êm thấm. Bởi vậy, dù thân thể mỏi nhừ sau một ngày dài cải tạo đất phèn, nàng vẫn ngủ rất nông, hai tai luôn dỏng lên lắng nghe từng tiếng động ngoài bờ giậu.
Khi tiếng “rắc, rắc” của cành nứa khô gãy vụn vừa vang lên lúc nãy, Nhược Lam đã lập tức mở bừng mắt. Nàng không hề hoảng loạn thét lên, cũng không vội vã bật dậy làm kinh động kẻ ngoài sân. Đôi mắt hạnh trong veo của nàng lóe lên tia sáng lạnh lẽo, tĩnh lặng như mặt hồ không một gợn sóng.
Nàng khẽ lật người, bàn tay mảnh khảnh nhẹ nhàng luồn xuống gầm chõng tre, nắm chặt lấy chuôi của con dao rèn thô dùng để vót tre và gọt vỏ măng giang ban ngày. Lưỡi dao bằng sắt đen sì tuy mộc mạc nhưng được Tam Thúc mài trên đá bùn sắc lẹm, phản chiếu một vệt sáng lạnh tanh.
Bên ngoài cửa chính, tiếng kim loại cọ xát vào thanh then cài bằng tre vang lên rin rít: “Cọt kẹt… kẽo kẹt…”
Lưỡi liềm sắc bén của Chu Đại Hổ đang từ từ luồn qua khe cửa hẹp, nhắm thẳng vào chốt then tre cài ngang mà nâng lên. Gió núi rít qua khe liếp như tiếng cười the thé của quỷ đói, không khí ngột ngạt và căng thẳng đến mức dường như chỉ cần một tia lửa nhỏ cũng đủ làm nổ tung toàn bộ gian nhà.
Nhược Lam hít một hơi thật sâu, nén chặt lồng ngực, hạ thấp trọng tâm nép mình vào góc tối phía sau cánh cửa, con dao sắt giấu sau vạt áo thô. Nàng tự nhủ trong lòng: Nếu đám súc sinh này dám bước qua ngưỡng cửa, nhát dao đầu tiên nàng sẽ chém thẳng vào mắt kẻ dẫn đầu, sau đó lập tức châm lửa thiêu rụi đống bùi nhùi để báo động cho cả thôn Lạc Diệp! Trong từ điển của tiến sĩ Khương Nhược Lam, thà ngọc nát chứ quyết không để ngói lành, đừng hòng có kẻ nào bắt chẹt được nàng!
“Cạch!”
Tiếng then tre bật khỏi chốt gỗ vang lên giòn giã trong đêm tối tĩnh mịch.
Cánh cửa nứa ọp ẹp từ từ hé mở ra một khoảng trống bằng nửa thân người. Chu Trực không nén nổi sự đắc ý, gương mặt béo phì đầy ngấn mỡ vặn vẹo trong bóng tối, gã thò đầu vào trước tiên, miệng há hốc để lộ hai hàm răng ố vàng khè, rít lên từng tiếng the thé đục ngầu:
“Con ranh con, mày có chạy đằng trời…”
Lời còn chưa dứt, nụ cười dâm dật gớm ghiếc trên môi Chu Trực bỗng chốc đông cứng lại.
Từ khoảng không mịt mùng của cánh rừng nguyên sinh Lạc Nhạn cách bờ giậu hơn năm mươi trượng, một tiếng xé gió sắc nhọn đến rợn người bỗng rít lên cuồng bạo:
“Vút ——— !”
Âm thanh ấy không giống như tiếng gió thổi thông thường, mà tựa như tiếng gầm của một con ưng sắt lao bổ từ tầng mây chín tầng xuống con mồi. Kình phong sắc lẹm mang theo sát khí đặc quánh như thực thể, xé toạc màn sương đêm dày đặc, vẽ nên một vệt tàn ảnh tử thần trong hư không!
“PHẬP!”
Một tiếng nổ trầm đục vang lên ngay sát vành tai Chu Trực.
Chiếc trâm gỗ mục trên đầu gã vỡ vụn thành trăm ngàn mảnh vụn. Búi tóc củ hành nhờn nhụa mỡ lập tức bị phạt đứt phăng, tóc tai xõa tung tóe như một cái tổ quạ tơi tả. Mũi tên bằng thép tinh luyện đen ngòm, dài hơn ba thước, găm ngập sâu tới nửa thân tên vào chiếc cột gỗ lim của ngôi nhà tranh!
Lực đạo kinh hồn bạt vía của mũi tên khiến toàn bộ khung nhà tranh rung chuyển dữ dội, bụi rơm rơi lả tả xuống đầu cổ đám người. Thân cột gỗ lim cứng như đá nứt toác ra một đường rãnh dài, đuôi tên gắn lông chim ưng đen tuyền vẫn còn rung lên bần bật, phát ra những tiếng “ong… ong… ong…” vang vọng như tiếng chuông báo tử gõ thẳng vào linh hồn kẻ phạm tội.
Gió lạnh từ mũi tên lướt qua mang theo hàn khí lạnh buốt, rạch một đường máu mảnh như sợi chỉ ngay trên d** tai Chu Trực, máu tươi bắt đầu rỉ ra, ấm nóng và nhớp nháp.
Chu Trực trợn trừng hai mắt, tròng mắt như muốn lồi hẳn ra ngoài hốc mắt. Toàn thân gã cứng đờ như một khúc gỗ mục, hai hàm răng va vào nhau lập cập “cắc cắc cắc”, hạ bộ bỗng nhiên ươn ướt, một luồng nước khai nồng chảy dọc theo ống quần thô xuống đất.
Gã còn chưa kịp định thần xem chuyện quái quỷ gì vừa xảy ra thì mũi tên thứ hai đã lập tức ập tới xé rách màn đêm:
“Vút — PHẬP!”
Lần này, mũi tên mang theo uy lực sấm sét cắm phập thẳng xuống mặt đất, xuyên thủng lớp đế giày rách rưới của Chu Đại Hổ, găm sâu vào kẽ đá ong lát trước thềm hiên, chỉ cách ngón chân cái của gã đúng nửa phân!
“A a a a!” Chu Đại Hổ thét lên một tiếng thảm thiết như heo bị chọc tiết, ngã ngửa ra sau, hai chân đạp loạn xạ trên nền đất bụi bặm.
Từ trên ngọn cây sồi cổ thụ sừng sững nơi bìa rừng tăm tối, một giọng nói trầm thấp, lạnh lẽo như băng tuyết ngàn năm từ địa ngục vọng lại, từng câu từng chữ đều nện thẳng vào màng nhĩ đám người, mang theo uy áp nghiền nát tâm can của một bậc chiến thần từng chỉ huy vạn quân nơi sa trường:
“Bước thêm nửa bước, mũi tên thứ ba sẽ xuyên thủng yết hầu.”
Giọng nói ấy không lớn, nhưng nội lực thâm hậu ẩn chứa bên trong khiến không khí xung quanh như ngưng đọng lại thành băng giá. Đó tuyệt đối không phải là lời đe dọa suông của một kẻ nông phu tầm thường, mà là bản án tử hình đã được giương cung sẵn sàng đoạt mạng!
“Quỷ… Quỷ thần ơi! Thần tiễn… Thần tiễn đòi mạng rồi!”
Chu Nhị Cẩu là kẻ nhát gan nhất, vừa nghe thấy giọng nói ấy liền hồn xiêu phách lạc, hai đầu gối nhũn ra như bún, ngã lăn quay từ trên bậc thềm xuống đất rồi quáng quàng bò bằng cả tứ chi về phía bờ giậu.
Chu Trực lúc này mới hồi phục lại tri giác từ cơn chấn động kinh hoàng. Gã sờ lên d** tai đầy máu tươi, lại nhìn mũi tên thép đen ngòm vẫn đang run rẩy trên cột nhà chỉ cách đầu gã đúng một tấc gang, nỗi sợ hãi tột cùng bóp nghẹt lấy cuống họng khiến gã không sao thở nổi. Gã hiểu rõ mười mươi, người bắn tên kia nếu muốn lấy mạng gã thì mũi tên đầu tiên đã không bắn vào búi tóc mà đã cắm thẳng g*** h** ch*n mày gã rồi!
“Chạy… Mau chạy đi chúng mày ơi!”
Chu Trực hét lên một tiếng thất thanh the thé, chẳng còn mảy may nhớ đến bạc vụn hay khế ước bán thân gì nữa, gã vứt phăng chiếc bao tải thô và bọc bùi nhùi dầu trẩu xuống đất, ôm lấy cái đầu xõa tóc bê bết máu, cắm đầu cắm cổ tháo chạy trối chết ra phía cổng làng. Ba cái bóng đen hớt hải giẫm đạp lên nhau, vừa chạy vừa vấp ngã dúi dụi vào bụi gai tầm xuân ven đường, tiếng la khóc van xin ma quỷ tha mạng hòa lẫn vào tiếng chó sủa ran khắp các ngõ ngách thôn Lạc Diệp xa xa rồi dần dần tắt lịm.
Không gian xung quanh ngôi nhà tranh bỗng chốc chìm vào một cõi tĩnh lặng như tờ, chỉ còn lại tiếng gió núi vi vu thổi qua rặng tre già.
Bên trong cánh cửa nứa, Khương Nhược Lam chậm rãi hạ con dao sắt trong tay xuống. Nàng thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực khẽ phập phồng sau phen căng thẳng thót tim. Nhưng thay vì run rẩy sợ hãi như những thiếu nữ khuê các thông thường, đôi mắt hạnh của nàng lại ánh lên sự kinh ngạc tột độ pha lẫn thán phục.
Bắn rơi búi tóc của một kẻ đang chuyển động trong đêm tối mịt mùng, từ khoảng cách hơn năm mươi trượng xuyên qua rặng cây rậm rạp mà lực đạo vẫn đủ sức cắm ngập nửa thân tên vào cột gỗ lim… Đây là tài nghệ bắn cung nghịch thiên đến mức nào chứ? Dẫu là những tay súng thiện xạ hàng đầu thế giới ở thời hiện đại của nàng, khi cầm súng ngắm giảm thanh chưa chắc đã đạt được độ chuẩn xác và khả năng khống chế lực đạo hoàn mỹ đến bực này!
Nhược Lam đẩy cánh cửa nứa bước hẳn ra ngoài hiên. Nàng không vội vàng nhìn theo hướng đám Chu Trực trốn chạy, mà bước thẳng tới bên chiếc cột gỗ lim sừng sững trước hiên nhà.
Ánh trăng bàng bạc chiếu rọi lên thân tên. Thân tên được chuốt vô cùng tỉ mỉ từ gỗ mun đen bóng, thẳng tắp không một tì vết gợn tay, đầu bịt thép tôi lạnh ngắt tỏa ra sát khí bức người. Đặc biệt, nơi đuôi tên, chiếc lông vũ màu đen tuyền được gắn chặt bằng chỉ gân hươu, trên phiến lông vũ có ba vệt đốm trắng tự nhiên xếp thành hình tam giác — đây chính là lông của loài đại bàng đen dũng mãnh chỉ làm tổ trên đỉnh núi tuyết xa xôi.
Ký ức sáng nay nơi hẻm núi lập tức ùa về trong tâm trí Nhược Lam: người đàn ông cao lớn sừng sững như pho tượng đồng, tấm lưng rộng như núi Thái Sơn, sau lưng đeo chiếc bao tên bằng da thú thô ráp… Trên đỉnh những mũi tên giắt trong bao của gã thợ săn mặt lạnh Tiêu Lập, rõ ràng cắm toàn bộ loại lông ưng đen tuyền này!
Nhược Lam ngẩng đầu, đưa mắt hướng về phía rặng sồi cổ thụ nơi bìa rừng Lạc Nhạn.
Bóng đêm thăm thẳm bao trùm lên vạn vật, cành lá xào xạc trong gió buốt, nơi ấy đã chẳng còn một bóng người. Kẻ ra tay cứu nàng đã lặng lẽ rời đi tựa như một bóng ma trong truyền thuyết, không để lại bất kỳ một dấu vết nào, cũng chẳng cần nàng phải cất lời cảm tạ hay đền đáp ơn nghĩa.
Một nụ cười khẽ khàng bất giác nở trên khóe môi thanh tú của Nhược Lam. Trái tim nàng dâng lên một luồng hơi ấm kỳ lạ, xua tan hoàn toàn cái lạnh lẽo của sương đêm vùng cao.
“Gã thợ săn mặt liệt này… miệng thì cộc lốc lạnh lùng, thế mà lại thức trắng đêm trông chừng bên bìa rừng sao?” Nàng lẩm bẩm một mình, ánh mắt tràn ngập vẻ ấm áp và hài hước: “Lại còn chơi trò anh hùng cứu mỹ nhân trong bóng tối nữa chứ. Tiện tay đổi thịt, tiện tay bắn tên… Xem ra món nợ ân tình này càng lúc càng khó tính toán rành mạch rồi đây.”
Nàng bước tới, hai tay nắm lấy thân tên thép trên cột gỗ, dùng hết sức bình sinh lay mạnh. Phải mất một hồi lâu, dùng cả sức vặn xoay khớp tay, nàng mới nhổ được mũi tên ra khỏi cột gỗ lim cứng chắc. Nàng nhặt nốt mũi tên cắm dưới nền đá ong lên, cẩn thận lau sạch bụi đất dính trên đầu tên rồi ôm vào lòng, bước vào nhà, gài lại then cửa bằng một thanh gỗ mới chắc chắn hơn.
Trước khi đi ngủ lại, Nhược Lam không quên đi tới góc bếp, khẽ mở chiếc khăn xô phủ trên thúng tre ủ hạt giống ngô.
Dưới hơi ấm dịu dàng của tro than ủ âm ỉ cả đêm, năm trăm hạt ngô ngọt hoàng kim đã ngậm đủ nước, lớp vỏ lụa căng bóng nứt ra một khe nhỏ xíu, để lộ ra những mầm non trắng ngà như hạt gạo nếp, mập mạp và tràn trề sức sống mãnh liệt.
“Tốt lắm,” Nhược Lam khẽ mỉm cười, vỗ nhẹ lên thành thúng tre: “Đêm nay có người bảo vệ cho các ngươi bình an vô sự rồi. Mau mau lớn lên, ngày mai chúng ta sẽ cùng nhau lật tung quả đồi sỏi đá kia lên!”
*
Sáng sớm hôm sau.
Khi những tia nắng đầu tiên của ngày mới xuyên qua màn sương mù mỏng manh buông lơi trên sườn núi Lạc Nhạn, tiếng chim sơn ca líu lo đánh thức cả thôn làng thức giấc. Không khí buổi sớm trong lành ngập tràn mùi hương ngai ngái của đất ẩm và hương cỏ dại thơm mát sau cơn mưa nhỏ lúc rạng đông.
Nhược Lam búi gọn mái tóc đen mượt thành một búi củ tỏi cao trên đỉnh đầu, dùng một dải vải thô cố định lại, mặc bộ áo vải chàm giản dị bó sát cổ tay để tiện lao động. Nàng vừa bước ra sân múc nước suối từ vại sành để rửa mặt thì từ con đường mòn nhỏ dẫn ra bìa rừng bỗng vang lên tiếng bước chân nặng nề, vững chãi nện trên sỏi đá: “Thình thịch… thình thịch…”
Nàng ngẩng đầu nhìn lên, không khỏi ngẩn ngơ trong thoáng chốc.
Dưới ánh nắng mai vàng óng như rót mật, Tiêu Lập đang sải những bước chân dài bước tới. Thân hình chàng cao lớn vạm vỡ như một bức tường thành kiên cố, bờ vai rộng thùng thình gánh trên lưng ba súc gỗ thông đỏ to bằng bắp đùi người lớn, thớ gỗ đỏ au, rịn ra mùi nhựa thơm nồng xua đuổi muỗi mọt. Một tay chàng xách theo một bó cọc tre gai già đã được vót nhọn đầu cắm, tay kia cầm chiếc rìu sắt sáng loáng giắt bên hông chiếc đai da thú cũ kỹ.
Chàng chỉ mặc một chiếc áo ngắn cộc tay bằng vải thô màu nâu sẫm, để lộ hai cánh tay đồng hun cuồn cuộn những thớ cơ bắp săn chắc như thép nguội, gân xanh nổi rõ theo từng nhịp chuyển động. Mồ hôi sớm lấm tấm trên vầng trán cương nghị và sống mũi cao thẳng tắp, đường nét gương mặt góc cạnh dưới nắng sớm toát lên vẻ hoang dã, nam tính và đầy sức mạnh áp bức người nhìn.
“Rầm!”
Tiêu Lập bước vào khoảng sân nhỏ, vung tay ném phịch ba súc gỗ thông xuống đất, bụi đất bốc lên mù mịt.
Chàng đứng thẳng người, đưa bàn tay to lớn thô ráp quệt ngang mồ hôi trên trán, ánh mắt đại bàng sắc bén khẽ liếc qua chiếc cột gỗ lim trước hiên nhà — nơi có vết nứt toác và lỗ thủng do mũi tên đêm qua để lại — rồi dời sang khuôn mặt tươi tắn, rạng rỡ của Nhược Lam.
Gương mặt chàng vẫn lạnh tanh không một biểu cảm, đôi môi mỏng khẽ mím lại, cất giọng trầm đục, khàn khàn như đá sỏi cọ vào nhau:
“Sáng nay lên núi đốn củi, tiện tay chặt thừa mấy khúc gỗ thông mục. Nhìn hàng rào nhà nàng rách nát ngứa mắt, gió thổi một cái là đổ, tiện đường vác sang sửa lại.”
Nhược Lam nghe xong, suýt chút nữa bật cười thành tiếng.
Tiện tay chặt thừa? Tiện đường vác sang?
Nàng là tiến sĩ nông lâm học, liếc mắt một cái liền nhận ra ngay: ba súc gỗ này là gỗ lõi thông đỏ ngàn năm trên vách đá hiểm trở của đỉnh Lạc Nhạn, loại gỗ này cứng như sắt, ngâm nước trăm năm không mục, chống mối mọt bậc nhất, ở phủ thành người ta phải bỏ ra mấy lượng bạc một súc mới mua nổi! Còn bó tre kia toàn là tre gai đực già trên mười năm tuổi, gai nhọn hoắt tua tủa, dùng làm hàng rào thì dẫu có là lợn rừng hay hổ báo cũng đừng hòng húc thủng!
Để chuẩn bị được đống gỗ tre này, e rằng người đàn ông này đã phải thức dậy từ lúc canh tư mò lên tận đỉnh núi hiểm trở, dốc cạn sức lực đốn hạ rồi vác xuống đây trước khi trời sáng rõ. Thế mà vào đến miệng chàng, tất cả chỉ gói gọn trong hai chữ “tiện tay”!
Nhược Lam nén cười, không hề vạch trần lời nói dối vụng về đến đáng yêu của chàng. Nàng khẽ nghiêng đầu, đôi mắt hạnh cong cong như vầng trăng non, giọng nói trong trẻo mang theo ý cười trêu chọc:
“Ồ? Ra là Tiêu đại ca tiện tay vác thừa sao? Thôn Lạc Diệp này rộng lớn như thế, bao nhiêu nhà hàng rào rách nát, sao Tiêu đại ca không tiện đường vác sang cho nhà người ta mà lại vác thẳng vào sân nhà ta thế này?”
Tiêu Lập khựng lại một nhịp. Vành tai chàng dưới lớp tóc mai đen nhánh bỗng chốc đỏ ửng lên một cách bất thường, nhưng khuôn mặt phong trần ngăm đen vẫn cố giữ vẻ lạnh lùng nghiêm nghị. Chàng lúng túng ho nhẹ một tiếng “khụ”, dời ánh mắt nhìn chằm chằm vào mái tranh dột nát trên nóc nhà, giọng điệu cứng đờ:
“Nói nhiều quá. Đứng tránh ra một bên, kẻo dằm gỗ đâm vào tay.”
Nói đoạn, chàng không thèm để ý đến nàng nữa, cởi phăng chiếc áo ngắn bên ngoài vứt lên bờ giậu, để lộ ra tấm lưng trần vạm vỡ, săn chắc chằng chịt những vết sẹo đao kiếm mờ nhạt — dấu ấn của những trận huyết chiến sinh tử nơi biên ải xa xôi.
Tiêu Lập cầm chiếc rìu sắt lên, động tác dứt khoát và chuẩn xác đến kinh ngạc. Chiếc rìu nặng trịch trong tay chàng nhẹ tựa lông hồng, chàng vung tay chém xuống, tiếng “chát, chát” giòn giã vang lên không ngớt. Từng khúc gỗ thông đỏ lập tức bị xẻ ra thành những thanh rào vuông vức, phẳng lì.Chàng đào rãnh quanh bờ giậu, cắm sâu những cọc tre gai xuống đất đá, dùng dây mây rừng dẻo dai bện chặt lại thành một bức tường rào kiên cố cao quá đầu người. Không dừng lại ở đó, chàng bước vào hiên nhà, tháo cánh cửa nứa ọp ẹp xuống, đo đạc kích thước rồi dùng gỗ thông đỏ đóng lại một cánh cửa gỗ dày dặn, vững chãi. Chàng còn tỉ mỉ đẽo một thanh then cài cửa bằng gỗ nghiến to bản, cài ngang vào hai mấu chốt sâu hoắm trên khung cửa:
“Thanh then này cài vào, bên ngoài dẫu có dùng búa tạ nện cũng không phá nổi.” Tiêu Lập vừa thử then cài vừa trầm giọng nói, trong lời nói ngầm nhắc nhở chuyện cậy cửa đêm qua.
Nhìn người đàn ông cao lớn mồ hôi nhễ nhại, làm việc thoăn thoắt không ngơi tay một khắc nào vì sự an toàn của mình, trái tim Nhược Lam mềm nhũn ra. Nàng xoay người bước vào gian bếp, nhóm lửa đun một ấm nước suối sôi sùng sục. Nàng thả vào ấm một nhúm lá bạc hà rừng và quả la hán phơi khô mà nàng hái được hôm qua, pha thành một ấm trà thảo dược thơm ngát, thanh nhiệt giải độc.
Nàng lại bưng ra một chiếc mẹt nhỏ, bên trên bày mấy củ khoai lang nướng thơm lừng bùi ngậy và một bát măng giang luộc chấm muối ớt rừng đỏ au.
“Tiêu đại ca, dừng tay nghỉ một lát đã, uống bát nước cho mát họng.” Nhược Lam bưng bát nước trà thơm lừng bước tới bên cạnh chàng, đưa chiếc khăn vải thô sạch sẽ cho chàng lau mồ hôi.
Tiêu Lập nhìn bát trà thảo mộc màu hổ phách bốc khói nghi ngút, lại nhìn nụ cười ấm áp như nắng sớm của nàng, ánh mắt sắc bén như chim ưng bỗng chốc dịu lại vài phần. Chàng nhận lấy bát nước, đầu ngón tay thô ráp chai sần vô tình chạm nhẹ vào những ngón tay mềm mại, trắng trẻo của Nhược Lam.
Một luồng điện tê rần bỗng chốc chạy dọc từ đầu ngón tay truyền thẳng vào tim chàng, khiến lồng ngực người đàn ông vốn quen với mưa bom bão đạn nơi chiến trường bỗng đập loạn xạ mất một nhịp. Tiêu Lập vội vàng thu tay lại, ngửa cổ uống một hơi cạn sạch bát nước trà.
Vị ngọt thanh mát của la hán hòa cùng hương thơm the the của bạc hà lập tức xua tan đi sự mỏi mệt trong lồng ngực. Tiêu Lập đặt chiếc bát sành xuống bàn, khẽ gật đầu:
“Nước… rất ngon.”
“Ngon thì uống thêm bát nữa,” Nhược Lam cười rạng rỡ, lại rót đầy một bát khác: “Ăn thêm củ khoai nướng lót dạ đi. Huynh giúp ta dựng hàng rào chắc chắn thế này, tối nay ta mới có thể kê cao gối mà ngủ một giấc thật ngon được.”
Tiêu Lập nhìn nàng, đôi mắt sâu thẳm như đáy vực khẽ lay động. Chàng ngập ngừng một thoáng, rồi thò tay vào bọc da thú bên hông, lấy ra một chiếc túi vải nhỏ đưa cho nàng.
“Cái gì thế này?” Nhược Lam tò mò mở ra.
Bên trong túi vải là một nắm hạt giống hình bầu dục, vỏ màu nâu sẫm, căng mẩy.
“Sáng nay lên vách đá đốn gỗ, thấy một bụi cây dại mọc cheo leo bên bờ vực, quả của nó chín đỏ mọng, chim rừng thi nhau rỉa ăn. Ta đoán nàng thích mấy thứ cây cỏ kỳ lạ này nên tiện tay hái hạt mang về.” Tiêu Lập giải thích, giọng điệu vẫn cố tỏ ra hờ hững.
Nhược Lam cầm những hạt giống lên mũi ngửi thử, lại dùng móng tay bấm nhẹ vào lớp vỏ lụa để xem phôi hạt bên trong. Đôi mắt nàng lập tức sáng rực lên như sao sa, không kiềm chế được mà reo lên đầy thích thú:
“Trời đất ơi! Đây là giống dâu tằm cao sản mọc dại trên núi cao! Lá của loại dâu này dày bản, hàm lượng protein cực kỳ cao, tằm ăn vào sẽ nhả ra loại tơ vàng óng thượng hạng! Tiêu đại ca, huynh quả thực là ngôi sao may mắn của ta đấy!”
Thấy nàng vui sướng nhảy cẫng lên như một đứa trẻ, khóe môi Tiêu Lập bất giác khẽ nhếch lên thành một nụ cười mờ nhạt — nụ cười hiếm hoi suốt bao năm tháng chém giết nơi chiến trường đẫm máu.
Đúng lúc ấy, từ ngoài con ngõ nhỏ vang lên tiếng bước chân dồn dập cùng tiếng gọi hớt hải của Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu:
“Nhược Lam! Nhược Lam ơi! Cháu có sao không? Đêm qua ta nghe nói thằng súc sinh Chu Trực…”
Tam Thúc cùng Tam Thẩm thở hổn hển chạy xộc vào sân, trên tay Tam Thúc còn lăm lăm chiếc đòn gánh tre định đi liều mạng. Nhưng khi vừa bước qua cánh cổng rào tre gai kiên cố, nhìn thấy một hàng rào gỗ thông đỏ sừng sững uy nghiêm, cánh cửa gỗ mới tinh chắc nịch, và đặc biệt là người đàn ông khổng lồ Tiêu Lập đang đứng sừng sững bên cạnh Nhược Lam, hai vợ chồng Tam Thúc sững sờ chết lặng tại chỗ, miệng há hốc không thốt nên lời.
“Tam Thúc, Tam Thẩm! Hai người đến rồi à?” Nhược Lam mỉm cười chạy ra đón: “Cháu không sao cả. Đêm qua có người tốt trừng trị lũ Chu Trực rồi. Sáng nay Tiêu đại ca lại tiện đường sang giúp cháu gia cố lại toàn bộ nhà cửa hàng rào, từ nay ruồi bọ cũng đừng hòng bay vào quấy phá!”
Tam Thúc nhìn Tiêu Lập, trong lòng vừa kính sợ vừa biết ơn khôn xiết. Ông vội vàng chắp tay, cúi đầu thật sâu:
“Tiêu tráng sĩ! Đa tạ ngài, đa tạ đại ân đại đức của ngài đã ra tay bảo hộ cho con bé Nhược Lam! Lão già này… thật không biết lấy gì đền đáp!”
Tiêu Lập vội lách người tránh khỏi cái cúi đầu của bậc trưởng bối, chàng khoác lại chiếc áo thô lên người, dắt rìu vào đai lưng, trầm giọng nói:
“Tam Thúc không cần đa lễ. Hàng xóm láng giềng giúp nhau là lẽ thường. Nhà cửa đã sửa xong, ta lên rừng săn thú đây.”
Nói dứt lời, chàng gật đầu chào Nhược Lam một cái rồi sải bước quay lưng đi thẳng ra bìa rừng, bóng lưng cao lớn dần khuất sau những rặng thông xanh ngắt.
Tam Thẩm nhìn theo bóng lưng Tiêu Lập, lại nhìn sang Nhược Lam, trong mắt ánh lên sự vui mừng và tán thưởng không giấu giếm:
“Chao ôi, Tiêu tráng sĩ này nhìn bề ngoài thì thô kệch lầm lì, thế mà bên trong lại chu đáo, tốt bụng đến thế! Nhược Lam à, người như vậy giữa cái thời buổi này khó tìm lắm đấy con nhé.”
Nhược Lam đỏ mặt, vội vàng đánh trống lảng:
“Tam Thẩm này, người đừng trêu cháu nữa! Mau vào nhà xem, hạt ngô ngọt cháu ủ đêm qua đã nứt nanh đâm chồi hết cả rồi kìa! Hôm nay chúng ta phải lên huyện nha một chuyến để hoàn tất thủ tục xin khế ước đất đai nữa đấy!”
Nhắc đến chuyện chính sự, sắc mặt Tam Thúc lập tức trở nên nghiêm túc:
“Phải, phải! Lý chính Trần lão trượng đã thắng xong chiếc xe bò ngoài đầu thôn rồi, đang đợi chúng ta cùng đi lên huyện thành Vân Khê đây. Hôm nay nhất định phải cầm được tờ khế ước đất có dấu đỏ của huyện nha về, để cho cả cái họ Chu kia hết đường dòm ngó!”
*
Nửa canh giờ sau, chiếc xe bò lọc cọc của Lý chính Trần lão trượng lăn bánh trên con đường đất gập ghềnh dẫn về hướng huyện thành Vân Khê.
Gió sớm thổi lồng lộng qua những cánh đồng lúa đang thì con gái hai bên đường. Tam Thúc ngồi cạnh Lý chính phía trước đánh xe, còn Nhược Lam ngồi phía sau thùng xe, tay ôm bọc giấy tờ hộ tịch và chiếc giỏ tre nhỏ đựng mẫu đất và hạt ngô ủ mầm.
Điều khiến Nhược Lam vừa ngạc nhiên vừa buồn cười là, cách chiếc xe bò không xa, Tiêu Lập với chiếc cung săn lớn trên lưng và một gùi da thú nặng trịch đang cưỡi một con ngựa bờm đen thong thả đi song song. Khi được hỏi, chàng chỉ buông một câu cụt lủn: “Tiện đường lên huyện thành bán da thú cho hiệu thuốc.”
Nhìn bóng dáng cao lớn của chàng thợ săn cưỡi ngựa đi bên cạnh bảo vệ như một hộ vệ trung thành tuyệt đối, trong lòng Nhược Lam tràn ngập cảm giác an tâm chưa từng có.
Huyện thành Vân Khê là trung tâm giao thương sầm uất của cả vùng, cách thôn Lạc Diệp chừng nửa ngày đường xe bò. Phố xá lát đá xanh rộng rãi, hai bên đường san sát những tửu lầu, phường nhuộm, hiệu thuốc và các cửa hàng tơ lụa nhộn nhịp kẻ bán người mua, tiếng rao hàng vang lên rộn rã khắp các ngõ phố.
Xe bò dừng lại trước cửa Huyện nha Vân Khê — một tòa công đường uy nghiêm với đôi sư tử đá gác cổng và tấm biển gỗ sơn son thiếp vàng treo cao.
Nhờ có uy tín nhiều năm của Lý chính Trần lão trượng và danh tiếng liêm khiết của ông, viên lại dịch phụ trách Hộ phòng nhanh chóng tiếp đón họ tại sảnh phụ của nha môn.
Viên Đề lại họ Vương ngoài bốn mươi tuổi, ria mép tỉa tót cẩn thận, mặc áo dài màu chàm viền đen, tay cầm chiếc bút lông phe phẩy, đưa mắt nhìn Nhược Lam từ đầu đến chân với vẻ dò xét:
“Ngươi chính là nữ tử Khương thị bị trục xuất khỏi Khương phủ ở kinh thành, nay muốn xin lập hộ tịch độc lập và khai khẩn đất hoang tại thôn Lạc Diệp?”
Nhược Lam không hề tỏ ra e dè hay sợ sệt trước chốn nha môn quan phủ. Nàng bước lên một bước, phong thái ung dung đĩnh đạc, lưng thẳng như cành trúc, hai tay dâng lên tập hồ sơ đã chuẩn bị sẵn:
“Bẩm Vương đại nhân, dân nữ Khương Nhược Lam chính là người đó. Đây là Đoạn tuyệt thư có ấn tín đỏ của Khương Thượng thư phủ, xác nhận dân nữ đã hoàn toàn dứt bỏ quan hệ thân tộc, tự lập môn hộ. Theo Luật Hộ tịch triều Đại Ninh ta, điều thứ mười sáu quy định rõ: Phụ nữ độc thân đã có Đoạn tuyệt thư hoặc không nơi nương tựa, có quyền đứng tên chủ hộ (Hộ nữ chủ), được phép xin quan phủ cấp phép khai khẩn đất vô chủ để tự nuôi sống bản thân, nộp tô thuế cho quốc gia. Kính mong đại nhân thẩm duyệt.”
Viên Đề lại họ Vương hơi giật mình. Gã vốn tưởng đây chỉ là một thôn nữ nghèo hèn dốt nát, định bụng dùng vài câu hạch sách để vòi vĩnh chút bạc trà nước. Không ngờ thiếu nữ này vừa mở miệng đã dẫn giải rành rọt từng điều luật của Đại Ninh luật, khẩu khí đĩnh đạc, chữ viết trên đơn từ lại ngay ngắn, phượng múa rồng bay như nét bút của bậc đại gia thư pháp! Lại nhìn thấy dấu ấn son đỏ chót của Thượng thư phủ kinh kỳ trên tờ Đoạn tuyệt thư, Vương Đề lại thầm rùng mình, biết rõ người này dẫu có thất thế thì cũng mang cốt cách của dòng dõi khuê tú danh gia, tuyệt đối không thể tùy tiện ức h**p.
Vương Đề lại ho nhẹ một tiếng, lật giở cuốn sổ địa bạ huyện Vân Khê dày cộp ra bàn:
“Được rồi, hồ sơ hộ tịch của ngươi hoàn toàn hợp lệ. Nay nha môn chuẩn y cho ngươi lập hộ độc lập tại thôn Lạc Diệp. Còn về việc xin khế ước khai khẩn đất hoang… Ngươi muốn xin khoanh vùng mảnh đất nào? Nói trước cho ngươi biết, đất ruộng màu mỡ quanh sông Ngân Khê đều đã có chủ bạ, chỉ còn lại những dải đất rìa làng mà thôi.”
Lý chính Trần lão trượng vội bước lên đỡ lời:
“Bẩm đại nhân, con bé này nó muốn xin mảnh đất hoang quanh căn nhà tranh của mẹ nó để lại…”
“Không chỉ có mảnh đất quanh nhà, bẩm đại nhân!”
Nhược Lam bỗng cất tiếng cắt ngang, ngón tay ngọc ngà của nàng dứt khoát chỉ thẳng vào tấm bản đồ địa chính treo trên tường công đường, điểm thẳng vào một vùng đồi núi nhấp nhô được vẽ bằng mực xám:
“Dân nữ muốn xin toàn bộ quyền khai khẩn ngọn đồi sỏi đá phía sau thôn Lạc Diệp, kéo dài từ chân núi Lạc Nhạn ra bờ kênh cạn, tổng cộng ước chừng ba mươi mẫu đất!”
Lời vừa thốt ra, cả căn phòng Hộ phòng lập tức rơi vào một cõi tĩnh lặng như tờ.
Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu run bắn người, suýt nữa cắn phải đầu lưỡi, vội vã kéo giật tay áo Nhược Lam:
“Nhược Lam! Cháu điên rồi sao? Quả đồi sỏi đá đó… quả đồi đó đất chua nồng nặc, toàn sỏi đá ong lởm chởm, cỏ dại còn không mọc nổi! Mấy chục năm nay dân làng chỉ dùng nó để thả vài con dê còi, ai nấy đều chê bai tránh xa. Cháu xin ba mươi mẫu đất chết đó để làm gì? Lấy tiền đâu mà nộp thuế đất cho quan phủ?”
Vương Đề lại cũng trừng to hai mắt nhìn nàng như nhìn thấy một kẻ mất trí:
“Khương cô nương, ngươi có biết mình đang nói gì không? Ngọn đồi đó huyện nha chúng ta đã liệt vào diện ‘hoang sơn phế địa’ suốt hai mươi năm nay, không ai thèm ngó ngàng! Ngươi nhận ba mươi mẫu đất đó, chẳng khác nào tự tròng dây thừng vào cổ mình!”
Nhược Lam vẫn giữ nguyên nụ cười tự tin, ánh mắt sáng rực kiên định:
“Dân nữ hoàn toàn tỉnh táo. Theo ‘Khuyến Nông Chiếu’ của Hoàng thượng ban hành năm ngoái: Bất kỳ bách tính nào dám đứng ra nhận khai khẩn đất hoang phế bạc màu cấp độ ba trở lên, triều đình sẽ cấp khế ước sở hữu thời hạn năm mươi năm, đồng thời miễn toàn bộ thuế má lương thảo trong ba năm đầu canh tác! Có đúng như vậy không thưa Vương đại nhân?”
Vương Đề lại sững sờ, chiếc bút lông trên tay suýt rơi xuống bàn.
Đúng là triều đình có chính sách này thật, nhưng từ trước đến nay ở huyện Vân Khê chẳng có kẻ ngu ngốc nào dám nhận đất sỏi đá bạc màu để khai khẩn, bởi vì tiền phân bón, công sức đào đá khử chua đổ vào đó chỉ có nước táng gia bại sản! Nhưng đối với quan phủ địa phương, nếu có người chịu đứng ra nhận đất hoang để ghi vào sổ sách báo công lên trên, chẳng những huyện nha được khen thưởng vì thành tích mở rộng diện tích canh tác, mà gã Đề lại phụ trách như gã cũng được hưởng một món hoa hồng trích từ quỹ khuyến nông của nha môn!
“Ngươi… ngươi thật sự muốn nhận ba mươi mẫu đồi sỏi đá đó?” Vương Đề lại nuốt nước bọt cái ực, hỏi lại lần cuối.
“Nhất ngôn cửu đỉnh! Xin đại nhân lập khế ước ngay cho dân nữ!” Nhược Lam dõng dạc khẳng định.
Nửa canh giờ sau.
Viên Đề lại mang tờ đơn vào hậu đường bẩm báo. Vị Huyện lệnh huyện Vân Khê vốn đang đau đầu vì chỉ tiêu khai hoang cấp trên giao phó chưa hoàn thành, nghe tin có người tự nguyện gánh ba mươi mẫu đất chết liền mừng rỡ như vớ được vàng, lập tức vung bút phê chuẩn hai chữ “Chuẩn y”, đóng thẳng con dấu son lớn của huyện nha lên tờ khế đất!
Khi Nhược Lam bước ra khỏi cổng nha môn, ánh tà dương của buổi chiều muộn đã nhuộm đỏ rực cả một góc trời huyện thành Vân Khê.
Trên tay nàng lúc này là một tờ khế ước bằng giấy tuyên bồi gấm dày dặn, bên trên viết rõ: Hộ nữ chủ Khương Nhược Lam, toàn quyền sở hữu và canh tác ba mươi mẫu đồi hoang tại thôn Lạc Diệp trong vòng năm mươi năm, ba năm đầu miễn toàn bộ thuế má! Từng nét chữ son đỏ au vẫn còn thơm nức mùi mực xạ hương mới tinh.
Tam Thúc đi bên cạnh vẫn chưa hết bàng hoàng, chiếc lưng còng của ông run rẩy, vừa lo lắng vừa xót xa nhìn đứa cháu gái:
“Nhược Lam ơi là Nhược Lam… Ba mươi mẫu sỏi đá… Làm sao mà cuốc xới cho xuể đây con?”
Nhược Lam ôm chặt tờ khế đất vào lòng, ngẩng cao đầu hít một hơi thật sâu làn gió mát rượi của đất trời. Đôi mắt nàng lấp lánh niềm kiêu hãnh và ngập tràn ngọn lửa nhiệt huyết của một nhà nông học chân chính.
Trong mắt người đời, đó là đồi sỏi đá bạc màu, là vùng đất chết bị ruồng bỏ. Nhưng trong đôi mắt thấu suốt quy luật tự nhiên của nàng, chỉ cần khử chua bằng vôi bột, bón lót phân vi sinh ủ hoai mục, cày xới tơi xốp và đưa giống ngô ngọt siêu năng suất kết hợp xen canh đậu tương cố định đạm xuống lòng đất… thì ba mươi mẫu đất hoang này sẽ biến thành một biển vàng trù phú, thành trang viên sinh thái kiểu mẫu đệ nhất Đại Ninh quốc!
Nàng quay đầu lại, nhìn thấy Tiêu Lập đang dắt con ngựa đen đứng chờ dưới gốc cây hòe già bên ngoài cổng nha môn, ánh hoàng hôn phủ lên bờ vai rộng lớn của chàng một lớp viền vàng rực rỡ.
Nhược Lam bước nhanh tới bên cạnh chàng, giơ cao tờ khế đất đỏ chót trước mặt Tiêu Lập, khóe môi nở một nụ cười rạng rỡ, tinh nghịch nói:
“Tiêu đại ca! Nhìn thấy chưa? Từ hôm nay trở đi, ta chính là đồi chủ của ba mươi mẫu đất hoang sau làng rồi đấy nhé! Sau này huynh muốn lên rừng săn thú, phải bước qua lãnh địa của Khương đồi chủ ta trước đấy!”
Tiêu Lập nhìn nụ cười rạng rỡ như ánh dương của thiếu nữ trước mặt, khóe mắt chàng khẽ cong lên một tia ấm áp hiếm hoi. Chàng cúi đầu nhìn nàng, trầm giọng đáp:
“Được. Nàng muốn trồng gì, ta cuốc đất cho nàng.”
Nhược Lam nghe vậy, trong lòng ngọt ngào như vừa uống một thìa mật ong rừng nguyên chất.
Thế nhưng, ngay khi nàng chuẩn bị cất tiếng cười đùa tiếp, Tiêu Lập bỗng nhiên thu lại nụ cười.
Bàn tay to lớn gân guốc của chàng đột ngột siết chặt lấy chuôi trường đao giấu trong bọc vải thô bên hông ngựa. Ánh mắt đại bàng sắc bén của chàng bỗng chốc trở nên ngưng trọng và lạnh lẽo tột cùng, ngước nhìn thẳng lên bầu trời ráng chiều chạng vạng phía chân trời xa xăm.
Theo hướng nhìn của chàng, một cánh chim bồ câu đưa thư màu tuyết trắng muốt đang vút bay xé toạc những dải mây đỏ rực, dưới chân nó buộc một dải lụa đỏ thắm — ám hiệu cấp báo khẩn cấp cao nhất của quân doanh Trấn Bắc từ kinh thành Thạnh An truyền tới…
Sáng sớm hôm sau, khi màn sương xám bạc của vùng chân núi Lạc Nhạn còn chưa kịp tan, tiếng gà rừng gáy le te nơi rặng nứa đã đánh thức cả thôn Lạc Diệp. Gió sớm thổi qua khe núi mang theo cái lạnh se sắt đặc trưng của chốn đồng rừng, nhưng trên triền đồi phía sau làng, không khí lại hừng hực tựa như một công trường thu nhỏ.
Khương Nhược Lam đã thức dậy từ lúc canh tư. Nàng búi gọn mái tóc đen mượt thành một búi củ tỏi tròn trĩnh trên đỉnh đầu, dùng một dải vải gai buộc chặt lại, hai ống tay áo của chiếc áo vải thô màu lam nhạt được xắn cao lên quá khuỷu, để lộ đôi cánh tay trắng nõn tuy mảnh mai nhưng vô cùng nhanh nhẹn. Dưới chân nàng là đôi giày cỏ đan dày dặn, bên hông đeo một chiếc giỏ tre nhỏ đựng mấy củ khoai nướng lót dạ.
“Tam Thúc, thúc cắm cọc theo đúng đường dây gai con vừa căng nhé! Đừng cày xéo sang luống bên kia, chúng ta làm ruộng bậc thang men theo sườn đồi, rãnh thoát nước phải có độ dốc thoai thoải chừng nửa đốt ngón tay thì mùa mưa mới không lo xói mòn đất!”
Tiếng nói trong trẻo, lanh lảnh của Nhược Lam vang vọng khắp sườn đồi.
“Được rồi! Con cứ yên tâm, lão già này tuy mắt mờ nhưng tay cuốc mấy chục năm nay chưa từng trật một tấc nào!”
Cách đó chừng mười trượng, Khương Vĩnh Cửu đang c** tr*n trùng trục, tấm lưng còng đen bóng nhễ nhại mồ hôi dưới làn sương sớm. Cầm chiếc cuốc chim bằng sắt tốt mà Nhược Lam vừa mua hôm qua ở huyện thành, Tam Thúc bổ từng nhát dứt khoát xuống mặt đất cằn cỗi. Mỗi một nhát cuốc giáng xuống, sỏi đá lại va vào lưỡi sắt kêu “leng keng”, tóe ra những tia lửa nhỏ li ti.
Phía bên kia luống, Lý thị và bé Bảo Nha cũng không chịu ngồi yên. Lý thị cúi rạp người, hai bàn tay thô ráp chai sần thoăn thoắt nhặt từng hòn đá cuội to bằng nắm tay ném vào sọt tre. Bảo Nha mới mười tuổi, đôi chân thoăn thoắt như con sóc nhỏ, vừa bê sọt đá con lon ton chạy đổ vào mép rào vừa lau mồ hôi trán, miệng cười toe toét:
“Tỷ tỷ! Đống đá này gom lại sau này để lát đường đi hay xây chuồng gà vậy tỷ?”
Nhược Lam dừng tay xẻng, quệt giọt mồ hôi lấm tấm nơi chóp mũi, nhìn con bé cười đáp:
“Cả hai! Chúng ta sẽ dùng đá hộc to kè bờ taluy giữ đất cho khỏi sạt lở, còn đá dăm nhỏ thì rải quanh lối đi giữa các luống. Mảnh đất này tuy toàn sỏi đá, nhưng chỉ cần biết tận dụng thì đến cả đá sỏi cũng biến thành tường đồng vách sắt bảo vệ hoa màu!”
Mấy ngày qua, nàng cùng cả nhà Tam Thúc dường như không ngơi tay một khắc nào. Ba mươi mẫu đồi hoang vốn là vùng đất chết bị bỏ rơi hàng chục năm, tầng đất mặt mỏng dính, lại bị chua phèn ăn mòn đến mức cỏ dại mọc lên cũng còi cọc úa vàng. Nhưng đối với một tiến sĩ nông học như Nhược Lam, nàng nhìn ra tiềm năng khổng lồ ẩn giấu bên dưới.
Nàng chia mảnh đồi thành từng bậc thang uốn lượn theo thế núi. Trước tiên, nàng cho rải đều một lớp vôi bột mỏng khắp mặt luống để trung hòa độ chua, diệt trừ mầm mống nấm bệnh và trứng sâu bọ ẩn nấp trong kẽ đá. Sau khi vôi bột ngấm sương đêm được hai ngày, nàng mới bắt đầu khui đống phân ủ vi sinh hảo khí mà mình đã dốc công chế biến suốt những ngày qua.
Đống ủ được tạo nên từ rơm rạ mục, lá mục rừng Lạc Nhạn, tro bếp và phân chuồng hoai, trải qua quá trình lên men nhiệt độ cao đã chuyển sang màu nâu đen tơi xốp, tỏa ra mùi ngai ngái nồng ấm của mùn đất tự nhiên chứ tuyệt nhiên không còn chút mùi hôi thối nào. Từng đàn trùn quế béo múp míp lúc nhúc bên dưới chính là minh chứng rõ ràng nhất cho độ phì nhiêu.
“Tam Thẩm, rải phân lót sâu chừng ba tấc thôi nhé, sau đó phủ một lớp đất mịn lên rồi mới đặt hạt giống!” Nhược Lam tỉ mỉ hướng dẫn.
“Nhược Lam à, hạt ngô giống này của con lạ thật đấy, hạt nào hạt nấy vàng óng, mầm nhú ra mập mạp như hạt đậu tằm thế này, nhìn thôi đã thấy ưng cái bụng rồi!” Lý thị tấm tắc khen ngợi khi bưng chiếc nia tre đựng những hạt ngô đã nứt nanh trắng muốt.
“Đây là ngô ngọt giống tốt con tuyển chọn đấy ạ. Nhưng nếu chỉ trồng một mình ngô thì đất đồi sẽ nhanh kiệt sức. Vì thế, con sẽ trồng xen canh luống đậu tương!”
Nhược Lam ngồi xổm xuống, vừa thoăn thoắt tra hạt ngô vào hốc đất vừa giải thích cho hai vợ chồng Tam Thúc bằng thứ ngôn từ mộc mạc nhất:
“Cây bắp háu ăn, cần nhiều chất dinh dưỡng để nuôi hạt lớn; còn cây đậu tương lại là kẻ thảo ăn, rễ của nó có những nốt sần nhỏ xíu có tài biến khí trời thành thức ăn bồi bổ lại cho lòng đất. Chúng ta cho bắp và đậu sống chung một nhà, đậu nuôi đất, đất nuôi bắp, vừa đỡ tốn phân bón lại vừa hạn chế được cỏ dại mọc lấn át!”
Tam Thúc nghe mà tròn xoe mắt, chiếc tẩu thuốc gõ côm cốp vào cán cuốc, gật gù thán phục:
“Trời đất ơi! Lão già này làm ruộng gần nửa đời người, chỉ biết cắm hạt xuống rồi trông trời trông đất, chưa từng nghe qua đạo lý kỳ diệu bực này! Đúng là người có ăn học nơi kinh thành, hiểu biết rộng như trời biển!”
Nhược Lam mỉm cười không đáp, chỉ chuyên tâm ấn từng hạt ngô xuống lớp đất mịn ẩm ướt. Năm trăm hạt ngô ngọt thuần chủng cùng mấy thúng đậu tương giống địa phương nhanh chóng được gieo rải rác trên diện tích năm mẫu đồi đầu tiên đã được cải tạo xong. Nhìn những luống đất nâu sẫm thẳng tắp uốn lượn theo triền đồi, trong lòng nàng trào dâng một cảm giác thỏa mãn và tự hào khôn xiết.
Thế nhưng, niềm vui ngắn chẳng tày gang.
Sang đến ngày thứ tư sau khi xuống giống, trời đất bỗng nhiên biến sắc. Đang giữa tiết trời giao mùa êm dịu, một đợt gió khô nóng từ phía tây nam bất ngờ tràn về, cuốn phăng đi những đám mây ẩm ướt. Mặt trời như một quả cầu lửa thiêu đốt treo lơ lửng trên đỉnh đầu từ sáng sớm đến chiều muộn, không khí oi nồng, ngột ngạt đến nghẹt thở.
Mảnh đồi sỏi đá vốn giữ nước kém, lại nằm ở vị trí dốc cao, lớp đất mặt vừa được cải tạo tơi xốp bắt đầu khô cong lại, nứt nẻ thành những đường chân chim chằng chịt. Những mầm ngô non vừa mới đội đất nhú lên hai chiếc lá xanh biếc mỏng manh, gặp phải nắng gắt liền rũ xuống, mép lá cong queo, khô quắt lại như sắp sửa bốc cháy.
“Nguy rồi… Cứ thế này thì mầm ngô chết cháy hết mất thôi!”
Lý thị nhìn vạt đồi xơ xác mà xót xa rơi nước mắt, vội vã quẩy đôi thùng gỗ chạy vạy xuống chân đồi.
Nhưng khoảng cách từ triền đồi dốc đứng này xuống tới bờ sông Ngân Khê dài hơn một dặm đường mòn lởm chởm gai góc. Một đôi thùng nước đầy ắp nặng đến sáu bảy chục cân, Tam Thúc và Lý thị còng lưng gánh từng chuyến một leo ngược dốc đứng, mồ hôi tuôn ra như tắm, bờ vai bị đòn gánh cọ xát đến đỏ rách, rớm máu tươi qua lớp áo rách bươm.
Bảo Nha cũng gánh hai chiếc gáo dừa nhỏ xíu, đôi chân ngắn cũn th* d*c leo từng bước, mệt đến mức ngã quỵ xuống bụi cỏ dại, trầy xước cả đầu gối.
“Đừng gánh nữa! Tam Thúc, Tam Thẩm, mọi người dừng tay lại mau!”
Nhược Lam lao tới, giật lấy đòn gánh trên vai Tam Thúc, nhìn đôi bàn chân run rẩy của ông mà lòng nàng thắt lại từng cơn.
Nàng nhìn quanh triền đồi rộng mênh mông bát ngát. Ba mươi mẫu đất! Cho dù cả bốn người có liều mạng gánh nước từ sáng tới tối, gãy cả lưng, rách cả thịt da thì số nước ít ỏi ấy tưới xuống lớp đất sỏi đá nóng hổi này cũng chẳng khác nào muối bỏ biển, chỉ vừa chạm vào mặt đất là bốc hơi nghi ngút!
Sức người có hạn, đối đầu với thiên nhiên khô hạn bằng đôi thùng gỗ thô sơ này chỉ là con đường chết!
“Con bé ngốc này… không tưới thì ngô chết héo hết… Đất vừa mới gieo xuống… bao nhiêu công sức của con…” Tam Thúc thở không ra hơi, đôi môi khô nứt nẻ bật máu, run rẩy nói.
“Không thể dùng cách này được!” Nhược Lam nghiến chặt răng, ánh mắt nàng quét ngược l*n đ*nh núi Lạc Nhạn cao vút mây mờ phía sau lưng. “Nước ở dưới sông không thể cõng lên đồi, nhưng nước trên núi cao thì hoàn toàn có thể tự chảy xuống!”
Nàng nhớ lại những ngày đầu lên rừng tìm thảo mộc. Sâu trong khe núi Lạc Nhạn có một con suối ngầm bắt nguồn từ đỉnh thác Bạc, nước suối trong vắt, quanh năm tuôn chảy cuồn cuộn không bao giờ cạn đáy. Độ cao của dòng suối ấy nằm vượt trội so với đỉnh đồi ba mươi mẫu của nàng ít nhất mười trượng!
Nếu có thể tận dụng thế năng tự nhiên, để nước chảy từ chỗ cao xuống chỗ trũng…
Nhưng khoảng cách từ khe suối ấy về đến đỉnh đồi của nàng cách nhau hơn ba trăm trượng rừng rậm và vách đá lởm chởm. Ở thời đại đồ sắt thô sơ này, không có ống nhựa dẻo, không có máy bơm áp lực, làm sao có thể đưa một dòng nước băng rừng vượt núi về đây?
Đúng lúc Nhược Lam đang cau mày trầm tư tính toán khoảng cách và vật liệu, từ phía bìa rừng rậm rạp bỗng vang lên tiếng bước chân trầm ổn, vững chãi giẫm lên lớp lá khô mục.
Mọi người giật mình quay đầu lại.
Dưới bóng râm râm mát của rặng cây cổ thụ, Tiêu Lập sừng sững xuất hiện. Chàng mặc một chiếc áo cộc tay bằng vải thô màu xám tro bó sát lồng ngực vạm vỡ, để lộ hai cánh tay cuồn cuộn cơ bắp rám nắng đồng hun. Trên vai chàng vác theo một cây rìu đi rừng sáng loáng, phía sau lưng kéo lê theo một cỗ xe trượt gỗ thô sơ chở đầy những thân tre bương khổng lồ.
Đó là loại tre già mọc sâu trong thung lũng đá vôi, thân cây thẳng tắp, đường kính to hơn cả miệng bát ăn cơm, vỏ ngoài xanh đen bóng loáng, thành tre dày dặn và dẻo dai vô cùng.
“Tiêu đại ca?” Nhược Lam ngẩn ngơ nhìn chàng.
Tiêu Lập dừng bước trước mặt nàng, ánh mắt đại bàng lướt qua đôi môi khô khốc và vệt bùn đất lấm lem trên má nàng, đáy mắt khẽ xao động một tia xót xa khó phát giác. Chàng đặt cây rìu xuống đất, trầm giọng nói:
“Nước sông Ngân Khê quá xa, sỏi đá ngấm nước nhanh, nàng cõng nước lên đây chỉ tổ phí sức.”
“Huynh… số tre này là…” Nhược Lam nhìn đống tre bương to lớn, tim bỗng đập thình thịch một nhịp.
“Rừng sâu có suối nguồn. Tre bương thông ruột, có thể dẫn nước.” Tiêu Lập đáp ngắn gọn, ngữ khí bình thản như thể việc chàng một mình lặn lội suốt đêm vào hẻm núi sâu chặt hạ hàng chục cây tre khổng lồ kéo về đây chỉ là một cái nhấc tay tiện đường.
Nhược Lam nhìn chàng, rồi lại nhìn đống tre bương, trong đầu nàng như có một tia chớp xé toạc màn đêm u tối!
Hệ thống máng thủy lợi tự chảy bằng ống tre!
Trời ạ! Nàng đúng là bị cái nắng làm cho lú lẫn rồi! Thời cổ đại người ta từng dùng thân tre bổ đôi hoặc đục rỗng mắt để dẫn nước suối về bản làng phục vụ sinh hoạt và tưới tiêu suốt hàng trăm năm! Tre bương vùng núi Lạc Nhạn thân dày, chịu được mưa nắng, bên trong lòng ống lại trơn nhẵn, chính là vật liệu dẫn nước hoàn hảo nhất mà thiên nhiên ban tặng!
“Tiêu đại ca! Huynh đúng là vị cứu tinh của ta!”
Nhược Lam mừng rỡ reo lên một tiếng, theo bản năng đưa hai tay nắm lấy bắp tay rắn chắc như thép nguội của chàng siết nhẹ một cái.
Hành động thân mật bất ngờ ấy khiến toàn thân Tiêu Lập khẽ cứng đờ. Cảm giác mềm mại, ấm áp từ đôi bàn tay nhỏ nhắn truyền qua lớp vải thô ráp khiến lồng ngực chàng như có một ngọn lửa nhỏ bùng cháy. Chàng khẽ hắng giọng một tiếng, lùi lại nửa bước để giấu đi vành tai đang hơi ửng đỏ, đôi mắt cụp xuống nhìn nàng:
“Nàng muốn làm thế nào, cứ nói.”
Nhược Lam lúc này toàn tâm toàn ý đều đặt vào công trình thủy lợi vĩ đại trước mắt, hoàn toàn không nhận ra sự bối rối thoáng qua của chàng thợ săn to lớn. Nàng lập tức rút một cành cây khô, ngồi thụp xuống vạch vẽ lên nền đất cát:
“Chúng ta không cần bổ đôi tre ra đâu, bổ đôi thì nước dễ bị bốc hơi dưới trời nắng gắt và lá cây rơi vào làm tắc nghẽn! Chúng ta sẽ dùng một thanh sắt dài nung đỏ, đục thủng toàn bộ các vách ngăn bên trong mắt tre, biến chúng thành những đường ống tre khép kín!”
Nàng vừa vẽ vừa thao thao bất tuyệt, đôi mắt hạnh lấp lánh thứ ánh sáng thông tuệ rực rỡ:
“Sau đó, ta vạt nhọn một đầu thân tre này cắm lồng vào đuôi thân tre kia, dùng vỏ cây vông dại giã nát trộn với nhựa thông rừng để trám kín các khe nối chống rò rỉ! Đặt các ống tre này lên những chiếc giá đỡ bằng gỗ hình chữ X men theo sườn núi dốc thoai thoải, dòng nước từ suối cao sẽ tự động lao vút về đỉnh đồi của chúng ta!”
Tam Thúc đứng bên cạnh nghe mà há hốc mồm, còn Tiêu Lập chăm chú lắng nghe từng lời từng chữ của nàng. Đường nét góc cạnh trên gương mặt cương nghị của chàng khẽ giãn ra, trong ánh mắt dâng lên một niềm thán phục sâu sắc.
Nàng không chỉ là một nữ tử thông minh, mà trong đầu nàng dường như chứa đựng cả một kho tàng tri thức kỳ diệu mà ngay cả những viên quan công bộ chuyên coi sóc việc đê điều của triều đình Đại Ninh cũng chưa chắc đã nghĩ ra được sự tinh tế đến bực này!
“Được. Ta đục mắt tre.” Tiêu Lập nói dứt khoát.
Không chậm trễ một khắc nào, kế hoạch dẫn nước cứu mầm xanh lập tức được triển khai rầm rộ.
Tiêu Lập nhóm một đống lửa lớn ngay cạnh bìa rừng, nung đỏ những thanh sắt dài nhọn hoắt. Dưới đôi bàn tay gân guốc đầy sức mạnh của chàng, thanh sắt đỏ rực xuyên thẳng qua từng gióng tre, tiếng xèo xèo vang lên kèm theo làn khói trắng mang mùi thơm ngai ngái của tre tươi bị nướng chín. Từng vách ngăn mắt tre cứng như đá đều bị chàng chọc thủng một cách dễ dàng, trơn tru tăm tắp.
Trong khi đó, Nhược Lam dẫn Tam Thúc và Lý thị đi chặt những nhánh cây gỗ nghiến chạc ba, vót nhọn đầu cắm sâu xuống đất tạo thành những hàng giá đỡ hình chữ X vững chãi men theo vách đá. Nàng dùng một sợi dây gai buộc hòn đá nhỏ để đo độ thăng bằng, bảo đảm đường ống tre luôn duy trì một độ dốc nghiêng chừng năm độ, vừa đủ để nước chảy xiết mà không tạo áp lực quá mạnh làm bục các mối nối.
Bé Bảo Nha thì lon ton đi gom nhựa thông chảy ra từ những gốc thông già quanh rừng, trộn đều với tro mịn để Nhược Lam trét vào từng khớp nối tre.
Công việc nặng nhọc kéo dài liên tục suốt hai ngày một đêm. Tiêu Lập dường như không biết mệt mỏi, chàng thoăn thoắt leo lên những mỏm đá chênh vênh nơi đầu nguồn suối, một tay giữ chặt thân tre nặng trĩu, một tay dùng dây mây rừng bện chặt ống tre vào vách đá ngầm.
Nhìn bóng lưng cao lớn, vững chãi như một ngọn núi của chàng dầm mình dưới thác nước lạnh buốt để cố định phễu đón nước bằng nan tre đan khít, trái tim Nhược Lam khẽ rung lên những nhịp đập êm dịu, ấm áp lạ thường.
Thời hiện đại, nàng vùi đầu vào phòng thí nghiệm và những luống đất mẫu, xung quanh chỉ có máy móc khô khan và sự cạnh tranh học thuật gay gắt. Chưa từng có một ai, một người đàn ông nào lặng lẽ đứng sau lưng nàng, không hỏi lý do, không đòi đền đáp, chỉ cần nàng chỉ tay về phía trước là chàng sẵn sàng vì nàng mà xẻ núi, bạt rừng như thế này.
Đến xế chiều ngày thứ hai, khớp nối cuối cùng trên đỉnh đồi ba mươi mẫu đã được Nhược Lam tra chặt bằng một chốt nêm gỗ thông.
“Xong rồi! Tiêu đại ca, mở phễu đón nước đi!” Nhược Lam đứng trên gò đất cao nhất, giơ hai tay làm loa hướng về phía hẻm núi xa xăm hét lớn.
Cách đó hơn hai trăm trượng, trên một mỏm đá cheo leo, bóng dáng Tiêu Lập giơ cao một cánh tay đáp lại. Chàng rút phên chắn bằng gỗ thông ra khỏi miệng máng dẫn đầu nguồn.
Cả triền đồi bỗng chốc im phăng phắc.
Tam Thúc nín thở, hai bàn tay thô ráp nắm chặt lấy vạt áo rách. Lý thị chắp tay trước ngực lẩm bẩm cầu khấn thổ địa thần linh phù hộ. Bảo Nha kiễng chân, đôi mắt tròn xoe dán chặt vào miệng ống tre to tướng đang chìa ra trên đỉnh đồi.
Một hơi thở… Hai hơi thở…Từ sâu trong lòng những thân tre xanh mướt uốn lượn men theo vách núi, một chuỗi âm thanh “ục ục… róc rách…” mơ hồ bỗng truyền tới. Âm thanh ấy ban đầu còn trầm đục, nghẹn ngào, nhưng càng lúc càng trở nên vang dội, dồn dập tựa như tiếng vó ngựa phi nước đại trong đường hầm!
“Có tiếng nước rồi! Nước về rồi!” Bảo Nha nhảy cẫng lên reo hò.
“Xoạt——!”
Một luồng không khí mát lạnh từ trong lòng ống tre phụt mạnh ra ngoài, ngay sau đó, một dòng nước suối trong vắt, mát rượi, cuồn cuộn như một con rồng bạc hung hãn lao vút ra khỏi miệng ống tre, xé toạc bầu không khí khô nóng oi ả của triền đồi!
Dòng nước mát lạnh đổ ập xuống một chiếc hố đá sâu mà Nhược Lam đã đào sẵn trên đỉnh đồi, bọt nước tung trắng xóa, bắn tung tóe lên mặt đất nứt nẻ, mang theo hơi thở ngọt ngào, tinh khiết của núi rừng đại ngàn!
“Nước! Nước suối thật rồi! Trời đất thần phật ơi, nước tự chảy lên đồi rồi!”
Tam Thúc hét lên một tiếng xé lòng, lão nông nghèo khổ cả đời cúi mặt cho đất, ngửa lưng cho trời bỗng nhiên quỳ sụp xuống bên hố nước, hai bàn tay vục lấy dòng nước mát lạnh hắt lên mặt, lên đầu mình, vừa cười sằng sặc vừa khóc nức nở như một đứa trẻ.
Nước từ hố đá trên đỉnh đồi tràn qua bờ, men theo các rãnh đất bậc thang mà Nhược Lam đã tính toán kỹ lưỡng, rẽ thành hàng chục nhánh nhỏ róc rách len lỏi vào từng luống ngô, từng hàng đậu tương. Nhược Lam còn dùng những ống tre nhỏ đục lỗ li ti cắm nối từ rãnh chính dẫn thẳng vào từng gốc cây, tạo thành một hệ thống tưới nhỏ giọt hoàn hảo, từng giọt từng giọt nước suối mát lành từ từ ngấm sâu vào lòng đất cằn cỗi mà không hề làm trôi đi một hạt phân bón vi sinh nào.
Đất đai khô cằn như một kẻ bộ hành chết khát giữa sa mạc bấy lâu nay, điên cuồng uống từng ngụm nước suối ngọt ngào. Khí nóng bốc lên ngùn ngụt rồi nhanh chóng bị làn hơi ẩm dịu mát xua tan.
Và rồi, một cảnh tượng kỳ diệu tựa như bức tranh thủy mặc dần dần hiện ra trước mắt mọi người.
Được uống no dòng nước suối mát lạnh giàu khoáng chất của núi Lạc Nhạn, kết hợp với dinh dưỡng hoai mục từ đống ủ vi sinh bên dưới, những mầm ngô ngọt vừa mới rũ héo ban chiều bỗng chốc cựa mình thức giấc!
Những chiếc lá xanh non từ từ vươn thẳng dậy, đón lấy làn gió mát rượi của buổi hoàng hôn. Từng hạt ngô còn nằm vùi trong lòng đất ẩm cũng thi nhau đội đất nứt nanh, nhú lên những mầm xanh mơn mởn, tràn đầy sức sống mãnh liệt. Chỉ trong vòng chưa đầy hai canh giờ, cả một vạt đồi sỏi đá cằn cỗi xám xịt ban sáng đã được khoác lên một tấm áo choàng màu xanh ngọc bích rực rỡ, lung linh dưới ánh ráng chiều đỏ rực!
Phía chân đồi, mấy người dân thôn Lạc Diệp đi làm đồng về ngang qua, nhìn thấy cảnh tượng ấy đều dụi mắt ngỡ mình đang nằm mơ.
“Trời đất ơi… Ta có nhìn lầm không thế kia? Nước… nước ở đâu mà chảy cuồn cuộn trên đồi sỏi nhà con nha đầu họ Khương thế kia?”
“Không phải là nàng ta biết dùng tà thuật đấy chứ? Đồi đá chết ấy mà mầm ngô mọc xanh um tùm như ruộng phù sa bờ sông thế kia ư?”
“Tà thuật cái con khỉ! Ngươi không thấy những cái ống tre bắc từ trên núi xuống à? Là người ta có tài, có mưu trí đấy! Cả làng này trước giờ cứ bảo con gái Thượng thư phủ bị đuổi về là đồ vô dụng phế tích, bây giờ xem ai mới là kẻ ngu ngốc mở to mắt mà nhìn!”
Những tiếng xì xào bàn tán, kinh ngạc lẫn thán phục vang lên không ngớt dọc theo con đường làng.
Đứng giữa ruộng ngô xanh mướt đang đung đưa theo gió chiều, Nhược Lam hít một hơi thật sâu mùi đất ẩm nồng nàn quyện lẫn hương cỏ cây tươi mới. Sự mệt mỏi rã rời suốt hai ngày qua dường như tan biến sạch trơn, chỉ còn lại niềm hạnh phúc ngọt ngào lan tỏa khắp các mạch máu.
Nàng quay đầu nhìn lại. Tiêu Lập đã từ trên vách núi bước xuống từ lúc nào, chàng đứng lặng lẽ bên một gốc cây dẻ gai ở góc đồi, khoanh tay trước ngực ngắm nhìn nàng. Ánh hoàng hôn vàng óng buông xuống phủ lên người chàng một lớp hào quang ấm áp, khóe môi chàng khẽ cong lên một nụ cười kín đáo nhưng chan chứa sự cưng chiều vô hạn.
Bốn mắt nhìn nhau giữa biển mầm xanh mơn mởn, không cần một lời thề non hẹn biển, nhưng trong lòng hai người đều hiểu, một hạt mầm khác còn ấm áp hơn cả ngô ngọt đã bắt đầu bén rễ sâu trong trái tim họ.
*
Tối hôm đó, căn nhà tranh nhỏ của Nhược Lam tràn ngập tiếng cười giòn giã.
Để ăn mừng dòng nước suối dẫn về thành công và mầm ngô đâm chồi thuận lợi, Nhược Lam quyết định đãi cả nhà một bữa thật ngon. Nàng lấy số bột ngô ngọt mà mình cẩn thận nghiền mịn từ mấy bắp giống dại trước đó, hòa với một chút nước ấm, nêm vào một nhúm muối khoáng thanh khiết và một chút mỡ lợn rừng béo ngậy. Nàng còn ra mép rào hái một nắm lá hẹ rừng xanh mướt, thái nhỏ trộn đều vào âu bột vàng ươm.
Chiếc chảo sắt bắc lên bếp lửa than hồng rực rỡ, thoa một lớp mỡ mỏng láng bóng đáy chảo. Nhược Lam dùng muôi múc từng muôi bột ngô đổ vào chảo.
“Xèo——!”
Tiếng mỡ reo vui tai vang lên giòn giã, ngay lập tức, một mùi thơm ngào ngạt, béo ngậy của mỡ lợn quyện với vị ngọt thanh thuần khiết của ngô non và mùi thơm the mát của hẹ rừng bốc lên nghi ngút, lan tỏa khắp gian bếp nhỏ, bay qua cả khe liếp bay ra tận ngoài ngõ.
Bánh ngô được áp chảo vàng ruộm hai mặt, lớp vỏ ngoài giòn rụm lóng lánh, bên trong lại mềm xốp, ngọt lịm tan ngay nơi đầu lưỡi.
Bảo Nha vừa thổi vừa ăn, hai má phúng phính phồng lên như chú sóc con gặm hạt dẻ, tấm tắc khen:
“Ngon quá tỷ tỷ ơi! Đời thuở nhà ai bánh ngô lại ngọt và thơm ngậy đến bực này! Bánh của tỷ tỷ làm ngon hơn cả bánh hoa quế của tiệm bánh trên huyện thành nữa!”
Tam Thúc và Lý thị cũng vừa ăn vừa gật gù mãn nguyện, nụ cười rạng rỡ xua tan đi bao nhọc nhằn, cay đắng của những năm tháng cơ hàn.
Ăn xong phần mình, Nhược Lam cẩn thận xếp sáu chiếc bánh ngô non áp chảo vàng ruộm, nóng hổi vào một chiếc hộp tre nhỏ lót lá chuối tươi, đậy nắp kín lại.
“Con mang sang cho Tiêu đại ca một ít. Hôm nay nếu không có huynh ấy xẻ núi đục tre, công trình dẫn nước của chúng ta không thể nào xong xuôi được.” Nhược Lam nói với Tam Thúc.
“Phải đấy, phải đấy! Con mau mang sang đi, Tiêu săn hộ là người tốt hiếm có, lại sống thui thủi một mình nơi bìa rừng, chắc giờ này cũng chưa có cơm nước gì đâu!” Tam Thúc vội vàng giục giã.
Trời đêm thôn dã trong vắt, vầng trăng khuyết treo lơ lửng trên rặng tre già rọi ánh sáng bàng bạc xuống lối đi mòn quen thuộc dẫn về phía chân núi Lạc Nhạn. Tiếng côn trùng rả rích hòa cùng tiếng gió rừng xào xạc tạo nên một khúc nhạc đồng quê êm ả.
Nhược Lam ôm hộp bánh ấm nóng trong lòng, bước chân thoăn thoắt tiến về phía căn nhà gỗ nhỏ biệt lập của Tiêu Lập.
Căn nhà gỗ nằm nép mình dưới tán cây cổ thụ sum suê, xung quanh rào bằng những cọc gỗ thông chắc chắn. Bình thường căn nhà luôn đóng kín cửa im ỉm, nhưng tối nay, cánh cửa gỗ dày lại khép hờ, để lộ một khe sáng le lói từ ngọn đèn dầu bên trong hắt ra ngoài sân.
“Tiêu đại ca? Huynh có nhà không?”
Nhược Lam bước tới trước hiên, cất tiếng gọi khẽ.
Bên trong không có tiếng trả lời, chỉ có một tiếng th* d*c trầm đục và tiếng vải vóc ma sát sột soạt rất khẽ truyền ra.
Nhược Lam hơi ngạc nhiên, ngỡ rằng chàng thợ săn ngủ quên hoặc xảy ra chuyện gì, nàng liền đưa tay nhẹ nhàng đẩy cánh cửa gỗ khép hờ bước vào:
“Tiêu đại ca, ta mang bánh ngô…”
Lời nói của nàng bỗng nghẹn ứ lại nơi cổ họng, đôi mắt hạnh mở to trừng trừng nhìn cảnh tượng đang diễn ra trước mắt.
Bên trong gian phòng gỗ đơn sơ, ngọn đèn dầu hạt lạc đặt trên chiếc bàn gỗ thô tỏa ra ánh sáng vàng vọt lờ mờ. Tiêu Lập đang ngồi quay lưng về phía cửa, nửa thân trên của chàng c** tr*n hoàn toàn.
Dưới ánh đèn dầu chập chờn, tấm lưng rộng lớn, săn chắc như chạm khắc bằng đồng hun của chàng đập thẳng vào mắt Nhược Lam. Nhưng điều khiến nàng chết lặng không phải là thân hình cường tráng ấy, mà là những vết thương chằng chịt phủ kín lưng chàng! Đó là những vết sẹo dài ngoằng do đao kiếm chém sâu vào da thịt, những vết sẹo tròn lõm do tên bắn đã lành miệng từ lâu nhưng vẫn hằn lên dữ tợn, tựa như dấu ấn của hàng trăm trận huyết chiến sinh tử nơi sa trường đẫm máu!
Và ngay lúc này, trên bả vai trái vạm vỡ của chàng, một vết chém mới toanh dài chừng bốn tấc đang rách toạc miệng, máu tươi đỏ thẫm ứa ra ròng ròng, nhuộm đỏ cả một dải vải trắng quấn quanh người.
Tiêu Lập đang cắn chặt một chiếc khăn vải thô trong miệng, trán chàng lấm tấm những giọt mồ hôi to bằng hạt đỗ vì đau đớn, nhưng toàn thân chàng vẫn ngồi thẳng tắp như một ngọn thương cắm sâu vào lòng đất.
Trong tay chàng lúc này đang cầm một cây kim thép cong đã được hơ qua lửa ngọn đèn dầu, xỏ một sợi chỉ gân thú mảnh dẻo. Bằng những động tác thuần thục, chuẩn xác đến lạnh lùng, chàng đang tự mình đâm kim xuyên qua từng thớ thịt rách toạc trên bả vai, tự khâu kín vết thương của chính mình mà không hề phát ra một tiếng r*n r*!
Nghe thấy tiếng đẩy cửa, thân hình Tiêu Lập khẽ cứng đờ. Với phản xạ nhạy bén tột cùng của một chiến tướng sa trường, bàn tay còn lại của chàng theo bản năng giật phắt lấy thanh chủy thủ sắc lạnh trên bàn, ánh mắt đại bàng lóe lên sát khí lạnh thấu xương quay phắt lại!
Nhưng khi nhìn thấy người đứng ở ngưỡng cửa là Nhược Lam với chiếc hộp tre ôm chặt trước ngực, sát khí ngút trời trong mắt chàng lập tức tan biến sạch sẽ, thay vào đó là một thoáng kinh ngạc và bối rối tột cùng.
Chàng vội buông rơi chiếc khăn ngậm trong miệng, nhanh chóng với lấy chiếc áo cộc tay vắt bên cạnh toan che vết thương lại, giọng khàn đặc vì đau đớn:
“Nhược Lam… Sao nàng lại tới đây? Đừng nhìn… bẩn mắt nàng…”
“Huynh đừng nhúc nhích!”
Nhược Lam hoàn hồn sau cơn chấn động ban đầu. Nhìn vết thương máu me đầm đìa và đường kim khâu vụng về dang dở trên vai chàng, trái tim nàng thắt lại đau nhói. Nàng đặt phịch chiếc hộp bánh lên bàn, bước nhanh tới giữ chặt lấy cánh tay đang toan với áo của chàng, giọng nói vừa giận vừa xót xa:
“Huynh điên rồi sao? Tự khâu thịt mình như khâu bao tải thế này à? Có biết làm thế này rất dễ bị nhiễm trùng, hoại tử phát sốt mà chết không hả?”
Tiêu Lập ngẩn người nhìn đôi mắt ngân ngấn nước nhưng bừng bừng lửa giận của nàng, cánh tay rắn chắc của chàng bỗng buông thõng xuống, ngoan ngoãn ngồi im không dám cựa quậy, lí nhí đáp:
“Vết thương nhỏ thôi… Ta quen rồi…”
“Vết chém sâu thấy cả mỡ thịt thế này mà bảo là nhỏ?”
Nhược Lam trừng mắt nhìn chàng, hít sâu một hơi để lấy lại bình tĩnh của một người làm khoa học. Nàng cầm lấy cây kim khâu và sợi chỉ gân từ tay chàng, nhúng vào chén rượu mạnh đặt trên bàn để khử trùng:
“Ngồi yên đó! Cắn chặt khăn lại, ta khâu cho huynh!”
Nàng từng trải qua những năm tháng thực hành giải phẫu và sơ cứu nơi phòng thí nghiệm nông nghiệp dã ngoại, những thao tác khâu vá vết thương này đối với nàng không hề xa lạ. Nhẹ nhàng lau sạch vệt máu quanh miệng vết thương, từng đường kim mũi chỉ của Nhược Lam luồn qua da thịt chàng một cách chuẩn xác, tỉ mỉ và nhanh gọn vô cùng, mép da được khép lại ngay ngắn tăm tắp.
Suốt quá trình ấy, Tiêu Lập không hề rên lên một tiếng, nhưng hơi thở nóng rực của chàng phả lên từng lọn tóc mai buông xõa của nàng, ánh mắt chàng dán chặt vào gương mặt thanh tú, tập trung cao độ của thiếu nữ trước mặt, ngực chàng phập phồng những đợt sóng cuộn trào mãnh liệt.
“Xong rồi. Bột thuốc cầm máu của huynh đâu?” Nhược Lam cắt mối chỉ, khẽ thở phào một tiếng.
Tiêu Lập đưa tay chỉ vào một chiếc lọ sứ nhỏ màu đen tuyền tinh xảo đặt khuất sau chiếc giá nỏ bên góc bàn:
“Ở đó.”
Nhược Lam bước tới cầm chiếc lọ sứ lên. Nàng vừa mở nút bấc ra, một luồng hương thơm kỳ lạ, thanh mát nồng nàn lập tức xộc thẳng vào cánh mũi nàng.
Đó không phải là mùi hăng nồng của các loại lá cây rừng giã nát thô sơ mà thợ săn vùng này hay dùng. Mùi hương này phảng phất vị đắng thanh của huyết kiệt thượng hạng, vị the mát của long não tuyết sơn, quyện lẫn với mùi thơm đặc trưng của xạ hương cung đình và tam thất ngàn năm!
Nhược Lam sững người, ngón tay run lên khe khẽ.
Là một người am hiểu sâu sắc về dược liệu và thực vật học, nàng lập tức nhận ra đây là thứ gì!
Hắc Ngọc Kim Sang Dược! Thứ thuốc trị ngoại thương trân quý nhất thiên hạ, được phối chế theo bí phương tuyệt mật của Thái Y Viện, mỗi năm chỉ luyện ra được vài mươi lọ nhỏ để chuyên dùng cho các bậc thống soái, chiến tướng nắm giữ đại quân nơi biên ải sinh tử! Một nhúm bột thuốc này ở chợ đen có giá không dưới trăm lượng hoàng kim, người thường dù có tiền cũng tuyệt đối không thể nào mua nổi!
Một thợ săn thô ráp nơi xóm núi nghèo Lạc Diệp… làm sao có thể sở hữu thứ thần dược quân doanh bí mật này?
Và vết chém sắc lẹm trên vai chàng… rõ ràng là vết chém của một thanh hoành đao quân đội sắc bén, chứ tuyệt đối không phải móng vuốt của gấu rừng hay lợn lòi!
Nhược Lam từ từ siết chặt chiếc lọ sứ trong lòng bàn tay, ngẩng đầu lên, ánh mắt phức tạp nhìn thẳng vào người đàn ông đang ngồi trước mặt.
Không gian trong gian nhà gỗ nhỏ bên bìa rừng dường như ngưng đọng lại trong từng hơi thở. Mùi thơm thanh mát, the đắng pha lẫn nét quý phái của xạ hương và long não tuyết sơn từ chiếc lọ sứ đen tuyền vẫn lượn lờ nơi cánh mũi Khương Nhược Lam, đối nghịch hoàn toàn với mùi máu tanh nồng và vách nứa đơn sơ bốn bề gió lộng.
Tiêu Lập ngồi bất động trên chiếc ghế đẩu mộc mạc. Bàn tay to lớn, thô ráp đầy những vết chai sạn vì cầm cung cầm rìu của chàng khẽ siết chặt lấy mép bàn, khớp xương ngón tay trắng bệch. Đôi mắt đại bàng sắc bén từng khiến muôn vàn kẻ thù nơi chiến trận phải khiếp vía giờ đây lại dâng lên những đợt sóng cuộn trào bối rối, căng thẳng dõi theo từng cử chỉ của thiếu nữ trước mặt. Chàng nín thở, lồng ngực rắn rỏi phập phồng, chờ đợi một tràng chất vấn dồn dập, hay ít nhất là một ánh nhìn kinh hãi, xa lánh từ nàng.
Bởi lẽ, một kẻ mang trên mình vết thương của binh khí sa trường, lại tùy thân mang theo ngự dược của hoàng gia, tuyệt đối không thể nào là một gã thợ săn tầm thường nơi thôn dã.
Thế nhưng, Khương Nhược Lam chỉ lặng im nhìn chàng trong ba nhịp thở. Nàng nhìn vào đáy mắt sâu thẳm ẩn chứa vẻ cô độc lẫn nỗi cảnh giác tột cùng của người đàn ông, rồi bỗng nhiên khẽ thở dài một hơi thật nhẹ.
Là một người từng sống trọn vẹn một đời ở thời hiện đại, trải qua bao thăng trầm để đạt đến học vị tiến sĩ nông học, lại vừa nếm trải cảm giác bị gia tộc ruột thịt phản bội, trục xuất khỏi kinh thành như vứt bỏ một chiếc giày rách, Nhược Lam hiểu rất rõ một đạo lý: Trên đời này, ai cũng có những vết thương không muốn người khác chạm vào, và ai cũng có những bí mật buộc phải chôn sâu dưới đáy lòng để bảo toàn mạng sống.
Chàng không hỏi về xuất thân bị phế truất nhục nhã của nàng, chàng chưa từng dò xét vì sao một thiên kim tiểu thư tay yếu chân mềm lại biết cải tạo đất chua, biết phân biệt từng loại thảo mộc nơi rừng sâu. Vậy thì, nàng cớ sao phải dồn ép chàng vào bước đường cùng?
Ngón tay Nhược Lam khẽ nghiêng miệng lọ sứ, cẩn thận rắc từng nhúm bột Hắc Ngọc Kim Sang Dược mịn màng lên đường chỉ vừa khâu thẳng tắp. Bột thuốc chạm vào miệng vết thương lập tức tan ra, máu tươi đang rỉ rả liền ngưng bặt, để lại một lớp màng mỏng mát rượi.
Nàng lấy dải vải xô sạch sẽ đã ngâm nước sôi phơi khô từ trong tay áo ra, thuần thục vòng qua nách và bả vai chàng, băng bó lại một cách gọn gàng, ngay ngắn. Vừa thắt nút dải băng, Nhược Lam vừa cất giọng đều đều, thanh thoát như tiếng suối reo:
“Vết khâu này trong vòng bảy ngày tới tuyệt đối không được dính nước lã. Mỗi ngày thay thuốc một lần, chớ có cậy mạnh mà vác nặng hay giương cung lớn, kẻo toác miệng vết thương thì có mười lọ thần dược này cũng chẳng cứu nổi cái vai của huynh đâu.”
Tiêu Lập ngẩn người, ánh mắt ngơ ngác nhìn nàng:
“Nàng… nàng không hỏi gì sao?”
Nhược Lam ngước mắt lên, khóe môi khẽ cong thành một nụ cười rạng rỡ, trong veo như nắng sớm rọi qua kẽ lá:
“Hỏi cái gì cơ? Hỏi xem huynh là ai à? Đối với ta, huynh là Tiêu Lập, là người hàng xóm ở bìa rừng đã chia cho ta nửa tảng sườn lợn rừng cứu đói, là người đã giương cung bắn rụng búi tóc của đám người Chu Trực, và là người đã vác tre bương dựng hàng rào, cùng ta đào mương dẫn nước cứu cả đồi ngô. Thế là quá đủ rồi. Những chuyện khác, nếu có một ngày huynh muốn nói, ta sẽ rửa tai lắng nghe; còn nếu huynh không muốn nói, Khương Nhược Lam ta tuyệt đối không phải kẻ rỗi hơi đi bới lông tìm vết.”
Nói đoạn, nàng đưa tay với lấy chiếc hộp tre trên bàn, đẩy về phía chàng:
“Bánh ngô non chiên mỡ hành ta vừa làm xong, vẫn còn ấm đấy. Huynh mất nhiều máu, ăn chút tinh bột và chất béo cho lại sức. Ta phải về chăm đám trùn quế đây, nhớ kỹ lời dặn của ta, không được làm việc nặng!”
Dứt lời, chẳng để Tiêu Lập kịp phản ứng, bóng dáng mảnh mai trong bộ áo vải thô gọn gàng của nàng đã thoăn thoắt bước qua bậc cửa, hòa vào ánh hoàng hôn đỏ rực đang buông xuống triền núi Lạc Nhạn.
Tiêu Lập ngồi chết lặng hồi lâu. Chàng cúi đầu nhìn dải băng trắng tinh tươm được quấn cẩn thận trên vai mình, rồi lại nhìn chiếc hộp tre tỏa ra mùi ngô ngọt ngào quyện lẫn hành hoa thơm nức mũi. Chàng đưa bàn tay thô ráp khẽ chạm vào vết thương đã không còn đau nhức, trong lồng ngực bỗng dâng lên một luồng hơi ấm mãnh liệt chưa từng có suốt hai mươi sáu năm qua.
Chiến trường đẫm máu, triều đình gian trá, những mưu mô ám hại và sự phản trắc của lòng người từng khiến trái tim chàng hóa thành tảng băng vĩnh cửu. Vậy mà hôm nay, tảng băng ấy lại bị nụ cười trong trẻo và sự thấu hiểu bao dung của một cô gái thôn dã làm cho tan chảy từng chút một.
Chàng khẽ nhếch môi, lẩm bẩm một câu trầm ấm giữa căn nhà vắng:
“Khương Nhược Lam… trên đời này, sao lại có người kỳ lạ như nàng chứ?”
*
Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, thấm thoắt xuân tàn hạ tới.
Bước sang tháng tư, cái nắng đầu mùa bắt đầu trút xuống mảnh đất Vân Khê những đợt oi nồng hầm hập. Gió nam thổi rát mặt, cuốn theo từng làn bụi khô khốc từ những con đường đất đỏ. Dưới chân thôn Lạc Diệp, dòng sông Ngân Khê cạn dần trơ cả những bãi sỏi trắng phơi mình dưới nắng gắt. Đám ruộng bậc thang của dân làng bắt đầu nứt nẻ chân chim, những cây ngô bản địa thấp lè tè còi cọc, lá vàng hoe úa rũ rượi vì thiếu nước và bị lũ sâu keo cắn phá xơ xác.
Thế nhưng, nếu ai bước chân lên sườn đồi phía Tây – mảnh đất sỏi đá bạc màu hoang phế năm xưa mà nha đầu Khương Nhược Lam đứng tên khai khẩn – hẳn sẽ phải dụi mắt ngỡ ngàng, tưởng chừng như mình vừa lạc bước vào một cõi đào nguyên hoàn toàn tách biệt với nhân gian.
Hệ thống thủy lợi máng tre tự chảy của Nhược Lam và Tiêu Lập đã phát huy uy lực thần kỳ đến mức khó tin! Nước suối ngầm mát lạnh từ khe đá đại ngàn Lạc Nhạn theo từng ống tre bương đục thông khớp róc rách chảy về ngày đêm không dứt. Nước chia thành từng nhánh nhỏ len lỏi vào các rãnh đất đã được đắp bờ giữ ẩm, tưới tắm cho từng gốc cây bằng phương pháp tưới nhỏ giọt thấm dần vào lòng đất.
Nhờ có nguồn nước dồi dào, lại được nuôi dưỡng bởi lớp phân hữu cơ vi sinh ủ mục giàu đạm và tầng đất chua đã được khử sạch phèn bằng vôi tôi cùng tro trấu, năm mẫu ngô ngọt lai tạo của Nhược Lam lớn nhanh như thổi!
Chỉ sau hơn hai tháng, những mầm non tí hon ngày nào giờ đây đã vươn mình thành một rừng cây cao quá đầu người lớn, xanh mướt một màu ngọc bích mỡ màng. Cây nào cây nấy thân to mập mạp bằng cổ tay trẻ nhỏ, lá ngô bản rộng dày dặn, tỏa ra rì rào trong gió sớm như những lưỡi kiếm sắc bén che chở cho mặt đất.
Bên dưới gốc ngô, những luống đậu tương xen canh cũng đã kết thành một thảm xanh mượt mà, vừa phủ kín bề mặt ngăn không cho hơi nước bốc hơi dưới nắng hè gay gắt, vừa âm thầm dùng các nốt sần vi khuẩn cố định đạm từ không khí để bồi bổ dinh dưỡng ngược lại cho rễ ngô. Một mô hình kinh tế tuần hoàn cộng sinh hoàn hảo của nền nông học thế kỷ 21 đang hiện hữu sống động giữa chốn cổ đại cằn cỗi!
Và rồi, điều kỳ diệu nhất của mùa vụ cũng đã đến: đồi ngô bước vào giai đoạn trổ cờ và phun râu!
Trên đỉnh mỗi ngọn ngô, những bông hoa đực – dân dã gọi là “cờ ngô” – đồng loạt vươn cao, bung xòe thành từng chùm tua tủa mang theo hàng triệu hạt phấn hoa vàng ươm li ti. Dưới nách lá, những bắp non bụ bẫm nhú ra, để lộ những chùm râu ngô dài mượt mà như suối tóc của thiếu nữ, mang sắc trắng phớt hồng e ấp, tỏa ra một mùi hương ngai ngái, thanh tân và ngọt dịu đặc trưng của chốn đồng nội.
Sáng sớm tinh mơ, khi màn sương bạc bảng lảng còn ôm ấp lấy sườn núi Lạc Nhạn và những giọt sương mai long lanh như hạt ngọc còn đọng trên đầu ngọn cỏ, Khương Nhược Lam đã xắn cao tay áo, chân đi đôi giày vải gai chắc chắn, đầu đội chiếc nón lá nhỏ bước thoăn thoắt lên đồi.
Đi theo sau nàng là Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu đang vác chiếc sọt tre, và bé Bảo Nha lon ton chạy nhảy, hai bím tóc đuôi sam lúc lắc trên vai, bàn tay nhỏ xíu cầm chiếc chổi lông gà sạch sẽ mà mặt mày tràn đầy vẻ tò mò phấn khích.
“Lam tỷ tỷ! Hôm nay chúng ta lên đồi bắt sâu nữa ạ?” Bảo Nha ngước đôi mắt tròn xoe, đen láy lên hỏi, giọng nói giòn tan như chim hót.
Nhược Lam quay lại, khẽ đưa tay quẹt nhẹ lên chóp mũi phúng phính của cô bé, bật cười:
“Hôm nay không bắt sâu. Hôm nay tỷ dẫn muội và Tam Thúc đi làm một việc trọng đại nhất đời của cây ngô: đi làm mai mối!”
“Làm mai mối?”
Khương Vĩnh Cửu đang đi phía sau suýt chút nữa vấp phải hòn đá, trố mắt nhìn đứa cháu gái:
“Lam nha đầu, con lại nói đùa rồi! Người ta chỉ làm mai mối cho trai thanh gái tú trong làng, chứ cây cỏ vô tri mọc ngoài đất thì mai mối cho ai? Xưa nay trồng lúa trồng ngô, cứ gieo hạt xuống đất rồi phó mặc cho ông trời, trời cho mưa thì tốt, trời cho gió thì hạt tự bay, chứ ai đời lại đi nhúng tay vào chuyện của trời đất bao giờ!”
Nhược Lam dừng chân bên đầu luống ngô thứ nhất, đón lấy ngọn gió sớm mát lành đang thổi lồng lộng từ thung lũng lên. Nàng kéo nhẹ một ngọn ngô xuống, chỉ tay vào chùm cờ ngô vươn cao trên đỉnh đầu rồi lại chỉ xuống chùm râu ngô mượt mà e ấp dưới nách lá, kiên nhẫn giảng giải bằng chất giọng mộc mạc, dễ hiểu nhất:
“Tam Thúc nhìn xem, cái cờ ngô trên ngọn này chính là nhị đực – là ‘chàng rể’; còn cái chùm râu ngô mọc thò ra ở nách lá này chính là nhụy cái – là ‘nàng dâu’. Mỗi một sợi râu ngô nối thẳng vào một noãn bào bên trong bắp non, tương lai sẽ phát triển thành một hạt ngô. Nếu sợi râu đó đón được hạt phấn hoa từ cờ ngô rơi xuống, nó mới thụ tinh và kết thành hạt mẩy tròn, căng bóng.”
Nhược Lam ngắt một bông hoa đực nhỏ, khẽ búng nhẹ vào lòng bàn tay. Từng hạt phấn hoa màu vàng nhạt li ti như bụi phấn rơi xuống mịn màng:
“Đúng là bình thường gió trời sẽ thổi phấn hoa bay lung tung. Nhưng gió thì khi mạnh khi yếu, khi thổi sang đông lúc dạt về tây. Có những sợi râu ngô nằm khuất gió, không dính được hạt phấn nào, kết quả là bắp ngô khi thu hoạch sẽ bị khuyết hạt, hạt thưa hạt sún, chỗ có chỗ không, nhìn như hàm răng sứt mẻ! Chưa kể, nếu để cây tự thụ phấn cho chính mình, đời con sau này sẽ bị thoái hóa, bắp nhỏ tí teo, ăn chẳng bõ dính răng. Cho nên, chúng ta phải ra tay giúp sức, làm ‘bà mối’ se duyên chéo giữa các cây khỏe mạnh nhất với nhau!”
Khương Vĩnh Cửu đứng ngây người ra nghe. Người nông dân chất phác cả đời bán mặt cho đất bán lưng cho trời, chỉ biết cắm cúi cuốc xới theo thói quen truyền đời, lần đầu tiên trong đời được nghe một đạo lý trồng trọt tinh diệu và rành mạch đến nhường này! Ông nhìn những sợi râu ngô mềm mại, bỗng cảm thấy như chúng thực sự là những sinh linh nhỏ bé đang khao khát được đơm hoa kết trái.
“Trời đất ơi… Hóa ra cái râu ngô này không phải mọc ra cho vui mắt mà là để ngậm hạt phấn sao?” Tam Thúc lẩm bẩm, mắt sáng rực lên sự thán phục: “Thảo nào mấy vụ ngô trước của làng ta, bẻ bắp ra toàn thấy đầu bắp trơ cùi, hạt lép xẹp! Lam nha đầu, con đúng là thần thông quảng đại, kiến thức này con học từ sách thánh hiền nào thế?”
“Sách cổ dạy về nông học đấy ạ, con chỉ áp dụng thực tế thôi.” Nhược Lam cười xòa lấp l**m nguồn gốc hiện đại của mình, rồi nhanh chóng bắt tay vào hành động: “Nào, thời điểm thụ phấn tốt nhất là từ giờ thìn đến giờ tỵ, khi sương sớm vừa tan ráo bớt mà nắng trưa chưa gắt làm khô quắt hạt phấn. Tam Thúc, người cầm chiếc nón mê này đi dọc hàng bên kia, chọn những cây ngô cao to, thân mập nhất, khẽ rung cờ ngô để phấn hoa rơi đầy vào nón. Sau đó mang chiếc chổi lông gà này, chấm nhẹ vào bột phấn rồi quét đều lên từng chùm râu ngô ở hàng bên cạnh. Nhớ là phải quét thật nhẹ tay, như dỗ dành em bé vậy!”
“Được được! Để thúc làm thử!” Tam Thúc hăng hái xắn tay áo, cẩn thận nâng niu chiếc nón mê như bưng một báu vật.
Bảo Nha đứng bên cạnh sốt ruột giật giật vạt áo nàng:
“Lam tỷ tỷ, còn muội thì sao? Muội làm gì giúp tỷ được?”
“Bảo Nha của chúng ta có nhiệm vụ vô cùng quan trọng!” Nhược Lam cười tít mắt, cúi xuống vỗ về cô bé: “Muội cầm chiếc giỏ tre này, đi theo sau tỷ. Cây nào có hai ba bắp non cùng nhú ra, chúng ta chỉ giữ lại một bắp to khỏe nhất ở tầng trên cùng thôi, còn bắp non bé tí ở phía dưới gọi là ‘ngô bao tử’, muội giúp tỷ bẻ hết gom vào giỏ. Để cây tập trung toàn bộ nhựa sống nuôi duy nhất một bắp đại vương, hiểu chưa nào?”
“Dạ hiểu rồi ạ!” Bảo Nha nhảy cẫng lên, hai bàn tay nhỏ thoăn thoắt bắt tay vào việc.
Cứ như thế, trên sườn đồi xanh ngắt lộng gió, ba bóng người nhịp nhàng qua lại giữa những luống ngô bạt ngàn. Nhược Lam kiên nhẫn cầm tay chỉ việc cho Tam Thúc, uốn nắn từng động tác rung phấn sao cho chuẩn xác, không làm gãy cờ ngô, không làm dập nát râu hoa. Nàng như một người nhạc trưởng tài hoa, đang điều khiển khúc giao hưởng êm dịu của tự nhiên, biến kỹ thuật nông học khô khan thành một vũ điệu lao động đầy say mê và chất chứa hy vọng.
Gió sớm thổi qua đồi, cuốn theo hàng vạn hạt phấn hoa vàng óng bay lơ lửng trong không trung, lấp lánh dưới những tia nắng đầu tiên của ngày mới tựa như một cơn mưa bụi vàng kim rải xuống nhân gian. Mùi đất ẩm nồng nàn sau đêm dài quyện với hương ngô non ngọt lịm tạo nên một bầu không khí trong lành, sảng khoái đến tận tâm can.
“Á… hắt xì!”
Bảo Nha bỗng hắt xì một tiếng thật to, khiến phấn ngô bám đầy trên đôi má bánh bao và chóp mũi nhỏ xíu biến thành một vệt vàng khè ngộ nghĩnh. Cô bé ngơ ngác chớp chớp mắt nhìn Nhược Lam, khiến nàng và Tam Thúc không nhịn được mà bật cười giòn tan. Tiếng cười trong trẻo xua tan đi mọi mệt nhọc của buổi sớm mai, vang vọng khắp triền núi Lạc Nhạn.
Từ một mỏm đá cao nhô ra bên bìa rừng thông đỏ, một bóng người cao lớn sừng sững trong bộ y phục thợ săn thô sẫm màu đã đứng đó tự bao giờ. Tiêu Lập tựa lưng vào thân cây thông, một tay chàng cầm con dao găm sắc bén đang gọt dở mũi tên gỗ, nhưng ánh mắt đại bàng sắc lạnh thường ngày lúc này lại dịu dàng đến mức có thể vắt ra nước.
Chàng lặng lẽ dõi theo bóng dáng mảnh mai thoăn thoắt của Nhược Lam giữa biển ngô xanh biếc. Nhìn nụ cười rạng rỡ như ánh mặt trời của nàng, nghe tiếng cười giòn giã của nàng hòa cùng tiếng gió, khóe môi cương nghị của Tiêu Lập khẽ cong lên một nụ cười ấm áp. Bả vai bị chém hôm nào nay đã lành lặn gần như hoàn toàn dưới bàn tay chăm sóc kỳ diệu của nàng.
Chàng khẽ siết chặt cán dao găm, trong lòng thầm nhủ: Dù là ai, dù mang dã tâm gì, nếu dám phá vỡ nụ cười thanh bình này của nàng, Tiêu Lập chàng thề sẽ khiến kẻ đó phải trả giá bằng cả tính mạng!
*
Trái ngược hoàn toàn với bầu không khí tràn trề sức sống trên đồi ngô của Nhược Lam, dưới thôn Lạc Diệp lúc này lại bao trùm một vẻ ảm đạm và bức bối.
Nắng hạn kéo dài gần một tháng trời khiến giếng làng cạn trơ đáy bùn, đất đai nứt toác. Ruộng ngô của các hộ gia đình trong thôn cháy sém từng vạt. Cây ngô nào sống sót được thì còi cọc như que củi, bắp ngô trổ ra bé bằng ngón tay cái, lại bị lũ sâu đục thân khoét rỗng từ bên trong, phân sâu đùn ra đen ngòm ở các kẽ lá.
Mấy người đàn bà rỗi việc trong thôn, cầm đầu là thím Trương họ Chu – kẻ từng hùa theo Chu Trực chửi rủa Nhược Lam là “đồ sao chổi bị đuổi khỏi kinh thành” – đang ngồi túm tụm dưới bóng cây đa đầu làng phe phẩy chiếc quạt nan, mồm mép chua ngoa bàn tán:
“Này, các bà có thấy dạo này con nha đầu Khương Nhược Lam suốt ngày dắt con bé Bảo Nha lên đồi sỏi đá làm cái trò điên khùng gì không?”
“Thấy chứ sao không!” Một mụ béo khác bĩu môi khinh khỉnh, nhổ toẹt bãi nước trầu xuống đất: “Hôm nọ ta đi hái củi đi ngang qua, thấy nó cầm nón đi hứng bụi hoa trên ngọn ngô rồi quét quét chùi chùi vào râu ngô! Đúng là rỗi hơi sinh nông nổi! Đích nữ Thượng thư phủ cái nỗi gì, chắc bị đuổi đi rồi phát điên phát rồ! Cây cối lớn lên nhờ trời, ai đời lại đi chải chuốt làm duyên cho từng cái bẹ lá!”
“Chứ còn gì nữa! Đồi sỏi đá cằn cỗi ấy mà trồng được ngô thì gà mái nhà ta cũng biết gáy!” Thím Trương cười the thé: “Ruộng tốt dưới chân núi của nhà ta tưới tắm liên tục mà còn héo rũ, sâu bọ ăn sạch trơn đây này. Chờ xem, qua đợt nắng hạn này, năm mẫu đất của nó không chết khô cháy rụi thành tro mới là chuyện lạ! Đến lúc đấy xem nó lấy gì mà bỏ vào mồm, có mà đi xin ăn từng bữa!”
“Ấy… nhưng mà thím Trương này…” Một người phụ nữ trẻ rụt rè lên tiếng, chỉ tay về phía sườn đồi phía Tây: “Hôm qua ta đi ngang qua con mương dẫn nước của nó, nhìn lên đồi… thấy xanh mướt một màu đấy chứ. Cây nào cây nấy cao lút đầu người, bắp to trĩu cành…”“Bậy nào! Mắt cô bị quáng gà à?” Thím Trương sầm mặt cắt ngang, giọng đầy vẻ ghen ăn tức ở: “Chắc chắn là nó tưới nước suối cầm cự thôi, nhìn bề ngoài tốt lá thế chứ bên trong bắp toàn cùi rỗng hạt lép cho mà xem! Đích nữ bỏ đi, làm sao biết nghề nông bằng nông dân chân lấm tay bùn chúng ta được!”
Thế nhưng, sự đố kỵ và tò mò rốt cuộc vẫn chiến thắng sĩ diện. Chiều hôm ấy, khi mặt trời lặn sau đỉnh núi, thím Trương cùng hai gã đàn ông họ Chu lén lút lần mò men theo con đường mòn dẫn lên đồi ngô nhà Nhược Lam, toan nhòm ngó xem thực hư thế nào, thậm chí còn nhen nhóm ý định nếu có bắp non thì bẻ trộm vài gùi về luộc ăn đỡ đói.
Thế nhưng, khi vừa mò đến chân hàng rào tre gai rậm rạp, bước chân của ba kẻ rình mò bỗng khựng lại, toàn thân cứng đờ như hóa đá.
Đập vào mắt họ không phải là một mảnh đồi cằn cỗi chết khô như họ tưởng tượng, mà là một biển ngô xanh ngút ngàn, trập trùng vươn mình trong gió chiều mát rượi! Từng hàng ngô thẳng tắp như đội quân danh dự, thân cây mập mạp, khỏe khoắn lạ thường. Nhưng kinh hoàng nhất là ở mỗi nách lá, những bắp ngô dài ngoằng, to bằng bắp tay người lớn, bẹ ngô xanh mướt căng tròn như muốn nứt toác ra vì những hạt ngô bên trong đang cuồn cuộn lớn lên từng ngày!
Mùi hương sữa ngô non ngọt ngào, thơm ngậy phảng phất trong làn gió thoảng khiến bụng của đám người thím Trương sôi lên sùng sục vì thèm thuồng.
“Trời… trời đất quỷ thần ơi…” Thím Trương há hốc mồm, chiếc quạt nan trên tay rơi bịch xuống đất lúc nào không hay: “Sao… sao ngô của nó lại to dữ dằn thế này? Đây… đây là giống ngô tiên hay sao?”
Một tên đàn ông họ Chu nuốt nước bọt ừng ực, đôi mắt lóe lên vẻ tham lam, thò tay qua khe rào toan bẻ trộm một bắp ngô gần nhất:
“Mẹ kiếp, nhiều thế này bẻ tạm vài bắp nó cũng chẳng biết…”
“Vút!”
Một tiếng xé gió sắc lẹm vang lên trong tích tắc!
“Phập!”
Một mũi tên gỗ bịt sắt lạnh toát cắm phập vào gốc cây dại ngay sát mép ngón tay tên đàn ông họ Chu, chỉ cách da thịt gã chưa đầy nửa tấc! Thân tên rung bần bật, phát ra tiếng vo vo rợn người!
Ba kẻ rình mò hồn vía lên mây, giật nảy mình ngã ngồi bệt xuống đất. Chúng kinh hoàng ngước nhìn lên tảng đá lớn bên bìa rừng. Trên tảng đá, Tiêu Lập đứng sừng sững ngược chiều ánh hoàng hôn, chiếc cung săn lớn trên tay chàng vẫn còn giữ nguyên tư thế giương bắn, ánh mắt chim ưng sắc lẹm, lạnh thấu xương đang nhìn xoáy thẳng vào tim gan chúng.
“Cút.”
Một từ duy nhất thốt ra từ miệng Tiêu Lập, trầm thấp, lạnh lẽo như băng tuyết ngàn năm trên đỉnh Lạc Nhạn, nhưng mang theo uy áp sát khí ngút trời của một chiến tướng từng tắm mình trong biển máu!
“Mẹ ơi! Thợ săn giết người!”
Thím Trương thét lên một tiếng thất thanh, chẳng màng đến chiếc quạt nan rơi dưới đất, cùng hai gã đàn ông họ Chu cuống cuồng bò lê bò càng, cắm đầu cắm cổ tháo chạy thục mạng xuống chân đồi như bị quỷ đuổi, không dám quay đầu nhìn lại dù chỉ một lần!
Từ phía sau lùm cây, Nhược Lam chậm rãi bước ra, nhìn theo bóng đám người chạy trối chết mà không khỏi lắc đầu cười trừ. Nàng ngước nhìn lên tảng đá, bắt gặp ánh mắt Tiêu Lập đang nhìn xuống. Chàng khẽ thu cung lại, nhảy thoăn thoắt xuống đất, bước đến bên nàng, giọng nói đã thu lại toàn bộ sát khí, chỉ còn lại vẻ dịu dàng, trầm ấm:
“Nàng không sao chứ?”
“Ta có sao đâu, có huynh làm thần giữ của uy phong thế kia, kẻ nào dám bén mảng tới?” Nhược Lam trêu chọc, đôi mắt cong cong như vầng trăng khuyết: “Đa tạ Tiêu đại hiệp đã ra tay trừng trị phường trộm cắp!”
Tiêu Lập hơi mất tự nhiên, vành tai khẽ ửng đỏ dưới làn da ngăm đồng hun, chàng hắng giọng một tiếng:
“Thuận tay thôi. Đám người này… lòng tham không đáy, nàng phải cẩn thận.”
“Huynh yên tâm, rào gai ta trồng là tre gai rừng, lại có hệ thống bẫy chuông báo động của huynh, chúng không cạy cửa được đâu.” Nhược Lam cười, rồi đưa cho chàng một ống nứa mát lạnh: “Nếm thử đi, nước giải nhiệt ta vừa nấu chiều nay đấy.”
Tiêu Lập đón lấy ống nứa. Bên trong là một thứ nước màu vàng nhạt sóng sánh, trong vắt. Chàng khẽ nhấp một ngụm, một vị ngọt thanh mát lịm, thơm thoang thoảng mùi cỏ cây đồng nội lập tức lan tỏa khắp khoang miệng, xua tan đi toàn bộ cái nóng nực, bức bối của buổi chiều hè oi ả.
“Nước gì thế này? Ngọt và mát quá.”
“Nước râu ngô nấu với rễ cỏ tranh và một chút đường phèn đấy!” Nhược Lam tự hào giải thích: “Chính là chùm râu ngô sau khi hoàn thành nhiệm vụ thụ phấn, ta tỉa bớt gom lại phơi qua một nắng rồi đem nấu nước. Thứ này trong y học là vị thuốc cực quý, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, mát gan, hạ hỏa rất tốt. Mùa hè này uống một bát nước râu ngô thì bao nhiêu mệt nhọc tan biến hết!”
Tiêu Lập nhìn ống nứa trên tay, rồi lại nhìn thiếu nữ đang say sưa nói về từng công dụng của cỏ cây. Trong mắt chàng, nàng không chỉ là một nữ tử thông tuệ, mà còn là một kho tàng bí ẩn không bao giờ cạn, biến từng cọng rơm ngọn cỏ tưởng như vô dụng thành những thứ mỹ vị cứu nhân độ thế. Chàng nâng ống nứa lên, uống một hơi cạn sạch, đáy mắt ngập tràn ý cười:
“Rất ngon. Nàng nấu gì cũng ngon.”
Lời khen chân thành, mộc mạc của chàng khiến gò má Nhược Lam bỗng thoáng ửng hồng. Nàng vội quay đi, vờ nhìn ngắm những ngọn ngô đang đung đưa trong gió, nhưng trái tim nơi lồng ngực lại khẽ đập rộn ràng những nhịp đập ngọt ngào, xao xuyến.
*
Một tháng sau đó, nắng hè đạt đến đỉnh điểm rực rỡ nhất, cũng là lúc phép màu trên đồi Lạc Diệp bước vào giai đoạn thăng hoa rực rỡ!
Nhờ kỹ thuật thụ phấn chéo nhân tạo tỉ mỉ của Nhược Lam, toàn bộ năm mẫu ngô ngọt đã hoàn thành chu kỳ sinh trưởng một cách hoàn hảo đến mức kinh ngạc. Những chùm râu ngô ngoài đầu bắp dần chuyển từ màu trắng hồng sang màu nâu đỏ, rồi khô quắt lại thành màu cánh gián đậm đà. Lớp bẹ ngô xanh mướt bên ngoài bắt đầu ngả sang màu vàng rơm nhạt, vỏ mỏng dần và ôm khít lấy bắp ngô mập mạp bên trong.
Đồi ngô đã chính thức bước vào vụ thu hoạch!
Sáng hôm ấy, cả nhà Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu, Lý thị, bé Bảo Nha, cùng với Nhược Lam và Tiêu Lập tập trung đông đủ dưới chân đồi. Nhìn biển ngô bạt ngàn ngả màu vàng óng ả dưới ánh nắng ban mai, rực rỡ như một tấm thảm lụa khổng lồ dát vàng vắt ngang sườn núi Lạc Nhạn, ai nấy đều xúc động đến nghẹn ngào.
“Bẻ thôi bà con ơi!” Nhược Lam cất tiếng hô vang, tiếng cười rạng rỡ lan tỏa khắp không gian.
“Bẻ bắp thôi!” Bảo Nha reo hò ầm ĩ, ôm chiếc sọt nhỏ chạy tót vào giữa luống ngô.
Tiếng “rắc… rắc… rắc…” giòn tan, vui tai vang lên liên hồi khắp sườn đồi. Bàn tay của Tiêu Lập thoăn thoắt, chàng chỉ cần vặn nhẹ một cái, từng bắp ngô to lớn, nặng trịch đã rời cành, rơi vào sọt tre gùi trên lưng. Tam Thúc và Tam Thẩm bẻ đến đâu, miệng cười ngoác đến mang tai đến đó, những giọt mồ hôi rơi trên gò má rám nắng lấp lánh niềm vui sướng tột cùng của người lao động khi đón nhận mùa màng bội thu.
Nhược Lam chọn một bắp ngô to nhất ở đầu hàng, cẩn thận bóc từng lớp bẹ ngô mỏng như cánh ve ra.
Khi lớp bẹ cuối cùng được gạt sang hai bên, tất cả mọi người xung quanh bỗng nín thở, trố mắt nhìn sững sờ!
Hiện ra trước mắt họ là một bắp ngô dài hơn một gang tay rưỡi người lớn, chu vi tròn trịa, chắc nịch bằng bắp tay của một thanh niên lực lưỡng! Nhưng điều kỳ diệu nhất là những hạt ngô bên trong: mười sáu hàng hạt thẳng tắp tăm tắp từ gốc đến tận ngọn, không hề có lấy một khoảng trống, không hề có lấy một hạt lép hay sứt mẻ!
Từng hạt ngô căng mọng, tròn trịa, bóng bẩy như những hạt ngọc hoàng yến được khảm tỉ mỉ lên lõi ngô. Dưới ánh nắng sớm chiếu rọi, bắp ngô tỏa ra sắc vàng kim lấp lánh, mỡ màng, ứa tràn sức sống!
“Trời phật phù hộ… Đời ta làm ruộng ngót nghét bốn mươi năm, chưa từng thấy bắp ngô nào đẹp đẽ, phi phàm đến nhường này!” Khương Vĩnh Cửu run run đưa bàn tay thô ráp chạm vào từng hạt ngô, giọng ông nghẹn ngào, khóe mắt rưng rưng lệ vì xúc động.
Lý thị cũng ôm chầm lấy Nhược Lam, mừng đến mức rơi nước mắt:
“Lam nha đầu ơi… Con đúng là tiên nữ giáng trần rồi! Cả đời này nhà ta chưa bao giờ thấy hạt ngô nào to và đều như thế này cả!”
Nhược Lam mỉm cười, nàng đưa bắp ngô lên miệng, dùng hàm răng trắng đều cắn phập một miếng ngay tại chỗ!
“Bụp!”
Một tiếng nổ giòn tan, thanh thúy vang lên bên tai. Lớp vỏ hạt mỏng tang vỡ tung, dòng nước mật ngọt ngào, tinh khiết, thanh mát như dòng sữa tươi mát lành lập tức ứa ra, tràn ngập toàn bộ khoang miệng nàng! Vị ngọt đậm đà, giòn sần sật, béo ngậy tự nhiên quyện với hương thơm sữa ngô nồng nàn lan tỏa, ngon đến mức khiến từng tế bào vị giác trên đầu lưỡi phải run rẩy vì sung sướng!
Đây chính là hương vị của giống ngô ngọt siêu cấp thời hiện đại! Không hề có chút vị bã, khô cứng hay chát họng như giống ngô địa phương của thời đại này, mà giòn ngọt như một loại trái cây thượng hạng!
“Ngon quá! Mọi người ăn thử đi!” Nhược Lam bẻ đôi bắp ngô, đưa một nửa cho Bảo Nha, nửa còn lại đưa cho Tiêu Lập: “Ăn sống được luôn đấy, ngọt lịm như mật ong vậy!”
Bảo Nha há to miệng cắn một miếng to tướng, nước ngô ngọt bắn cả ra mép. Cô bé nhai nhồm nhoàm, hai mắt trợn tròn lên vì sung sướng, vừa nhảy cẫng lên vừa la lớn:
“Ngọt quá! Ngọt hơn cả kẹo mạch nha của ông già bán dạo trên chợ huyện nữa! Ngon chết đi được tỷ tỷ ơi!”
Tiêu Lập cũng đưa phần ngô lên miệng cắn thử một miếng nhỏ. Vị ngọt giòn tan, thanh khiết lập tức bùng nổ nơi đầu lưỡi chàng. Vị chiến tướng từng nếm qua sơn hào hải vị chốn hoàng cung kinh kỳ cũng phải ngỡ ngàng trước thứ mỹ vị thuần khiết của đất trời này. Chàng nhìn Nhược Lam, ánh mắt ngập tràn vẻ thán phục không chút giấu giếm:
“Quả thực là báu vật. Thứ ngô này… một khi mang ra ngoài, chắc chắn sẽ làm chấn động cả thiên hạ.”
Nhược Lam cười rạng rỡ, trong lòng tràn ngập cảm giác tự hào và thành tựu khôn xiết. Công sức hơn hai tháng trời phơi nắng dầm sương, ủ phân vi sinh, đào mương dẫn nước, và những buổi sáng sớm kiên nhẫn thụ phấn chéo từng bông hoa… tất cả đã được đền đáp xứng đáng bằng một vụ mùa bội thu lịch sử! Năm mẫu ngô này ước tính năng suất phải đạt tới hàng ngàn cân bắp, gấp bốn, gấp năm lần năng suất ngô bản địa!
Cả nhà hừng hực khí thế, tiếng cười nói rộn rã vang dội cả một góc trời. Từng gùi ngô nặng trịch được khiêng xuống sân nhà tranh của Nhược Lam. Chẳng mấy chốc, khoảng sân nhỏ đã chất đầy những đống ngô vàng rực như những đụn vàng khổng lồ, tỏa ra mùi hương ngọt ngào ngào ngạt khắp xóm nghèo.
Dân làng Lạc Diệp hay tin, lũ lượt kéo nhau đến đứng kín ngoài hàng rào tre. Họ trố mắt nhìn đống ngô vàng óng ả, nhìn những bắp ngô to lớn dị thường, ai nấy đều xì xào bàn tán, trong mắt tràn đầy sự kinh ngạc, kính phục lẫn thèm thuồng. Thím Trương và đám thân thích Chu gia đứng nép tít đằng xa, mặt mày xám ngoét như tro tàn, không thốt nên được một lời nào, chỉ biết nuốt nước bọt trong cay đắng và nhục nhã.
Giữa lúc không khí đang rộn ràng, náo nức nhất, tiếng vó ngựa dồn dập cùng tiếng bánh xe gỗ nghiến rào rạo trên con đường đất bỗng từ xa vọng lại.
Một cỗ xe ngựa hai ngựa kéo bóng loáng, thùng xe sơn son thếp vàng xa hoa, rèm gấm thêu hoa lộng lẫy – thứ phương tiện chỉ có ở giới quyền quý phú thương trên huyện thành – đang nghênh ngang rẽ đám đông dân làng, lao thẳng về phía con dốc dẫn lên nhà Nhược Lam.
Theo sau cỗ xe là bốn năm tên gia đinh lực lưỡng, mặt mày bặm trợn, tay cầm gậy gộc hống hách gạt phăng người qua đường.
“Két…!”
Cỗ xe ngựa thắng gấp, đỗ xịch ngay trước cổng rào tre gai nhà Nhược Lam, làm cát bụi cuốn lên mù mịt.
Một tên gia đinh vội vã chạy lên, cúi rạp người kê chiếc ghế gỗ nhỏ bên thành xe. Tấm rèm gấm đắt tiền được vén lên, một gã đàn ông trung niên mập mạp như một chiếc thùng tô nô, khoác trên mình bộ cẩm bào lụa là màu xanh ngọc, trên mười ngón tay đeo đầy nhẫn ngọc bích lấp lánh, phe phẩy chiếc quạt ngọc chậm rãi bước xuống xe.
Đôi mắt hí ti hí như hạt đỗ của gã đảo quanh một vòng, khi nhìn thấy đống ngô ngọt vàng óng ả chất cao như núi trong sân Nhược Lam, một tia sáng tham lam, thèm khát và toan tính tột cùng lập tức lóe lên nơi đáy mắt gã.
Gã nhếch mép cười một nụ cười giả lả, vuốt chòm râu dê dưới cằm, cất giọng the thé đầy ngạo mạn cất tiếng:
“Nghe đồn nơi xóm núi nghèo này có một nữ nông dân trồng được giống ngô lạ ngọt như mật… Bản lão gia hôm nay đích thân hạ cố đến đây, xem ra lời đồn quả không ngoa chút nào!”
Gã đàn ông vừa bước xuống từ cỗ xe ngựa xa hoa kia tự xưng là Mã Tam Gia, chưởng quầy của tửu lầu Vạn Phong Lâu nổi danh khắp huyện thành Vân Khê, đồng thời cũng là một tay đầu nậu thu mua nông sản khét tiếng quanh vùng. Gã đứng chắp tay sau đít, cái bụng phệ tròn xoe căng phồng dưới lớp cẩm bào lụa xanh, phe phẩy chiếc quạt ngọc chạm trổ cầu kỳ, ánh mắt ti hí lươn lẹo không ngừng liếc nhìn đống bắp ngô vàng óng ả đang tỏa hương thơm ngọt ngào ngút ngàn giữa khoảng sân đất nện.
Dân làng Lạc Diệp đứng quanh hàng rào tre gai xôn xao hẳn lên. Một phú thương quyền quý ngút trời của huyện thành đích thân đánh xe ngựa lộng lẫy về tận chốn bùn lầy nước đọng này, quả thực là chuyện xưa nay hiếm thấy.
Mã Tam Gia bước vài bước tới gần đống ngô, hếch cằm lên trời, cất giọng the thé chua loét:
“Ai là chủ nhân của mảnh đồi trồng thứ ngô này? Ra đây nói chuyện với bản lão gia.”
Khương Nhược Lam bình thản phủi nhẹ bụi phấn hoa bám trên vạt áo vải thô, bước lên phía trước một bước. Đôi mắt hạnh trong veo của nàng nhìn thẳng vào gã thương nhân mập mạp, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười nhàn nhạt nhưng không hề có lấy nửa phần khép nép hay sợ sệt:
“Chính là ta. Không biết Mã chưởng quầy vượt ngàn dặm đường đất xa xôi, hạ cố đến khu lều rách của nông gia bần hàn này là có việc gì chỉ giáo?”
Thấy người bước ra đối đáp lại là một tiểu cô nương tuổi độ đôi mươi, ăn mặc mộc mạc đơn sơ nhưng phong thái đĩnh đạc, ung dung tự tại khác hẳn đám thôn phụ quê mùa, Mã Tam Gia hơi ngẩn người ra một chút. Gã đánh giá Nhược Lam từ đầu đến chân, trong lòng thầm kinh ngạc trước dung mạo thanh tú và khí chất thanh cao của nàng, nhưng rất nhanh sau đó, bản tính con buôn lọc lõi liền lấn át tất cả.
Gã gập quạt cái “tách”, dùng đầu quạt chỉ vào đống ngô cao ngất ngưởng, giọng điệu kẻ cả như thể đang ban phát ơn huệ trời biển:
“Bản lão gia nghe tiếng đồn về giống ngô ngọt mới lạ của cô nương, vốn dĩ không tin, nhưng nể tình tiểu nha đầu nhà ngươi phận nữ nhi một thân một mình khai hoang vất vả, ta mới bớt chút thời gian quý báu đánh xe đến tận đây. Xem ra ngô này hạt đều, màu sắc cũng tàm tạm, nhưng suy cho cùng vẫn chỉ là thứ hoa màu no bụng của kẻ nghèo hèn, chẳng thể nào so được với gạo trắng nếp thơm chốn quyền quý. Thôi thì thế này, nể mặt cô nương chịu khó, toàn bộ đống ngô này của ngươi, bản lão gia sẽ thu mua trọn gói một lần!”
Tam Thúc đứng bên cạnh nghe vậy thì mừng rỡ, hai bàn tay thô ráp khẽ run lên. Bán đứt được toàn bộ số bắp này cùng một lúc thì khỏi phải lo mưa gió làm hỏng bắp, lại có tiền ngay lập tức. Nhưng Nhược Lam lại chẳng mảy may biến sắc, nàng chỉ khẽ nhướng đôi mày thanh tú:
“Ồ? Vậy xin hỏi Mã chưởng quầy định trả giá bao nhiêu cho mỗi cân bắp ngọt của ta?”
Mã Tam Gia vuốt chòm râu dê dưới cằm, ra vẻ trầm ngâm suy tính đắn đo hồi lâu, rồi giơ lên hai ngón tay mập mạp đeo nhẫn ngọc bích, vẻ mặt hào sảng:
“Hai văn tiền một cân! Bất kể bắp to bắp nhỏ, ta bao tiêu sạch sành sanh! Ngươi tính xem, mấy ngàn cân bắp này cũng đổi được vài xâu tiền đồng béo bở, đủ cho nhà ngươi đong gạo ăn dè sẻn qua cả mùa đông rét mướt. Thế nào? Bản lão gia làm ăn xưa nay luôn phóng khoáng, mở rộng cửa từ bi cứu giúp dân nghèo!”
Lời vừa thốt ra, không khí trong sân lập tức chùng xuống.
Khương Vĩnh Cửu đang tươi cười bỗng khựng lại, sắc mặt tối sầm. Dân làng đứng ngoài rào cũng bắt đầu xì xào to nhỏ. Ngô thường ngoài chợ huyện bán lẻ cũng đã ba văn một cân hạt khô, đằng này giống bắp ngọt kỳ lạ, thơm lừng mọng nước, ăn sống ngọt lịm như trái cây này mà gã chỉ trả hai văn một cân cả bắp lẫn cùi? Đây rõ ràng không phải là mua bán, mà là trắng trợn cướp bóc mồ hôi nước mắt của nông dân!
Mã Tam Gia thấy Nhược Lam im lặng, tưởng nàng là thôn nữ chưa từng thấy tiền nên đã bị dọa cho ngợp, bèn đắc ý bồi thêm:
“Sao hả? Mừng quá hóa ngơ rồi à? Mau sai người cân ngô, bốc lên xe cho bản lão gia. Tiền tươi thóc thật, lập tức trao tay!”
“Hai văn tiền?” Khương Nhược Lam bỗng bật cười thành tiếng. Tiếng cười trong trẻo, giòn giã của nàng vang lên giữa sân vắng, tràn ngập vẻ châm biếm sâu cay. Nàng khoanh hai tay trước ngực, ánh mắt sắc lẹm nhìn thẳng vào đôi mắt ti hí của gã phú thương:
“Mã chưởng quầy, ngài tưởng nông dân chúng ta chân lấm tay bùn nên đầu óc cũng đặc quánh như bùn lầy, không biết tính toán sổ sách sao? Ngô già thông thường ngoài chợ huyện nhai mỏi cả răng, khô cứng như đá dăm mà giá bán sỉ đã là ba văn một cân. Còn đây là giống bắp ngọt thuần chủng thượng hạng, hạt mọng sữa, mười sáu hàng thẳng tắp, vị ngọt thanh mát tan ngay đầu lưỡi, có thể ăn sống trực tiếp như trái cây thanh nhiệt, ngài đem về huyện thành bán cho các phủ đệ quyền quý, một bắp chế biến thành món điểm tâm cung đình ít nhất cũng phải thu về mấy chục văn tiền. Ấy thế mà ngài lại dám mở miệng trả hai văn một cân cả vỏ lẫn cùi? Ngài không thấy ngượng với danh xưng đại chưởng quầy của mình sao?”
Mã Tam Gia biến sắc, nụ cười giả tạo trên mặt tắt ngấm. Gã không ngờ một tiểu nha đầu nơi xóm núi hẻo lánh lại am tường giá cả thị trường và nói năng đanh thép, khúc chiết đến nhường này. Bị vạch trần dã tâm ngay trước mặt đám đông dân làng, mặt gã đỏ bừng lên như gấc chín vì thẹn quá hóa giận:
“Ngươi… nha đầu to gan! Đừng có rượu mời không uống lại muốn uống rượu phạt! Ngươi tưởng thứ ngô này của ngươi là ngọc thực của trời chắc? Bắp ngô tươi để qua ba ngày là héo quắt, chảy nhớt, mất hết vị ngọt! Không có Mã Tam Gia ta đây mở lòng bao tiêu, cả huyện Vân Khê này đố kẻ nào dám ra tay mua một bắp của ngươi! Đến lúc đó thối rữa đầy sân, ngươi có quỳ xuống van xin thì bản lão gia đây cũng không thèm bố thí nửa cắc!”
Gã vừa quát tháo vừa phất tay áo, bốn năm tên gia đinh lực lưỡng phía sau lập tức hung hãn tiến lên, tay lăm lăm gậy gộc gõ cồm cộp xuống đất thị uy, ý đồ dùng vũ lực để ép buộc Nhược Lam phải ngoan ngoãn ký giấy bán tháo.
Tam Thúc hoảng hốt vội cầm lấy cây đòn gánh đứng chắn trước mặt Nhược Lam.
Nhưng Khược Lam chẳng hề lùi nửa bước. Nàng ngẩng cao đầu, ánh mắt lạnh băng như sương tuyết mùa đông:
“Đất này là đất của triều đình cấp cho ta khai hoang, khế ước rõ ràng. Ngô này do mồ hôi nước mắt của ta tưới tắm mà lớn lên. Ta có để thối làm phân bón ruộng cũng là chuyện của Khương Nhược Lam ta, không phiền Mã lão gia phải bận lòng lo hão! Mời ngài lập tức quay xe cút khỏi sân nhà ta, bằng không, đừng trách ta báo lên lý chính và huyện nha về tội ức h**p lương dân!”
“Ngươi… con ranh chết tiệt, muốn ăn đòn hả? Người đâu, cho chúng nó biết tay…” Mã Tam Gia tức tối giậm chân rống lên.
Tuy nhiên, lời gã chưa dứt thì một bóng đen to lớn, sừng sững như ngọn núi bỗng từ sau gian bếp chậm rãi bước ra.
Tiêu Lập trên vai khoác cây đại cung bằng gỗ mun bóng loáng, hông đeo đoản đao săn thú sắc lẹm. Chàng không nói một lời, chỉ lạnh lùng bước tới đứng chắn ngang giữa Nhược Lam và đám gia đinh. Đôi mắt đại bàng sắc bén như lưỡi gươm vừa rút khỏi vỏ, tỏa ra sát khí ngút trời của một chiến tướng từng tắm mình trong biển máu sa trường. Ánh mắt ấy quét qua lũ người hầu hệt như đang nhìn một đàn sâu bọ rác rưởi.
Không khí xung quanh lập tức tụt xuống điểm băng giá. Đám gia đinh đang hùng hổ bỗng dưng run lẩy bẩy, hai đầu gối va vào nhau lập cập, bước chân bất giác thụt lùi lại phía sau. Bọn chúng quanh năm chỉ ức h**p dân lành yếu ớt, nào đã bao giờ đối mặt với một kẻ mang khí tràng thị huyết kinh hoàng đến nhường này!
Mã Tam Gia cũng bị ánh mắt của Tiêu Lập làm cho nghẹn ứ nơi cổ họng, chiếc quạt ngọc trên tay run bắn suýt chút nữa rơi xuống đất. Gã nuốt nước bọt đánh ực một cái, nhận ra gã thợ săn mặt thẹo này tuyệt đối là kẻ giết người không chớp mắt, liều mạng ở đây chỉ có thiệt thân.
“Được… được lắm! Các ngươi cứ đợi đấy! Để xem đống bắp thối này của các ngươi làm sao bán ra được một đồng!”
Mã Tam Gia vừa lùi dần về phía cỗ xe ngựa vừa buông lời đe dọa yếu ớt, rồi vội vã chui tọt vào trong thùng xe, giục phu xe quất roi ngựa chạy trối chết, để lại một làn khói bụi mịt mù cuốn bay theo gió.
Đám đông dân làng thấy cảnh tượng ấy thì nín thở rồi thở phào nhẹ nhõm, lục tục tản dần đi, trong lòng vừa thán phục sự cứng cỏi của Nhược Lam, vừa lo lắng thay cho số phận của đống ngô ngọt khổng lồ.
Trong sân, Tam Thúc buông rơi cây đòn gánh, thở dài sườn sượt, gương mặt sạm nắng tràn ngập nỗi âu lo:
“Nhược Lam à… Thúc biết gã thương nhân đó ép giá quá đáng, nhưng ngô tươi này quả thực không để được lâu. Lấy đâu ra chỗ chứa, mà phơi khô thì mất hết cái ngọt mọng nước. Lại thêm bọn chúng đe dọa phong tỏa chợ huyện, nếu không bán được, công sức mấy tháng trời của cháu chẳng lẽ đổ sông đổ biển hết sao?”
Nhược Lam quay lại nhìn người chú chất phác, khẽ mỉm cười trấn an. Nụ cười của nàng rạng rỡ, tự tin như ánh nắng ban mai xua tan đi mọi u ám:
“Tam Thúc đừng lo! Người đời thường nói, cùng tắc biến, biến tắc thông. Bán thô cả bắp cho thương lái thì muôn đời bị chèn ép giá cả. Nông sản quý giá này, nếu chúng ta biết cách chế biến thành mỹ vị độc nhất vô nhị, giá trị của nó sẽ tăng gấp năm, gấp mười lần!”
Tiêu Lập đứng bên cạnh khẽ buông cung tên xuống, đôi mắt sâu thẳm nhìn nàng chăm chú, trầm giọng hỏi:
“Nàng định làm gì?”
Khương Nhược Lam chớp chớp mắt, khóe môi cong lên một đường cong tinh quái đầy tự tin:
“Bọn họ ỷ vào thế lực muốn b*p ch*t nguồn tiêu thụ ngô sống của ta, vậy thì ta sẽ biến bắp ngọt thành đồ ăn chín mang thẳng ra chợ huyện bán lẻ! Ta không tin mùi thơm của mỹ vị trần gian này lại không đánh gục được dạ dày của người dân Vân Khê!”
Nghĩ là làm, Nhược Lam lập tức bắt tay vào chuẩn bị. Trong đầu một tiến sĩ nông nghiệp kiêm tâm hồn sành ăn như nàng, có hàng chục công thức chế biến ngô ngọt đỉnh cao, nhưng để phù hợp với điều kiện chợ quê thời cổ đại, nàng quyết định chọn ra hai món “vũ khí bí mật”: Bắp ngọt nướng quét sốt mỡ hành và Chè bắp non nấu hạt sen thơm mát!
Buổi chiều hôm ấy, khoảng sân nhỏ nhà tranh biến thành một gian bếp dã chiến vô cùng náo nhiệt.
Nhược Lam dẫn dắt cả nhà phân chia công việc đâu ra đấy. Tam Thúc chịu trách nhiệm chọn lựa những bắp ngô to đều tăm tắp, bóc bớt lớp vỏ già bên ngoài, chỉ để lại một lớp vỏ lụa mỏng ôm sát thân bắp để khi nướng không bị cháy sém hạt, đồng thời giữ trọn vẹn nước ngọt bên trong.
Lý thị và bé Bảo Nha ngồi bên thúng ngô non mới tỉa sáng nay, dùng những con dao nhỏ khéo léo gọt từng lớp hạt ngô mỏng tang như cánh ve. Những hạt ngô sữa trắng ngà, mọng nước rơi rào rào vào chậu đồng, tỏa ra mùi hương thanh khiết ngào ngạt.
“Tam Thẩm, phần cùi ngô sau khi gọt hạt xong người đừng vứt đi nhé!” Nhược Lam dặn dò: “Rửa sạch rồi cho tất cả vào nồi nước lớn đun sôi liu riu cùng với râu ngô tươi. Nước luộc cùi ngô này chính là linh hồn của nồi chè, nó có vị ngọt thanh tự nhiên của đất trời, không thứ đường mía nào sánh bằng đâu ạ!”
Lý thị gật đầu lia lịa, vừa làm vừa tấm tắc khen ngợi sự tỉ mỉ của đứa cháu gái.
Phần mình, Nhược Lam đích thân chuẩn bị nước sốt mỡ hành – món quyết định linh hồn của món bắp nướng. Nàng lấy tảng mỡ lợn rừng béo ngậy mà Tiêu Lập săn được hôm trước, thái hạt lựu rồi cho vào chảo gang đun trên lửa nhỏ để thắng lấy mỡ trong vắt. Những miếng tóp mỡ vàng giòn rụm nổi bồng bềnh, mùi mỡ thơm lừng bốc lên ngào ngạt.
Nàng vớt tóp mỡ ra để riêng, đợi mỡ sôi già thì trút toàn bộ bát hành hoa xanh mướt thái nhỏ vào. Một tiếng “xèo…” rộn rã vang lên, hơi nước bốc lên mù mịt mang theo mùi thơm hăng nồng quyến rũ của hành lá quyện chặt lấy vị béo ngậy của mỡ lợn rừng. Nhược Lam nhanh tay nêm thêm chút muối khoáng giã mịn, một muỗng mật ong rừng nguyên chất do Tiêu Lập lấy từ vách đá hôm qua, và một nhúm ớt khô rừng xay mịn. Bát mỡ hành sánh mịn, óng ả màu ngọc bích điểm xuyết sắc đỏ tươi, chỉ ngửi mùi thôi đã khiến dịch vị trong khoang miệng cuộn trào mãnh liệt.
Ở góc sân bên kia, nồi chè bắp non hạt sen cũng bắt đầu sôi sùng sục. Nước hầm cùi ngô ngọt lịm sau khi vớt bỏ bã được trút ngô non nạo mỏng và hạt sen tươi bóc vỏ bỏ tâm vào ninh nhừ. Nhược Lam khuấy đều tay bằng muôi gỗ, cho thêm một bát nước cốt dừa béo ngậy mà nàng nhờ Tam Thúc mua từ thương thuyền phương Nam ghé bến sông hôm trước, cùng chút đường phèn tán nhỏ. Nồi chè sánh đặc, màu vàng non điểm xuyết những hạt sen trắng muốt, hương thơm ngọt lịm, thanh mát lan tỏa khắp ngõ ngách trong thôn.
Tối hôm đó, Nhược Lam nhóm một lò than hoa đỏ rực nướng thử nghiệm vài bắp. Bắp ngô ngọt đặt lên vỉ sắt nổ lách tách, hạt ngô căng mọng chuyển dần sang màu vàng sậm bóng bẩy. Nàng dùng chổi cọ quét một lớp mỡ hành dày dặn lên thân bắp. Mỡ sôi xèo xèo, bốc khói nghi ngút, hương thơm ngào ngạt của ngô chín nướng than quyện với mỡ hành béo ngậy nồng nàn xộc thẳng vào cánh mũi!
“Trời đất ơi… thơm quá tỷ tỷ ơi! Nước miếng muội chảy ròng ròng rồi này!” Bảo Nha ôm bụng tròn xoe nhảy cẫng lên bên bếp lò, hai mắt sáng quắc như sao sa.
Nhược Lam cười rạng rỡ, bẻ một bắp nướng làm đôi, đưa cho Bảo Nha và Tiêu Lập nếm thử.
Bảo Nha chẳng thèm sợ nóng, há miệng cắn ngay một miếng ngập chân răng.
“Rộp!”
Vỏ ngoài hạt ngô hơi cháy sém giòn tan, nhưng bên trong lại nổ tung một dòng nước ngọt lịm, đậm đà, quyện chặt lấy lớp mỡ hành béo ngậy, mằn mặn, cay cay the the nơi đầu lưỡi. Cô bé vừa nhai nhồm nhoàm vừa hít hà vì nóng, gương mặt phúng phính tràn ngập vẻ thỏa mãn tột cùng:
“Ngon… ngon muốn rụng cả lưỡi luôn tỷ tỷ ơi! Đời này muội chưa từng được ăn thứ gì ngon như thế này!”
Tiêu Lập cũng chậm rãi ăn hết nửa bắp ngô nướng. Người đàn ông vốn trầm mặc, kiệm lời ấy sau khi nuốt miếng ngô xuống họng, ánh mắt nhìn Nhược Lam bỗng dâng lên muôn vàn cảm xúc nhu hòa, chàng khẽ gật đầu, giọng nói trầm ấm mà kiên định:
“Mỹ vị như thế này, ở kinh thành Thạnh An cũng chưa từng có. Ngày mai ra chợ huyện, nàng nhất định sẽ thắng lớn.”
Nhận được sự tán thưởng của chàng, trái tim Nhược Lam khẽ rung lên một nhịp đập ngọt ngào. Nàng mỉm cười, trong mắt bừng lên ngọn lửa quyết tâm rực sáng.
…
Canh năm sáng hôm sau, khi màn sương mù dày đặc vẫn còn giăng kín lối mòn chân núi Lạc Nhạn, cả nhà đã thức dậy chuẩn bị lên đường.
Hai sọt ngô tươi chọn lọc được chằng chắc chắn trên chiếc xe cút kít gỗ kẽo kẹt. Một bên là thùng gỗ giữ nhiệt bọc rơm ủ ấm nồi chè bắp hạt sen nghi ngút khói; một bên là lò than đất nung, vỉ sắt, xô đựng than hoa, bát đĩa gốm thô và ống tre sạch dùng để đựng chè cho khách mang đi.
Nhược Lam dặn Tam Thẩm và bé Bảo Nha ở nhà trông nom sân bắp và đóng chặt cổng rào tre gai cẩn thận. Còn nàng và Tam Thúc sẽ đẩy xe cút kít lên chợ huyện Vân Khê bán hàng. Tiêu Lập ban đầu muốn đi cùng bảo vệ, nhưng sáng sớm Hắc Lục đã lén gửi ám hiệu khẩn báo có dấu vết khả nghi xuất hiện ở bìa rừng phía Tây, chàng đành phải ở lại xử lý, nhưng trước khi đi đã đưa cho Nhược Lam một chiếc còi đồng nhỏ:
“Có biến cố gì, thổi còi này lên, Hắc Lục quanh vùng sẽ lập tức xuất hiện ứng cứu.”
Nhược Lam cẩn thận cất chiếc còi vào vạt áo trong, mỉm cười gật đầu: “Chàng yên tâm, ta đi một lát rồi trưa sẽ về ngay thôi!”
Con đường đất dài mười mấy dặm từ thôn Lạc Diệp lên huyện thành gập ghềnh sỏi đá. Khương Vĩnh Cửu khỏe mạnh đẩy xe phía sau, Nhược Lam thắt chặt dải yếm gai kéo phụ phía trước. Hai chú cháu vừa đi vừa trò chuyện rôm rả, mồ hôi ướt đẫm trán nhưng lòng ai nấy đều phơi phới niềm hy vọng ngút ngàn.
Đến được cửa đông huyện thành Vân Khê thì trời vừa hửng sáng. Mặt trời ló rạng xua tan sương sớm, phố xá bắt đầu nhộn nhịp tiếng người qua lại, tiếng rao hàng rộn rã của các tiểu thương.
Nhược Lam chọn một góc đất trống dưới gốc cây đa cổ thụ râm mát, ngay ngã ba giao nhau giữa khu chợ nông sản và trục đường chính dẫn vào phố buôn tơ lụa. Nơi đây người qua lại tấp nập, vừa thoáng đãng lại không chắn lối đi của ai. Nàng trả cho nha dịch tuần chợ mười văn tiền phí thuê chỗ ngồi cả ngày, rồi nhanh chóng bắt tay vào bày biện gian hàng.
Tam Thúc dùng đá lửa nhóm lò than. Chẳng mấy chốc, những hòn than hoa bén lửa đỏ rực, tỏa ra hơi ấm xua tan cái se lạnh của buổi sớm mai.
Nhược Lam đặt chiếc vỉ sắt lên lò than, nhanh thoăn thoắt xếp lên đó hơn chục bắp ngô mập mạp. Nàng lại mở nắp thùng gỗ ủ chè, dùng muôi gỗ khuấy nhẹ một vòng.
Khoảnh khắc nắp thùng vừa mở ra, một làn khói trắng mang theo hương thơm ngọt ngào, thanh mát của hạt sen ninh nhừ quyện với hương ngô sữa béo ngậy lập tức bung tỏa ra không gian! Cùng lúc đó, trên vỉ than hồng, những bắp ngô bắt đầu nổ lách tách khe khẽ. Nhược Lam nhúng chổi cọ vào liễn mỡ hành óng ánh, quét đều lên từng bắp ngô đang nóng rẫy.“XÈO…!”
Một tiếng rít giòn giã vang lên, mỡ lợn rừng rỏ xuống than hồng bốc lên một làn khói thơm lừng nức mũi! Mùi thơm của ngô nướng ngọt ngào, mùi mỡ hành thơm nồng ngầy ngậy, hòa lẫn với mùi thanh tao của chè hạt sen cốt dừa, tạo thành một làn sóng hương vị mãnh liệt, cuồn cuộn lan tỏa khắp cả góc phố chợ đông!
Những người đi chợ sớm đang vội vã bỗng khựng lại.
Một bác phu xe kéo hàng dừng bước, ngửa mũi hít hà một hơi thật sâu:
“Mùi gì mà thơm lùng bùng lỗ mũi thế này? Nhà nào nướng thịt sao?”
“Không phải thịt! Mùi này… vừa ngọt vừa béo, lại có mùi thơm của hành phi với mỡ lợn… thơm chết đi được!” Một phụ nhân dắt theo con nhỏ buột miệng thốt lên, ánh mắt dáo dác nhìn quanh tìm kiếm nguồn gốc mùi hương.
Nhìn thấy sự tò mò của đám đông bắt đầu dồn về phía mình, Nhược Lam lập tức cất cao giọng rao hàng. Giọng nói của nàng trong trẻo, thánh thót như chim hót đầu cành, vang vọng khắp một góc chợ:
“Bắp ngọt nướng mỡ hành thơm nức mũi đây bà con ơi! Giống ngô ngọt đồi Lạc Diệp mọng nước ngọt như mật, ăn một lần nhớ mãi không quên! Ai thích ngọt mát giải nhiệt thì có chè bắp non hạt sen cốt dừa thanh tâm bổ tỳ! Ngon ngọt tự nhiên, không ngon không lấy tiền đây!”
Tiếng rao lanh lảnh, mới lạ cùng mùi thơm quyến rũ không thể cưỡng lại lập tức thu hút sự chú ý của mọi người. Chẳng mấy chốc, một vòng người tò mò đã vây kín lấy góc sạp hàng nhỏ dưới gốc đa.
“Này cô nương, ngô này là ngô gì mà trông to tròn, hạt vàng óng ả lạ lùng thế kia? Lại còn nướng với mỡ hành, xưa nay ta chỉ thấy nướng thịt chứ ai lại nướng ngô bao giờ?” Một ông lão chống gậy bước tới tò mò hỏi.
Nhược Lam tươi cười rạng rỡ, nhanh nhẹn dùng dao tre cắt đôi một bắp ngô vừa nướng chín vàng ươm, đưa hai tay kính cẩn dâng lên:
“Lão bá, đây là giống ngô ngọt tiên phong do chính tay cháu lai tạo và gieo trồng trên đồi cao. Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một thử. Lão bá cứ nếm thử một miếng, nếu không ngon, cháu tuyệt đối không dám mời ngài mua!”
Ông lão ngần ngại một thoáng, nhưng mùi thơm ngào ngạt phả vào mặt khiến bụng ông réo lên ùng ục. Ông đưa lên miệng cắn một miếng nhỏ.
Đôi mắt đục mờ của ông lão bỗng nhiên trợn tròn lên!
Hạt ngô giòn sần sật vỡ tung trong miệng, nước ngô ngọt lịm như dòng suối mật tràn trề, hòa quyện hoàn hảo với lớp mỡ hành béo ngậy, mằn mặn, cay nhẹ ấm nồng. Không hề có cảm giác bã xơ hay khô cứng nghẹn họng của ngô thường, mà mềm mại, thơm ngọt tan biến nơi đầu lưỡi!
“Trời phật ơi!” Ông lão nuốt vội miếng ngô, vị giác chấn động đến mức chòm râu bạc rung rinh bần bật: “Ngon! Ngon quá chừng! Già này sống gần bảy mươi năm trên đời, ăn qua bao nhiêu thứ ngô khoai, chưa từng thấy thứ gì ngọt lịm, đậm đà mà kỳ diệu như thế này! Bán cho ta! Bán cho ta hai bắp mang về cho mấy đứa cháu nội nếm thử!”
“Dạ có ngay ạ! Bắp nướng mỡ hành nóng hổi năm văn tiền một bắp! Chè bắp hạt sen giải nhiệt sáu văn tiền một bát hoặc một ống tre mang về ạ!” Nhược Lam nhanh thoăn thoắt gắp hai bắp ngô bọc vào lớp lá chuối tươi xanh mướt, trao tận tay ông lão.
Ông lão run run móc ra mười đồng tiền xu sáng loáng đặt vào chiếc rổ xảo tre của Nhược Lam, vẻ mặt hớn hở cầm bắp ngô vừa thổi vừa đi.
Thấy ông lão tấm tắc khen ngợi như nuốt phải ngọc thực, đám đông xung quanh lập tức không kìm nén được nữa. Cơn thèm thuồng bị k*ch th*ch tột độ bởi làn khói thơm lừng bốc lên không ngừng.
“Cho ta một bắp nướng!”
“Cô nương, múc cho ta một bát chè bắp hạt sen ăn thử xem nào! Mùi cốt dừa thơm quá!”
“Khoan đã, đừng chen lấn! Bán cho ta ba bắp nướng, quét nhiều mỡ hành vào nhé!”
Khách hàng bắt đầu ùa vào như ong vỡ tổ.
Nhược Lam và Tam Thúc xoay như chong chóng. Tam Thúc chịu trách nhiệm trở bắp trên vỉ than, quạt lửa và bóc vỏ ngô mới tiếp viện lên lò. Bàn tay thô ráp của người nông dân chất phác thoạt đầu còn lúng túng, nhưng thấy tiền đồng rào rào rơi vào rổ, ông phấn chấn đến mức quên cả mệt mỏi, mắt sáng rực, mồ hôi nhễ nhại mà miệng cười toe toét không khép lại được.
Còn Nhược Lam thì một tay cầm chổi lông thoăn thoắt quét sốt mỡ hành lên thân bắp, tay kia thoăn thoắt múc từng muôi chè sánh mịn vào những ống tre tươi đã chuẩn bị sẵn.
Từng bát chè bắp non hạt sen được bưng ra cho khách thưởng thức tại chỗ. Những vị khách sau khi nếm thìa chè đầu tiên đều không khỏi ồ lên kinh ngạc: vị ngọt thanh khiết của nước cùi ngô, vị bùi bùi bở tơi của hạt sen tươi, hạt ngô non giòn ngọt mọng sữa quyện cùng vị béo ngậy nồng nàn của nước cốt dừa… Tất cả hòa quyện thành một khúc ca ẩm thực đồng nội tinh tế, đánh tan đi mọi mệt mỏi, oi bức của buổi sáng.
“Ngon tuyệt đỉnh! Cho ta thêm một bát nữa!”
“Cô nương ơi, đong cho ta năm ống tre mang về phủ cho phu nhân ta thưởng thức! Phu nhân ta nghén ngẩm mấy tuần nay chán ăn, ngửi thấy mùi chè này chắc chắn sẽ thích mê!” Một gã quản gia của một gia đình giàu có chen lấn qua đám đông, hào phóng đặt hẳn ba mươi văn tiền lên bàn.
Tiếng xèo xèo của mỡ hành trên than hồng, tiếng trầm trồ thán phục của thực khách, tiếng tiền đồng leng keng va vào nhau rộn rã náo loạn cả một góc phố. Người mua trước khen ngon lại kéo theo bạn bè, người nhà đến mua sau. Vòng vây quanh sạp hàng của Nhược Lam càng lúc càng dày đặc, người chen kẻ lấn đông nghịt như nêm cối.
Chỉ trong vòng chưa đầy một canh giờ, hai sọt ngô tươi đầy ắp – gần một trăm năm mươi bắp ngô – đã sạch trơn không còn một bắp nào! Nồi chè bắp non hạt sen to tướng cũng được vét đến giọt cuối cùng, đến cả lớp cháy thơm thơm dưới đáy nồi cũng bị mấy cậu thiếu niên tranh nhau mua sạch!
Nhiều người đến muộn ngậm ngùi tiếc nuối khi nhìn thấy vỉ sắt trống trơn, nhao nhao hỏi han:
“Hết rồi sao cô nương? Sao làm ít thế?”
“Ngày mai cô nương có ra bán nữa không? Nhớ mang nhiều gấp đôi đấy nhé, ta đặt trước mười bắp!”
Nhược Lam vừa lau mồ hôi trên trán vừa tươi cười cúi đầu tạ lỗi với bà con:
“Đa tạ các bác, các cô chú đã nhiệt tình ủng hộ! Hôm nay là ngày đầu tiên cháu mang ra bán thử nghiệm nên chưa chuẩn bị được nhiều. Sáng mai đúng giờ này, cháu sẽ mang thêm nhiều bắp nướng và chè ngọt ra phục vụ mọi người ạ!”
Lúc này, đám đông mới lục tục tản đi trong sự lưu luyến.
Nhìn góc sạp hàng sạch bóng, Tam Thúc ngồi phịch xuống chiếc ghế gỗ nhỏ, hai tay vẫn còn run run vì xúc động. Nhược Lam bưng chiếc rổ xảo tre vào trong bóng râm dưới gốc đa.
Bên trong rổ, tiền đồng chất cao thành một ngọn núi nhỏ, sáng lấp lánh dưới những tia nắng sớm xuyên qua kẽ lá. Những đồng tiền nặng trịch, nhuốm màu lao động chân chính và mồ hôi công sức.
Hai chú cháu ngồi đếm tiền. Tiếng tiền đồng “leng keng, cắc cắc” va vào nhau nghe vui tai và êm ái hơn bất kỳ khúc nhạc cung đình nào.
“Một trăm… hai trăm… năm trăm… một ngàn văn!”
Tam Thúc nín thở đếm từng xâu tiền. Tổng cộng thu về được hơn một ngàn hai trăm văn tiền đồng! Trừ đi chi phí mua đường phèn, mỡ lợn và phí chợ, lợi nhuận ròng của một buổi sáng lên tới gần một lượng bạc! Một con số không tưởng đối với một gia đình nông dân nghèo quanh năm chỉ trông chờ vào mấy hạt thóc lép!
Nhược Lam lập tức gom lấy một nửa số tiền đồng – trọn vẹn năm trăm văn tiền xâu thành một xâu nặng trịch – nhét thẳng vào tay Tam Thúc:
“Tam Thúc, đây là tiền công và phần chia của gia đình thúc hôm nay. Thúc cầm lấy mang về cho Tam Thẩm đong gạo và mua thuốc tẩm bổ!”
Tam Thúc giật bắn người, hoảng hốt xua tay đẩy lại, mắt đỏ hoe:
“Ấy chết! Nhược Lam, cháu làm cái gì vậy? Đất là của cháu, giống ngô là của cháu, công thức nấu nướng bí truyền cũng là của cháu! Thúc với thím chỉ bỏ chút sức mọn phụ giúp bóc bắp nhóm lò, sao dám nhận nhiều tiền thế này? Tuyệt đối không được, thúc chỉ nhận vài chục văn tiền công là đủ rồi!”
Nhược Lam nắm chặt lấy bàn tay thô ráp, chai sạn của người chú, ánh mắt chân thành và kiên định vô cùng:
“Tam Thúc! Ngày cháu bị đuổi khỏi kinh thành, sốt rét nằm chờ chết nơi góc nhà tranh dột nát, nếu không có bát cháo ngô ấm áp của thúc và thím cưu mang, thì Khương Nhược Lam này đã sớm thành nắm xương tàn rồi! Chúng ta là người một nhà, hoạn nạn có nhau thì phú quý cũng phải cùng hưởng. Mảnh đồi kia nếu không có thúc ngày đêm cuốc đất, gánh phân, phụ cháu dẫn nước thì làm sao có được mùa màng bội thu ngày hôm nay? Thúc nhận lấy đi, đây là công sức xứng đáng của thúc. Sắp tới mở rộng quy mô, cháu còn phải dựa vào thúc nhiều lắm!”
Nghe những lời ruột gan, tình nghĩa vẹn toàn của đứa cháu gái, Khương Vĩnh Cửu không kìm được nước mắt, đưa tay áo quẹt vội khóe mi. Ông siết chặt xâu tiền đồng trong tay, nghẹn ngào gật đầu:
“Được… thúc nhận! Đời này của cả nhà thúc… nhất định sẽ theo cháu làm lụng, không bao giờ phụ lòng cháu!”
Nhược Lam mỉm cười rạng rỡ. Nàng cất phần tiền còn lại, rồi dắt Tam Thúc đi về phía khu phố thương mại sầm uất của huyện thành:
“Đi thôi thúc! Chúng ta đổi tiền lấy bạc vụn cho tiện mang theo, rồi đi sắm sửa đồ đạc chuẩn bị cho những ngày tới!”
Hai chú cháu ghé vào tiền trang đổi số tiền đồng cồng kềnh lấy một nén bạc trắng tinh lấp lánh nặng đúng một lượng, cùng vài xâu tiền lẻ dằn túi. Cầm nén bạc đầu tiên do chính mồ hôi, trí tuệ và đôi bàn tay lao động của mình làm ra trong cuộc đời mới này, Nhược Lam cảm thấy lòng mình dâng trào một cảm giác tự hào và tự do vô bờ bến. Không cần tranh sủng, không cần mưu mô chốn lầu son gác tía, tự tay làm giàu giữa đất trời mới là niềm hạnh phúc chân chính và vững bền nhất!
Có tiền trong tay, Nhược Lam bắt đầu kế hoạch mua sắm đại quy mô.
Đầu tiên, nàng ghé vào tiệm vải lớn nhất phố. Nàng tỉ mỉ chọn mua một xấp vải bông thô màu xanh chàm bền chắc cho Tam Thúc may áo mới, một xấp vải hoa màu cánh sen nhã nhặn cho Tam Thẩm. Đặc biệt, nàng chọn mua một chiếc áo bông chần gòn đỏ rực rỡ, ấm áp, cổ viền lông thỏ mềm mại dành riêng cho bé Bảo Nha. Nhìn chiếc áo nhỏ xinh xắn, nàng thầm tưởng tượng ra vẻ mặt hớn hở, nhảy cẫng lên của cô bé khi nhận được quà mà lòng ấm áp lạ thường. Nàng còn không quên mua thêm hai xiên kẹo hồ lô bọc đường mạch nha đỏ au, bóng loáng c*m v** đầu gậy tre để dành cho cô bé.
Tiếp đó, hai chú cháu tìm đến lò rèn của Trương thợ rèn ở cuối phố. Nhược Lam bỏ tiền mua hai chiếc lưỡi cuốc bằng sắt rèn nguyên khối sắc bén, hai chiếc xẻng sắt cán dài chắc nịch để thay thế cho những nông cụ bằng gỗ cùn mòn ở nhà, và đặt mua một chiếc nồi gang khổng lồ dày dặn có nắp gỗ để ngày mai nấu chè ngô với số lượng lớn hơn.
Cuối cùng, Nhược Lam dẫn Tam Thúc đến khu chợ gia súc phía Tây thành.
Chiếc xe cút kít gỗ đẩy tay tuy tiện lợi nhưng sức người có hạn, đường đồi lại dốc cao gập ghềnh. Muốn vận chuyển hàng ngàn cân ngô và đồ đạc lâu dài, nhất định phải có sức kéo của súc vật. Nàng không đủ tiền mua trâu hay ngựa đắt đỏ, nhưng một chú lừa khỏe mạnh thì hoàn toàn nằm trong tầm tay.
Sau một hồi xem xét kỹ lưỡng răng, móng và khung xương, Nhược Lam ưng ý chọn trúng một chú lừa tơ lông màu xám đen mượt mà, đôi mắt to tròn lanh lợi, bốn chân gân guốc vững chãi. Người bán lừa thấy nàng sành sỏi bèn bớt chút đỉnh, bán đứt chú lừa cùng một chiếc khung xe kéo bằng gỗ nghiến chắc chắn với giá năm lượng bạc – Nhược Lam trả trước một lượng bạc tươi và một xâu tiền đồng, hẹn ba ngày sau mang bắp nướng ra chợ sẽ thanh toán nốt phần còn lại. Người chủ lừa thấy nàng buôn bán đắt như tôm tươi ở chợ sáng nay nên vui vẻ đồng ý ngay lập tức.
Chú lừa nhỏ ngoan ngoãn được buộc vào chiếc càng xe gỗ mới tinh. Toàn bộ nông cụ sắt, nồi gang lớn, vải vóc, kẹo hồ lô và những ống tre đựng gia vị được xếp gọn gàng lên thùng xe.
“Lạch cạch… lạch cạch…”
Tiếng móng lừa gõ đều đặn, nhịp nhàng trên nền đường đất đá. Khương Vĩnh Cửu ngồi trên càng xe, tay cầm dây cương, gương mặt rạng rỡ hãnh diện chưa từng thấy. Cả đời làm nông bần hàn, chưa bao giờ ông dám mơ có ngày gia đình mình lại sở hữu được một cỗ xe lừa kéo đàng hoàng, vững chãi như thế này!
Gió thu hiu hiu thổi qua những rặng cây phong ven đường, mang theo hương thơm ngai ngái của cỏ cây và đất ẩm. Mặt trời đã lên tới đỉnh đầu, rải những vạt nắng vàng ươm như mật ong xuống con đường làng quen thuộc. Nhược Lam ngồi trên thùng xe lừa, tay cầm xiên kẹo hồ lô đỏ rực, lòng tràn ngập cảm giác bình yên và mãn nguyện. Nàng thầm nghĩ đến nụ cười của Tiêu Lập, đến ánh mắt dịu dàng của chàng khi nhìn nàng tối qua, trong lòng bỗng dâng lên một nỗi mong mỏi kỳ lạ muốn mau chóng về đến nhà để khoe với chàng nén bạc trắng và cỗ xe lừa mới tậu.
Xe lừa lộc cộc lăn bánh về đến rặng tre đầu cổng thôn Lạc Diệp.
Nhưng cảnh tượng trước mắt bỗng khiến nụ cười trên môi Nhược Lam vụt tắt.
Từ con đường mòn dẫn lên sườn núi phía Tây, một bóng người nhỏ thó đang hớt hải, lảo đảo chạy thục mạng xuống dốc. Cô bé vừa chạy vừa vấp ngã trầy cả đầu gối, cát bụi bám đầy mặt mũi lem luốc, tiếng khóc nghẹn ngào xé lòng vang vọng cả bờ đê:
“Tỷ tỷ ơi! Mau lên… cứu mạng… cứu Tiêu đại ca với!”
Là Bảo Nha!
Nhược Lam giật thót tim, một luồng khí lạnh buốt lập tức chạy dọc từ sống lưng l*n đ*nh đầu. Nàng không màng nguy hiểm, lập tức nhảy phắt từ trên xe lừa xuống đất, vội vã lao nhanh về phía cô bé:
“Bảo Nha! Có chuyện gì thế? Bình tĩnh nói cho tỷ nghe!”
Bé Bảo Nha nhào vào lòng Nhược Lam, hai bàn tay nhỏ bé run rẩy bám chặt lấy vạt áo nàng, nước mắt nước mũi giàn giụa, vừa thở không ra hơi vừa khóc nấc lên từng chập kinh hoàng:
“Tiêu đại ca… Tiêu đại ca đi săn trên núi… bị người ta khiêng về… Hu hu… Toàn thân huynh ấy lạnh ngắt như tảng băng… Vết thương cũ nứt toác chảy máu đen sì… Huynh ấy đang nằm mê man bất tỉnh trong nhà gỗ, thở yếu lắm rồi tỷ tỷ ơi!”
Lời nói ngắt quãng cùng tiếng khóc nấc của bé Bảo Nha như một tiếng sét giữa trời quang, giáng thẳng xuống màng nhĩ Khương Nhược Lam. Toàn thân nàng cứng đờ, từng giọt máu trong huyết quản như đông cứng lại thành băng.
“Vết thương cũ nứt toác… máu đen… bất tỉnh?”
Nhược Lam lặp lại từng chữ trong vô thức, lồng ngực thắt lại đau nhói. Sáng nay khi đứng ở đầu dốc tiễn nàng đi chợ huyện, Tiêu Lập vẫn còn là một hán tử cao lớn sừng sững như ngọn thông già, ánh mắt chàng khi nhìn nàng ấm áp như vạt nắng sớm, chiếc còi đồng chàng dúi vào tay nàng vẫn còn vương hơi ấm nơi ngực áo. Vậy mà chỉ vỏn vẹn hai canh giờ trôi qua, người đàn ông ấy lại rơi vào cảnh thập tử nhất sinh?
“Tam Thúc!” Nhược Lam lập tức định thần, quay ngoắt lại nhìn Khương Vĩnh Cửu, giọng nói tuy gấp gáp nhưng cố giữ vẻ bình tĩnh quyết đoán: “Người mau dắt xe lừa đưa Bảo Nha về nhà trước, cất hết nồi niêu vải vóc vào kho. Khóa chặt cổng rào, nấu sẵn một nồi nước sôi lớn giùm con! Con lên nhà gỗ xem Tiêu đại ca ngay!”
Khương Vĩnh Cửu nhìn sắc mặt trắng bệch của cháu gái, lại thấy cô con gái nhỏ khóc đến run rẩy, liền hiểu tính chất hệ trọng của sự việc. Ông trầm giọng gật đầu thật mạnh:
“Nhược Lam, con cứ yên tâm đi trước! Chớ có hốt hoảng quá mà sẩy chân! Thúc dắt xe về cất xong sẽ mang rìu và dây thừng chạy lên phụ một tay!”
Không đợi Tam Thúc dứt lời, Nhược Lam đã vén bọc váy thô lên, xoay người cắm đầu chạy như bay về phía con đường mòn dẫn lên sườn núi phía Tây.
Gió thu cuối chiều thổi lồng lộng qua các khe đá, mang theo cái lạnh thấu xương của núi rừng Lạc Nhạn. Từng nhánh cỏ gai, cành cây khô quẹt rách cả mép tay áo, cào xước mu bàn tay trắng nõn của nàng rát bỏng, nhưng Nhược Lam chẳng hề bận tâm. Nàng cắn chặt môi đến mức bật máu tanh nồng, đôi chân dẫm trên đá sỏi lởm chởm guồng nhanh thoăn thoắt. Trong đầu nàng lúc này chỉ cuồn cuộn một ý nghĩ duy nhất: Tiêu Lập tuyệt đối không được xảy ra chuyện gì!
Căn nhà gỗ đơn sơ của chàng nằm khuất sau rặng thông đỏ, bốn bề vắng lặng đến rợn người. Cánh cửa gỗ đóng hờ, trên then cài còn vương vài vệt máu đen sẫm đã bắt đầu khô quánh.
“Tiêu Lập!”
Nhược Lam thở hồng hộc, lấy hết sức bình sinh đẩy bật cánh cửa gỗ bước vào trong.
Một mùi máu tanh nồng nặc pha lẫn thứ hàn khí lạnh lẽo dị thường lập tức ùa tới xộc thẳng vào cánh mũi nàng. Căn phòng không thắp đèn, tối om như mực. Nhờ chút ánh hoàng hôn yếu ớt rọi qua khe liếp, Nhược Lam nhìn thấy một thân ảnh to lớn đang nằm gục trên chiếc sập gỗ kê sát góc tường.
Tiêu Lập nằm nghiêng, một tay buông thõng chạm đất, cả thân hình vạm vỡ đang co rúm lại, run rẩy từng chập dữ dội.
“Tiêu Lập! Chàng nghe thấy ta gọi không?”
Nhược Lam lao bổ tới bên mép giường, run rẩy đưa bàn tay chạm vào trán chàng. Cảm giác truyền đến từ lòng bàn tay khiến nàng giật thót kinh hoàng: trán chàng nóng hừng hực như than hồng đang âm ỉ cháy, nhưng gò má và đôi bàn tay to lớn lại lạnh ngắt như tảng băng vừa vớt lên từ lòng sông tuyết!
Đôi mắt đại bàng sắc bén thường ngày giờ đây nhắm nghiền, hàng mày kiếm nhíu chặt lại thành một múi đau đớn cùng cực. Đôi môi mỏng cương nghị của chàng chuyển sang màu tím đen tái mét, từng hơi thở phập phồng đứt quãng, yếu ớt như ngọn đèn dầu trước gió bão.
Hàn độc công tâm!
Vốn là một tiến sĩ nông học chuyên sâu về thực vật và độc chất tự nhiên thời hiện đại, Nhược Lam lập tức nhận ra đây là triệu chứng cực kỳ nguy hiểm. Khi độc tố mang tính hàn tính ăn sâu vào kinh mạch gặp phải vết thương hở rách toạc, tạng phủ sẽ bị đông kết, khí huyết ngưng trệ, cơ thể vừa sốt cao nghịch lý vừa lạnh toát từ trong tủy xương. Nếu không kịp thời trục độc và nâng đỡ thân nhiệt, chỉ trong vòng hai canh giờ nữa, tim chàng sẽ ngừng đập hoàn toàn!
Nhược Lam hít sâu một hơi, tự tát nhẹ vào má mình một cái thật đau để ép bản thân phải tuyệt đối tỉnh táo. Lúc này, hoảng sợ đồng nghĩa với việc đưa chàng vào chỗ chết!
Nàng vội vã chạy đến góc nhà, dùng đá lửa đánh bách phát bách trúng, châm sáng ngọn đèn dầu lạc đặt trên chiếc bàn con. Tiếp đó, nàng chất một ôm củi thông khô vào bếp lò giữa phòng, nhóm lên một ngọn lửa bập bùng để xua tan màn sương lạnh đang bủa vây gian nhà gỗ. Ánh lửa vàng ấm áp vừa bùng lên, căn phòng sáng rõ, cũng là lúc Nhược Lam nhìn thấy toàn bộ tình trạng thương tích của Tiêu Lập.
Tấm áo vải thô màu nâu sẫm trên người chàng đã rách toang hoác thành từng dải. Máu đen sền sệt, đặc quánh từ bả vai trái kéo dài xuống trước ngực tuôn ra không ngừng, thấm ướt đẫm cả chiếc nệm rơm lót sập.
“Không được, phải cắt bỏ lớp áo dính máu này trước đã!”
Nhược Lam lẩm bẩm, bàn tay thoăn thoắt rút con dao găm nhỏ cài bên hông chàng, hơ nhanh qua ngọn lửa đèn dầu để sát trùng, rồi cẩn thận rạch từng đường chỉ may, bóc tách lớp vải thô bết dính máu ra khỏi da thịt.
Khi vạt áo đẫm máu cuối cùng được gỡ bỏ hoàn toàn, để lộ ra khuôn ngực trần và tấm lưng vạm vỡ của Tiêu Lập dưới ánh lửa chập chờn, Nhược Lam bỗng nghẹn ứ nơi cổ họng, hai mắt mở to trân trân, toàn thân chết lặng.
Đó là một thân thể được đúc bằng đồng hun cuồn cuộn cơ bắp, nhưng phủ kín trên khắp lồng ngực, bờ vai và sườn bụng rắn rỏi ấy là vô số những vết sẹo chằng chịt, lồi lõm, tầng tầng lớp lớp đè lên nhau!
Có những vết sẹo dài bằng cả gang tay, mép thịt co rúm lại dữ tợn – đó rõ ràng là vết chém tàn khốc của đại đao nơi chiến trận. Có những vết sẹo tròn sâu hoắm lõm vào xương bả vai và ngực phải – dấu vết không thể nhầm lẫn của những mũi tên xuyên giáp tầm xa từng găm sâu vào da thịt. Thậm chí, ngay sát mạn sườn gần tim chàng, còn có một vết đâm hình tam giác của mũi giáo dài đâm thủng, may mắn lệch đi vài phân mới giữ lại được tính mạng.
Từng tấc da thịt, từng thớ gân guốc đều là chứng tích của hàng trăm trận tử chiến đẫm máu, của những lần bước qua ranh giới sinh tử mong manh giữa muôn trùng tên bay đạn lạc.
Một thợ săn tầm thường nơi rừng sâu núi thẳm làm sao có thể sở hữu một thân thể mang đầy chiến tích kinh hoàng nhường này?
Lọ ngự dược Hắc Ngọc Kim Sang Dược của Thái Y Viện… khí phách bễ nghễ uy nghiêm ẩn sau vẻ ngoài thô ráp… những đường đao chuẩn xác gọn gàng… và lúc này là những vết sẹo của sa trường khốc liệt…
Mọi mảnh ghép vụn vặt trong tâm trí Nhược Lam đột ngột ráp lại thành một bức tranh hoàn chỉnh, sáng rõ.
Chàng không phải là thợ săn Tiêu Lập. Chàng là một chiến tướng! Một vị tướng lĩnh từng chỉ huy vạn quân, từng tắm máu nơi biên ải xa xôi, đang mang trên mình trọng thương và mối thù sâu kín mà phải ẩn nhẫn náu mình nơi xóm núi nghèo nàn này!
Một giọt nước mắt nóng hổi bất giác lăn dài trên gò má Nhược Lam, rơi tí tách xuống v*m ng*c lạnh băng của Tiêu Lập.
Trong lòng nàng không hề có nửa phần khiếp sợ, cũng chẳng có chút e dè trước thân phận bí ẩn kinh thiên động địa của chàng. Nơi đáy mắt nàng lúc này chỉ tràn ngập nỗi xót xa vô bờ bến. Người đàn ông này, rốt cuộc chàng đã phải cắn răng chịu đựng bao nhiêu nỗi thống khổ tột cùng, bao nhiêu vết chém mũi tên xé thịt nát xương để có thể sống sót mà nằm trước mặt nàng hôm nay?
“Đau… lạnh quá…”
Từ đôi môi tím tái của Tiêu Lập bật ra tiếng r*n r* mê sảng đứt quãng. Chàng vô thức siết chặt lấy nắm tay, toàn thân gồng cứng lên, từng đường gân xanh trên trán nổi rõ cuồn cuộn.
“Tiêu Lập, đừng sợ! Có ta ở đây rồi!”
Nhược Lam nghẹn ngào khẽ nói, vội vàng lấy lại sự bình tĩnh. Nàng cúi xuống ghé sát vết thương ở bả vai trái chàng. Vết rách dài bốn tấc mà hôm trước nàng từng khâu lại bằng chỉ ruột cừu nay đã bị ngoại lực dữ dội xé toạc, mép thịt thâm sì, chảy ra một chất dịch màu đen tanh tưởi. Rõ ràng khi nãy ở bìa rừng Tây, chàng đã phải dùng hết nội lực giao chiến ác liệt với kẻ địch, khiến độc cũ trong người bị chấn động mà trào ngược ra ngoài kinh mạch.
Nàng nhanh chóng dùng khăn sạch tẩm nước ấm vắt khô, cẩn thận lau sạch lớp máu đông quanh miệng vết thương. Sau đó, nàng dùng hai bàn tay ấn mạnh vào vùng thịt xung quanh, kiên quyết nặn ép hết phần máu đen bầm ứ đọng ra ngoài. Mỗi lần ấn xuống, cơ bắp trên người Tiêu Lập lại giật nảy lên vì đau đớn, nhưng chàng vẫn cắn chặt răng trong cơn mê man, mồ hôi lạnh toát ra như tắm.
Nặn sạch máu độc xong, Nhược Lam vội vàng tìm chiếc bình ngọc Hắc Ngọc Kim Sang Dược của chàng dốc ngược lên vết thương. Nhưng lọ thuốc quý chỉ rơi ra vài hạt bột mỏng manh rồi cạn kiệt.
“Hết thuốc rồi sao?!”
Nhược Lam cắn môi, nhìn sắc môi chàng vẫn không hề thuyên giảm vẻ tím tái, hơi thở ngày càng yếu ớt như sắp tắt.
Độc này ngấm quá sâu! Thuốc đắp ngoài da chỉ có thể cầm máu tạm thời, nếu không có thuốc giải mang tính đại nhiệt để trục tán hàn khí từ bên trong lục phủ ngũ tạng, chỉ e chàng không thể qua khỏi đêm nay!
Trong đầu Nhược Lam lập tức lướt qua toàn bộ kho tàng kiến thức thực vật dược liệu học. Độc tính này phát tán nhanh, làm tê liệt huyết mạch, rất giống với nọc độc của loài cỏ Đoạn Hồn Sa mọc ở vùng đầm lầy phương Bắc tẩm trên lưỡi kiếm. Để khắc chế thứ hàn độc âm hiểm này, cần phải có dây Nhẫn Đông Đằng (kim ngân hoa lâu năm) để giải độc cơ tim, kết hợp với rễ gừng gió già, rễ bạch chỉ núi và tía tô dại để làm ấm tỳ vị, phát hãn giải biểu, thông kinh hoạt lạc!
“Rừng Lạc Nhạn… Đúng rồi, vách đá ẩm sau dòng suối ngầm phía Tây có mọc dây kim ngân rừng!”
Nhược Lam nhớ lại lần đầu tiên theo chàng lên núi hái nấm, nàng từng nhìn thấy những dây leo có hoa đổi màu từ trắng sang vàng mọc chằng chịt trên các gờ đá ẩm.
Nàng nhìn Tiêu Lập đang nằm thở hắt ra từng hơi run rẩy, rồi dứt khoát đứng bật dậy. Nàng kéo chiếc chăn bông chần rơm duy nhất trong nhà đắp kín từ ngực đến chân cho chàng, rồi châm một bó đuốc bằng cành thông tẩm nhựa dầu.
“Chờ ta một chút! Chàng nhất định phải ráng chống đỡ chờ ta về, nghe rõ chưa!” Nhược Lam nắm chặt lấy bàn tay lạnh ngắt của chàng, ghé sát tai chàng nói lớn như một lời mệnh lệnh, rồi xoay người lao thẳng ra ngoài màn đêm mịt mùng.
Lúc này, trời đã tối hẳn. Đêm mùa thu trên núi Lạc Nhạn đen đặc như mực, trăng non bị mây mù che khuất, chỉ có tiếng gió rít gào qua các hốc đá và tiếng thú ăn đêm gầm gừ từ tận rừng sâu vọng lại.
Nhược Lam một tay cầm đuốc rọi đường, một tay cầm liềm sắt và chiếc giỏ tre nhỏ. Nàng không có thời gian để sợ hãi bóng tối hay cọp dữ. Mỗi bước chân nàng chạy là đang chạy đua với Diêm Vương để giằng giật tính mạng của người đàn ông kia.
“Rắc!”
Một cành cây mục gãy dưới chân khiến Nhược Lam trượt ngã nhào xuống dốc đá. Chiếc đuốc thông văng ra xa mấy thước, nàng đập mạnh đầu gối xuống nền sỏi nhọn hoắt, đau đến ch** n**c mắt. Nhưng nàng chẳng màng xoa bóp, lập tức bò dậy nhặt đuốc lên, tiếp tục cắm đầu leo ngược lên vách đá cạnh dòng suối ngầm.
Ánh đuốc bập bùng quét qua vách đá rêu phong.
“Kìa rồi!”
Đôi mắt hạnh của Nhược Lam sáng rực lên. Bám chặt trên gờ đá cheo leo cách mặt đất một tầm với là những bụi dây leo rậm rạp, tỏa ra mùi hương thoang thoảng the nồng: chính là Nhẫn Đông Đằng mọc tự nhiên lâu năm! Ven bờ suối ẩm ướt bên dưới, nàng còn nhìn thấy những bụi gừng gió mọc dại với những chiếc củ già câng nổi trên mặt đất, cùng vài khóm tía tô rừng lá tím ngắt.
Nhược Lam không màng vách đá trơn trượt, nàng thoăn thoắt leo lên bám vào rễ cây, dùng liềm cắt lấy từng đoạn dây kim ngân hoa bánh tẻ, gom cả những chiếc lá già tích tụ nhiều dược tính nhất. Sau đó, nàng trèo xuống bờ suối, dùng tay không đào bới lớp đất sỏi ẩm ướt, nhổ bật gốc ba củ gừng gió già to bằng bàn tay và một nắm lớn lá tía tô dại.
Đất cát nhét đầy kẽ móng tay, rớm cả máu, nhưng trong lòng Nhược Lam chỉ dâng lên một niềm vui sướng khôn tả. Có thuốc rồi! Chàng được cứu rồi!
Ôm chặt giỏ thảo dược vào lòng, Nhược Lam quay đầu chạy thục mạng trở về căn nhà gỗ.
Vừa đẩy cửa vào, nàng đã thấy Tam Thúc đang đứng ngồi không yên bên bếp lửa, tay cầm ngọn đuốc và cây đòn gánh.
“Trời ơi Nhược Lam! Con chạy đi đâu trong đêm hôm thế này? Làm thúc lo thắt ruột thắt gan!” Tam Thúc hốt hoảng la lên, vội đỡ lấy giỏ thuốc trên tay nàng.
“Tam Thúc, con đi hái thuốc cứu mạng chàng!” Nhược Lam vừa th* d*c vừa nói, mặt mũi lấm lem bùn đất và tàn tro nhưng đôi mắt sáng quắc: “May mà thúc đã lên! Thúc mau giúp con rửa sạch đám củ gừng gió này, dùng sống dao đập dập ra! Con đi sắc thuốc!”
“Được, được! Để đó thúc làm!” Tam Thúc thấy nàng quyết đoán thì không hỏi thêm lời nào, lập tức xắn tay áo múc nước rửa thuốc.
Nhược Lam nhóm thêm một bếp than nhỏ cạnh sập gỗ. Nàng lấy chiếc siêu đất cũ của Tiêu Lập, cho nước suối trong vắt vào, thả toàn bộ dây kim ngân hoa đã thái nhỏ, gừng gió già đập dập và lá tía tô rừng vò nát vào siêu. Nàng canh lửa to cho nước sôi bùng lên, sau đó hạ nhỏ lửa liu riu để tinh chất kháng viêm, giải độc và tán hàn trong thảo mộc từ từ tiết ra.
Trong lúc chờ thuốc ngấu, Nhược Lam nhìn sang góc chạn bếp. Nơi đó có treo hai con cá suối tươi rói mà Tiêu Lập bắt được dưới vực sâu ban sáng, cùng nửa bát gạo trắng nàng vừa đong từ chợ huyện mang về.
“Tam Thúc, Tiêu đại ca mất máu quá nhiều, tạng phủ lại bị lạnh, thuốc vào phải có cháo ấm lót dạ để bảo vệ dạ dày và dẫn thuốc đi khắp kinh mạch. Thúc trông ấm thuốc giùm con, con nấu một nồi cháo cá bồi bổ cho chàng!”
Nhược Lam thoăn thoắt làm sạch hai con cá suối béo tròn. Nàng dùng dao lạng lấy hai dải thịt cá trắng phau, ướp với chút gừng tươi thái sợi và chút muối hạt. Phần xương cá và đầu cá, nàng cho vào chảo gang đảo thơm với chút mỡ lợn rồi đổ nước sôi vào ninh kỹ lấy nước dùng ngọt lịm, sau đó lọc bỏ bã xương, trút gạo trắng vào nấu thành cháo hoa nhừ tơi.
Khi hạt gạo đã nở bung như những cánh hoa, Nhược Lam trút phần thịt cá đã xào săn cùng một nắm hành hoa, lá tía tô thái nhỏ vào đảo đều. Nàng còn rắc thêm một chút hạt tiêu rừng cay nồng ấm bụng. Một mùi thơm ngào ngạt, thanh ngọt của cá suối hòa quyện với vị cay ấm nồng nàn của gừng, tiêu và tía tô lập tức lan tỏa khắp căn nhà gỗ nhỏ, xua đi hoàn toàn mùi máu tanh ảm đạm.
Lúc này, ấm thuốc trên bếp than cũng đã sắc lại còn một bát con, nước thuốc màu nâu hổ phách bốc khói nghi ngút, thơm nồng the the.
“Tam Thúc, thuốc đã xong rồi. Đêm đã khuya lắm, thẩm thẩm và Bảo Nha ở nhà một mình chắc đang sợ hãi. Thúc mau về nghỉ ngơi đi, ở đây một mình con chăm sóc chàng là được rồi.” Nhược Lam khẽ nói, ánh mắt kiên định.Khương Vĩnh Cửu nhìn cháu gái, lại nhìn người thanh niên đang nằm mê man trên giường, trong lòng vừa thán phục vừa xót xa. Ông thở dài một tiếng, gật đầu:
“Thôi được, con bé Bảo Nha lúc nãy khóc ngất đi, thúc về dỗ dành nó. Có chuyện gì hệ trọng, con cứ chạy ra cửa gõ mạnh vào mâm sắt, thúc sẽ chạy lên ngay!”
“Dạ, con nhớ rồi. Thúc đi cẩn thận.”
Tiễn Tam Thúc ra về, Nhược Lam cài chặt then cửa gỗ. Căn phòng giờ đây chỉ còn lại nàng và Tiêu Lập giữa tiếng lửa reo tí tách và tiếng gió rít bên ngoài vách liếp.
Nhược Lam bưng bát thuốc ấm đến bên sập gỗ. Nàng ngồi xuống mép giường, cẩn thận nâng đầu chàng tựa vào vai mình. Thân thể người đàn ông to lớn nặng trịch như một khối sắt, tựa vào bờ vai mảnh khảnh của nàng khiến nàng có chút chới với, nhưng Nhược Lam vẫn cắn răng giữ vững tư thế.
“Tiêu Lập, uống thuốc nào… Mau mở miệng ra…”
Nàng dùng thìa sứ múc từng muỗng thuốc nâu óng, ghé sát vào bờ môi khô nứt nẻ của chàng. Nhưng Tiêu Lập đang hôn mê sâu, hai hàm răng chàng cắn chặt lại thành một khối cứng ngắc, nước thuốc vừa đổ vào liền trào ngược ra hai bên khóe miệng.
Nhược Lam lau vội vạt áo, trong lòng sốt ruột như lửa đốt. Cứ thế này thì làm sao thuốc vào được bụng chàng?
Nàng bèn dùng ngón tay ấn mạnh vào huyệt Hạ Quan ở hai bên quai hàm chàng, ép miệng chàng hé mở một khe nhỏ, rồi kiên nhẫn ghé sát thìa thuốc vào, thổi nhè nhẹ cho nguội bớt rồi từ từ đổ vào cổ họng chàng.
“Ngoan nào… nuốt xuống đi… Mau tỉnh lại bẻ ngô cùng ta…”
Giọng nói của Nhược Lam nghẹn ngào, dịu dàng như một khúc hát ru bên tai. Dường như trong cơn mê man tăm tối vô tận, thanh âm trong trẻo, ấm áp ấy đã xuyên qua màn sương mù độc dược chạm đến linh hồn của Tiêu Lập. Cổ họng chàng khẽ chuyển động, một ngụm thuốc ấm áp mang theo vị the đắng của kim ngân và vị cay nồng của gừng gió trôi tuột xuống thực quản.
Cứ như thế, từng thìa, từng thìa một, Nhược Lam kiên nhẫn bón hết trọn vẹn cả bát thuốc giải độc cho chàng.
Sau khi uống thuốc xong, Nhược Lam lại múc một bát cháo cá suối nóng hổi. Nàng chọn phần nước cháo sánh mịn và những vụn thịt cá mềm ngọt nhất, tiếp tục bón từng chút một cho chàng để giữ ấm tỳ vị.
Bón xong cháo và thuốc, chiếc áo thô trên người Nhược Lam cũng ướt đẫm mồ hôi. Nàng đặt đầu chàng nằm ngay ngắn lại trên gối rơm, rồi lấy một chiếc khăn vải sạch nhúng vào chậu nước ấm, cẩn thận lau từng giọt mồ hôi lạnh trên trán, trên cổ và khắp lồng ngực đầy sẹo của chàng.
Canh ba… rồi canh tư…
Đêm mùa thu sâu thẳm trôi qua trong sự im lặng nghẹt thở. Nhược Lam không dám chợp mắt lấy nửa giây. Nàng ngồi bó gối bên mép sập gỗ, thỉnh thoảng lại vươn tay kiểm tra nhịp thở và thân nhiệt của Tiêu Lập, chốc chốc lại đứng dậy thêm củi vào bếp lò để giữ cho căn phòng luôn ấm áp.
Đến khoảng đầu canh năm, thuốc giải bắt đầu phát huy công hiệu mãnh liệt.
Toàn thân Tiêu Lập bỗng run rẩy dữ dội, từ các lỗ chân lông trên ngực và trán chàng túa ra từng đợt mồ hôi nhờn nhợt màu xám đục, bốc lên mùi hôi nồng nặc của độc tố bị trục xuất ra ngoài cơ thể. Nhược Lam mừng rỡ đến rơi nước mắt, vội vàng thay nước ấm, liên tục lau sạch lớp mồ hôi độc cho chàng.
Dần dần, nhịp thở đứt quãng của Tiêu Lập trở nên sâu và đều đặn hơn. Sắc tím tái ghê rợn trên đôi môi mỏng của chàng từ từ nhạt đi, thay vào đó là sắc hồng hào của khí huyết đang lưu thông trở lại. Bàn tay to lớn lạnh ngắt như băng tuyết khi nãy giờ đã ấm sực lên, truyền sang bàn tay nhỏ bé của Nhược Lam một luồng sinh khí mạnh mẽ, vững chãi.
Cơn sốt đã lui! Hàn độc trong kinh mạch đã bị đánh tan hoàn toàn!
Nhược Lam thở phào một hơi dài trút bỏ gánh nặng ngàn cân trong lồng ngực. Sự mệt mỏi, căng thẳng tột độ tích tụ suốt một ngày dài lúc này mới ập đến như sóng trào. Đôi mắt nàng cay xè, đầu óc quay cuồng. Nàng không gượng nổi nữa, bèn gục đầu xuống mép sập gỗ, một tay vẫn nắm chặt lấy những ngón tay thô ráp của Tiêu Lập, rồi thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn kiệt sức.
…
Khi ánh ban mai đầu tiên của ngày mới xuyên qua kẽ hở của vách liếp gỗ, rải những sợi nắng vàng óng ả như tơ tằm xuống căn phòng nhỏ, Tiêu Lập từ từ mở mắt.
Cảm giác đầu tiên ùa về trong tâm trí chàng không phải là cơn đau nhức xé thịt nát xương nơi bả vai, mà là một sự ấm áp dễ chịu lạ thường đang lan tỏa khắp các đường kinh mạch. Hàn độc từng hành hạ chàng suốt ba năm ròng rã, thứ độc dược âm hiểm tưởng chừng đã cướp đi tính mạng chàng sau trận phục kích đêm qua, nay lại kỳ diệu biến mất không còn dấu vết!
Lồng ngực chàng nhẹ bẫng, hơi thở thông suốt, cổ họng còn vương lại vị the ngọt ấm nồng của thảo dược và hương thơm dịu nhẹ của cháo cá tía tô.
Tiêu Lập khẽ đảo mắt nhìn quanh.
Và rồi, ánh mắt chàng dừng lại nơi mép sập gỗ.
Một bóng hình nhỏ nhắn, quen thuộc đang gục đầu ngủ say sưa bên cạnh chàng. Mái tóc nàng hơi rối bời, vài lọn tóc mai dính bết bên gò má lấm lem bụi tro và vết bùn đất khô khốc. Dưới mí mắt thanh tú của nàng hằn lên hai quầng thâm nhàn nhạt vì thức trắng đêm. Chiếc vạt áo thô màu chàm bị gai rừng cào rách tơi tả, trên mu bàn tay trắng nõn chằng chịt những vết cào rướm máu.
Và bàn tay nhỏ bé, mềm mại ấy, lúc này vẫn đang nắm chặt lấy bàn tay thô ráp đầy vết chai sần của chàng không rời nửa tấc, như thể sợ rằng chỉ cần buông lỏng ra một chút thôi, chàng sẽ tan biến vào hư không.
Trên chiếc bàn con bên cạnh, một chiếc siêu đất vẫn còn vương tàn thuốc bắc, một bát cháo cá đã vơi một nửa, và một đống vải băng sạch sẽ được gấp gọn gàng.
Trái tim của vị Trấn Bắc Đại Tướng quân – người từng một mình cưỡi chiến mã xông pha giữa biển máu mười vạn quân thù mà mắt không hề chớp, kẻ từng bị gian thần hãm hại đến mức coi cõi lòng mình như một tảng băng vĩnh cửu không bao giờ tan chảy – vào giây phút này bỗng thắt lại dữ dội, rồi tan chảy ra thành một dòng suối nước ấm áp, ngọt ngào khôn tả.
Chàng nhớ lại tất cả.
Đêm qua, sau khi chém chết ba tên sát thủ của phe gian thần lần mò đến bìa rừng Tây, chàng đã trúng độc kích phát, gắng gượng dùng chút tàn lực cuối cùng bò về đến căn nhà gỗ này rồi ngã gục trong tuyệt vọng. Chàng cứ ngỡ mình sẽ chết cô độc như một con sói già nơi rừng hoang lạnh lẽo.
Thế nhưng, nàng đã đến.
Cô nương nhỏ bé này đã một mình lao vào đêm đen rậm rạp đầy hiểm nguy để hái thuốc cứu chàng, đã dùng đôi bàn tay mảnh mai này lau từng giọt máu độc trên ngực chàng, đã thức trắng đêm để kéo chàng từ cửa ải quỷ môn quan trở về với dương thế!
Ánh mắt Tiêu Lập ngập tràn sự cưng chiều, đau xót và một thứ tình cảm mãnh liệt, thâm sâu đến tận xương tủy. Chàng khẽ nhúc nhích những ngón tay, nhẹ nhàng trở bàn tay lại, bao bọc trọn vẹn lấy bàn tay nhỏ bé của nàng trong lòng bàn tay ấm áp của mình.
Động tác khẽ khàng ấy vô tình làm Nhược Lam giật mình tỉnh giấc.
“Ưm…”
Nàng khẽ chớp chớp mắt, hàng mi cong vút run rẩy nâng lên. Khi nhìn thấy đôi mắt đại bàng sâu thẳm, đen láy của người đàn ông trước mặt đang mở to nhìn mình chăm chú, Nhược Lam bỗng ngơ ngác mất một thoáng, rồi lập tức bừng tỉnh hoàn toàn.
“Tiêu Lập! Chàng tỉnh rồi?!”
Tiếng reo mừng rỡ của nàng cất lên trong trẻo như tiếng chim hót sau cơn mưa. Nhược Lam vội vàng chống tay ngồi thẳng dậy, không màng đến đôi chân đã tê dại vì ngồi cả đêm, lập tức vươn tay áp lên trán chàng.
“Mát rồi! Không còn sốt nữa! Tốt quá rồi!”
Gương mặt phờ phạc của nàng bừng sáng lên một nụ cười rạng rỡ như ánh mặt trời ban mai. Nụ cười ấy đẹp đến mức khiến Tiêu Lập ngơ ngẩn cả người, trái tim chàng đập lỗi nhịp liên hồi.
“Nhược Lam… nàng…” Tiêu Lập mở miệng, giọng chàng khàn đặc vì khan tiếng, nhưng từng chữ thốt ra đều run rẩy xúc động: “Đêm qua… là nàng cứu ta?”
“Còn ai vào đây nữa chứ!” Nhược Lam bĩu môi một cái, hốc mắt bỗng chốc đỏ hoe, vừa giận vừa thương lườm chàng một cái sắc lẻm: “Chàng có biết đêm qua chàng nguy hiểm đến mức nào không? Toàn thân lạnh ngắt như tảng băng, độc suýt nữa thì ăn vào tim phổi rồi! Nếu ta về chậm một canh giờ nữa, có khi bây giờ đã phải lên đồi đào hố chôn chàng rồi đấy!”
Tiêu Lập nhìn đôi mắt ngân ngấn nước của nàng, đáy lòng mềm nhũn ra như một vũng nước xuân. Chàng không hề phản bác, chỉ lặng lẽ dùng ngón tay cái thô ráp, nhẹ nhàng gạt đi giọt lệ sắp rơi nơi khóe mắt nàng, trầm giọng nói:
“Ta biết. Là ta không tốt, làm nàng phải lo lắng, chịu khổ rồi.”
Nhìn hành động thân mật quá đỗi tự nhiên của chàng, lại cảm nhận được đầu ngón tay ấm áp thô ráp đang lướt trên gò má mình, Nhược Lam bỗng giật mình nhận ra khoảng cách giữa hai người lúc này gần gũi đến mức nào. Nàng đang ngồi sát mép giường, bàn tay vẫn bị chàng nắm chặt không buông, ánh mắt thâm tình như lửa đốt của chàng dán chặt vào gương mặt nàng khiến hai má nàng thoắt cái đỏ bừng lên như quả hồng chín mọng.
Nhược Lam ngượng ngùng vội vàng rút tay về, quay mặt sang chỗ khác hắng giọng một tiếng để che giấu sự bối rối:
“Khụ… Ai thèm lo lắng cho chàng chứ! Chẳng qua là ta sợ mất đi một người khỏe mạnh giúp ta cuốc đất khai hoang thôi! Chàng… chàng nằm yên đó, để ta múc cháo cá cho chàng ăn lót dạ. Cháo vẫn còn ấm trong nồi gang đấy!”
Nói đoạn, nàng luống cuống đứng phắt dậy bước nhanh về phía bếp lửa, bóng lưng mảnh khảnh lộ rõ vẻ thẹn thùng đáng yêu.
Nhìn theo bóng dáng nàng, khóe môi cương nghị của Tiêu Lập bất giác cong lên thành một nụ cười rạng rỡ, ấm áp hiếm thấy. Tảng băng vĩnh cửu bao bọc lấy trái tim chàng suốt bao năm tháng chinh chiến sa trường, vào khoảnh khắc này, đã hoàn toàn tan biến thành hư không trước hơi ấm điền viên của người con gái ấy.
Chàng khẽ đưa mắt nhìn xuống lồng ngực mình. Vạt áo đã được thay bằng một tấm vải thô sạch sẽ, vết thương rách toạc được khâu lại tỉ mỉ bằng những đường kim mảnh dẻo, đều tăm tắp. Nàng chắc chắn đã nhìn thấy toàn bộ những vết sẹo chằng chịt trên người chàng, chắc chắn đã đoán ra chàng không phải là một thợ săn tầm thường. Thế nhưng nàng không hề gặng hỏi, không hề xa lánh hay toan tính, chỉ lặng lẽ dùng tất cả sự dịu dàng và chân thành nhất để chăm sóc, bảo bọc cho chàng.
Đời này kiếp này, có được một người tri kỷ như nàng bên cạnh, dù có phải buông bỏ giang sơn vạn dặm, buông bỏ binh quyền tột đỉnh, Tiêu Triệt chàng cũng cam tâm tình nguyện!
“Mau ăn đi, cháo cá suối nấu với gừng và tía tô, bổ khí huyết lắm đấy.”
Nhược Lam bưng bát cháo bốc khói nghi ngút quay lại, cẩn thận dùng thìa múc một miếng cháo, chu môi thổi phù phù cho nguội bớt rồi đưa đến tận miệng chàng, gương mặt vẫn còn vương chút ửng hồng e ấp.
Tiêu Lập ngoan ngoãn hé miệng ăn trọn muỗng cháo. Vị ngọt đậm đà của cá suối tươi, vị dẻo thơm của hạt gạo mới và vị cay the ấm nồng của tiêu gừng lan tỏa nơi đầu lưỡi, thấm đẫm vào từng tấc ruột gan. Chàng chưa bao giờ được ăn một bát cháo nào ngon đến thế trong suốt hai mươi sáu năm cuộc đời.
“Ngon lắm.” Tiêu Lập nhìn sâu vào mắt nàng, giọng nói trầm ấm đầy từ tính: “Cháo nàng nấu… là thứ ngon nhất trên đời này.”
“Khéo mồm!” Nhược Lam lườm chàng một cái nhưng khóe môi không giấu nổi nụ cười ngọt ngào: “Ngon thì ăn hết cả bát đi, không được để thừa một hạt nào đấy!”
Không khí trong căn nhà gỗ nhỏ tràn ngập sự ngọt ngào, ấm cúng và bình yên đến lạ kỳ. Ánh nắng sớm rọi qua khung cửa, chiếu sáng hai bóng người một lớn một nhỏ bên mép giường bệnh, đẹp như một bức tranh thủy mặc thanh bình nơi thôn dã.
Thế nhưng, khoảnh khắc êm đềm ấy bỗng chốc bị xé toạc.
“Rầm!”
Cánh cửa gỗ vốn đang khép hờ đột ngột bị một lực mạnh đẩy bật tung ra, đập mạnh vào vách liếp vang lên một tiếng động chói tai.
Một thân ảnh gầy gò, khoác trên mình bộ áo dài vải thô xộc xệch của một thầy lang bốc thuốc dạo, trên lưng còn đeo một chiếc hòm thuốc bằng mây tre đan, mặt mũi tái mét không còn một giọt máu hớt hải xông thẳng vào phòng.
Là Hắc Lục!
Gã vừa chạy thục mạng từ ngoài bìa rừng vào, hơi thở hổn hển dồn dập như đứt hơi, mồ hôi đầm đìa ướt sũng cả vạt áo. Vừa nhìn thấy Tiêu Lập đã tỉnh táo ngồi trên giường, Hắc Lục mừng rỡ định thốt lên, nhưng khi nhìn sang Nhược Lam bên cạnh, gã lập tức sững lại nửa giây, rồi không kịp màng đến lễ nghi phép tắc, vội vàng lao bổ tới quỳ sụp xuống bên mép sập gỗ, hạ thấp giọng thì thầm trong nỗi kinh hoàng tột độ:
“Chủ tử! Nguy to rồi! Khương Thượng thư ở kinh thành… lão ta đã phái một toán mật thám thân tín bí mật mò về tới tận huyện Vân Khê này rồi!”
Lời báo dồn dập như tiếng sét giữa ngày quang đãng của Hắc Lục vừa dứt, không khí ấm cúng thoang thoảng mùi cháo cá trong gian nhà gỗ lập tức ngưng đọng lại. Bát cháo trên tay Khương Nhược Lam khẽ nghiêng đi một chút, nhưng ngón tay nàng vẫn giữ vững gờ bát, không hề run rẩy lấy nửa phần.
Ánh mắt Tiêu Lập thoắt cái tối sầm lại. Luồng khí tức trầm mặc, ấm áp lúc đối diện với nàng chỉ trong chớp mắt đã biến thành sát khí thấu xương của một bậc danh tướng nơi sa trường vạn dặm. Đôi mày kiếm của chàng nhíu chặt, con ngươi đen thẳm lóe lên hàn quang lạnh lẽo khiến Hắc Lục dù đang quỳ rạp dưới đất cũng phải bất giác rùng mình, lưng áo vừa ráo mồ hôi lại ướt đẫm thêm một tầng lãnh hàn.
“Bao nhiêu tên? Đang ở đâu?” Tiêu Lập cất giọng trầm thấp, ngữ điệu không lớn nhưng từng chữ thốt ra đều nặng tựa nghìn cân.
Hắc Lục nuốt nước bọt cái ực, cúi đầu bẩm báo: “Bẩm chủ tử, có năm tên. Chúng ngụy trang thành thương nhân buôn tơ lụa từ phía Nam lên, cưỡi ngựa tốt, bên hông đều giấu nhuyễn kiếm của ám vệ Thượng thư phủ. Tối qua bọn chúng đã vào trọ tại khách đ**m lớn nhất huyện Vân Khê, sáng nay bắt đầu rải người đi dò la tin tức về các thôn làng quanh chân núi Lạc Nhạn. Mục tiêu của chúng… dường như là tìm kiếm tung tích của một vị cô nương bị trục xuất khỏi kinh kỳ, đồng thời ngấm ngầm rà soát xem quanh vùng có tráng đinh nào lạ mặt mang thương tích hay không.”
Nghe đến đây, Nhược Lam đặt bát cháo còn nghi ngút khói xuống chiếc bàn con cạnh giường. Nàng không hề có lấy nửa phần sợ hãi của một nữ tử khuê các yếu đuối khi bị gia tộc truy sát, ngược lại, khóe môi thanh tú còn khẽ nhếch lên thành một nụ cười giễu cợt đầy khinh bỉ.
“Khương Thượng thư cùng vị muội muội tốt Khương Ngọc Trinh kia quả nhiên là ăn no rửng mỡ, không có việc gì làm.” Nhược Lam phủi nhẹ vạt áo thô, giọng điệu thong dong như đang bàn về chuyện thời tiết ngày mai mưa hay nắng: “Ta đã bị tước đoạt thân phận đích nữ, bị đuổi về chốn khỉ ho cò gáy này với hai bàn tay trắng, lại còn chủ động ký vào Đoạn tuyệt thư không màng một cắc bạc của Khương gia. Vậy mà bọn họ vẫn sợ ta mọc cánh bay về kinh thành tranh đoạt vị trí mẫu nghi thiên hạ của ốc sên nhà họ sao?”
Tiêu Lập nghiêng đầu nhìn nàng. Thấy trong đôi mắt hạnh lanh lợi của nàng chỉ có sự khinh miệt chứ không hề vương chút bi thương hay hoảng loạn nào, cõi lòng chàng bỗng dâng lên một niềm cảm phục và xót xa khôn xiết. Chàng đưa bàn tay to lớn, ấm áp phủ lên mu bàn tay mảnh dẻo của nàng, siết nhẹ:
“Nàng không cần bận tâm. Ở huyện Vân Khê này, chỉ cần Tiêu Triệt ta còn một hơi thở, không một kẻ nào từ kinh thành có thể chạm vào một sợi tóc của nàng. Ta sẽ bảo Hắc Lục…”
“Khoan đã!” Nhược Lam lập tức ngắt lời chàng, ánh mắt sắc sảo chớp chớp: “Tiêu đại hiệp, chàng vừa mới tan hết hàn độc, vết thương rách toạc trên vai vừa được ta khâu lại bằng chỉ tơ mỏng dính, tuyệt đối không được động võ! Hơn nữa, việc gì phải tự mình ra tay cho bẩn gươm giáo? Bọn chúng ngụy trang thành thương nhân, ắt hẳn không dám công khai lùng sục cướp người giữa ban ngày ban mặt dưới sự cai quản của nha môn Đại Ninh.”
Nàng quay sang nhìn Hắc Lục, ngón tay gõ nhịp nhịp lên mặt bàn gỗ: “Hắc Lục, ngươi nói bọn chúng đang dò la một cô nương bị trục xuất và một tráng đinh lạ mặt đúng không?”
“Dạ… đúng vậy, Khương cô nương.” Hắc Lục chớp mắt, ngơ ngác nhìn nữ tử trước mặt.
“Rất tốt. Ngươi am hiểu địa bàn huyện thành, lại có thân phận thầy lang thu mua dược liệu che chở. Ngươi hãy tung tin giả cho đám tiểu nhị ở các quán trà bến sông, bảo rằng ba hôm trước có một chiếc thuyền buôn chở theo một nam tử bị thương nặng cùng một nữ tử áo xanh chạy dọc theo sông Ngân Khê xuôi về phía phủ thành Giang Nam rồi. Đám mật thám kia vốn tính đa nghi, nghe thấy manh mối trùng khớp ở phía Nam ắt sẽ lập tức phi ngựa đuổi theo. Cứ để chúng chạy mệt chết mấy con ngựa dọc đường đi, vừa câu kéo thời gian cho Tiêu Lập dưỡng thương, vừa giúp ta rảnh tay làm việc lớn!”
Hắc Lục nghe xong thì trố mắt nhìn, sau đó vỗ đùi đánh “đét” một tiếng, tấm tắc khen ngợi: “Tuyệt kế! Diệu kế điệu hổ ly sơn! Cô nương quả là thần cơ diệu toán!”
Gã len lén liếc nhìn chủ tử nhà mình, chỉ thấy Tiêu Lập đang nhìn Khương Nhược Lam bằng ánh mắt ngập tràn sự sủng ái và tự hào, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười cưng chiều đến mức làm người ta run rẩy. Hắc Lục thức thời ho khan một tiếng, vội vàng chắp tay: “Thuộc hạ đi làm ngay!”
“Khoan đã, còn một chuyện nữa.” Hắc Lục bỗng sực nhớ ra điều gì, sắc mặt lại trở nên cổ quái: “Ngoài đám mật thám kinh thành, thuộc hạ vừa nghe ngóng được một chuyện bẩn thỉu ở chợ huyện. Gã phú thương Mã Tam Gia bị chủ tử dọa cho mất mật hôm trước… gã không cam lòng nuốt cục tức này. Sáng nay gã đã bí mật tụ tập hơn ba mươi tên côn đồ của bang Thiết Xà ở chợ huyện, sai người chốt chặn hết các ngả đường độc đạo dẫn từ thôn Lạc Diệp ra huyện thành. Hắn rêu rao rằng…”
Hắc Lục ngập ngừng nhìn Nhược Lam, không dám nói tiếp.
“Hắn rêu rao cái gì? Cứ nói thẳng, ta không phải quả hồng mềm để người ta n*n b*p.” Nhược Lam nhướng mày.
“Hắn nói… nếu cô nương không chịu bán đứt toàn bộ ngô ngọt cho hắn với giá một văn tiền năm bắp, đồng thời giao nộp bí quyết nướng bắp mỡ hành và công thức nấu chè sen bắp non, thì hắn sẽ đập nát xe lừa, bẻ gãy chân bất kỳ ai ở Lạc Diệp dám mang nông sản ra chợ huyện. Hắn còn dọa… sẽ bắt cô nương về phủ làm di thái thái thứ tám để hầu hạ hắn!”
“Ầm!”
Một tiếng nổ trầm đục vang lên. Chiếc sập gỗ lim dày dặn dưới tay Tiêu Lập bỗng nứt toác ra một đường dài nửa thước bởi một chưởng vô hình. Toàn bộ căn phòng bỗng chốc lạnh lẽo như rơi vào hầm băng, sát khí cuồn cuộn dâng trào trong mắt chàng thợ săn:
“Hắn chán sống rồi.”
Tiêu Lập định đứng bật dậy, nhưng Nhược Lam đã nhanh tay ấn chàng ngồi trở lại sập gỗ. Đôi bàn tay mát lạnh của nàng áp lên mu bàn tay nổi đầy gân xanh của chàng, nhẹ nhàng xoa dịu cơn thịnh nộ lôi đình:
“Bình tĩnh nào, Tiêu Lập. Một con ruồi nhặng vo ve nơi góc chợ mà thôi, làm gì đến mức để Trấn Bắc đại tướng quân phải động nộ? Hắn muốn chơi trò lũng đoạn thị trường, cậy thế h**p người à? Thời hiện đại… à không, trong sách cổ ta đọc, trò này của đám con buôn đã lỗi thời từ tám trăm năm trước rồi!”
Đôi mắt hạnh của Nhược Lam lóe lên tia sáng rực rỡ đầy tự tin và mưu lược. Nàng đứng thẳng dậy, vạt áo vải thô bay nhẹ theo gió sớm, tỏa ra khí phách kiên định lạ thường:
“Một mình ta trồng năm mẫu ngô ngọt, hắn có thể tìm cách chèn ép, chặn đường. Nhưng nếu cả thôn Lạc Diệp, hàng chục hộ nông dân nghèo cùng đứng chung một chiến tuyến, cùng trồng giống ngô của ta, cùng bán nông sản dưới một ngọn cờ… thì một gã Mã Tam Gia cỏn con lấy tư cách gì mà phong tỏa? Hắn muốn ép giá nông dân chúng ta ư? Ta sẽ cho hắn nếm mùi vị thế nào là sức mạnh của nhân dân lao động!”
Tiêu Lập ngước nhìn nàng, trái tim trong lồng ngực đập rộn ràng từng nhịp đắm say. Người con gái này, mỗi khi đứng trước gian nan trắc trở, chưa bao giờ cúi đầu khuất phục, nàng luôn rực rỡ, kiên cường như đóa hoa hướng dương vươn mình đón nắng gắt, khiến chàng chỉ muốn dâng trọn cả sinh mệnh này để bảo bọc cho nụ cười ngạo nghễ ấy.
“Nàng muốn làm thế nào?” Chàng trầm giọng hỏi, trong mắt chỉ còn lại bóng hình nàng.
“Rất đơn giản.” Nhược Lam mỉm cười rạng rỡ: “Ta muốn thành lập Tổ hợp tác nông hộ Lạc Diệp! Đi thôi, chàng ở nhà ngoan ngoãn húp hết bát cháo cá rồi nghỉ ngơi cho ta. Ta phải sang nhà Tam Thúc mượn chiếc chiêng đồng đầu làng đây!”
*
Nửa canh giờ sau, dưới gốc cây đa cổ thụ đầu thôn Lạc Diệp, tiếng chiêng đồng “Keng! Keng! Keng!” vang lên dồn dập, xé toạc bầu không khí yên ả của buổi sớm mai.
Bà con nông dân trong thôn đang vác cuốc ra đồng nghe thấy tiếng chiêng báo động khẩn cấp liền vội vã ùa về tụ tập. Chẳng mấy chốc, khoảng sân rộng dưới bóng cây đa đã chật ních hơn sáu mươi hộ dân, áo vá chằng vá đụp, nét mặt ai nấy đều hằn sâu nỗi nhọc nhằn, lo âu của kiếp làm thuê cuốc mướn.
Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu đứng bên cạnh Nhược Lam, tay cầm dùi chiêng, nét mặt đầy vẻ lo lắng. Vừa nãy ông đi nghe ngóng tình hình ngoài đầu làng, cũng đã nghe phong phanh chuyện đám côn đồ Mã Tam Gia chặn đường đánh người, trong lòng như có lửa đốt.
Nhìn thấy Nhược Lam đứng trên một tảng đá lớn, búi tóc củ tỏi gọn gàng, thần thái hiên ngang đĩnh đạc, đám đông bắt đầu xì xào bàn tán:
“Nhược Lam nha đầu gọi chúng ta đến có việc gì thế nhỉ?”
“Nghe bảo hôm qua con bé bán bắp ngọt trên huyện kiếm được cả nén bạc đấy! Nhưng mà sáng nay xui xẻo rồi, nghe đâu đắc tội với Mã Tam Gia ở chợ huyện, gã đang cho người mang dao gậy chặn đường ngoài đèo Cẩu Đầu kia kìa!”
“Chậc chậc, đúng là cây to đón gió lớn. Dân đen như chúng ta sao đấu lại đám phú thương có tiền có thế chứ? phen này e là mất cả chì lẫn chài rồi…”
Nghe những lời bàn tán đầy vẻ bi quan và khiếp nhược ấy, Nhược Lam không hề bực tức. Nàng hắng giọng, cất tiếng nói thanh vang, trong trẻo nhưng đầy nội lực, truyền khắp toàn bộ khoảng sân:
“Các vị thúc bá, thím thẩm và bà con thôn Lạc Diệp! Hôm nay ta mời mọi người tụ họp về đây không phải để kể khổ, cũng không phải để xin mọi người thương hại. Ta chỉ muốn hỏi bà con một câu: Bao nhiêu năm qua, mọi người bán một sọt khoai, một gánh rau cải cho đám thương lái huyện thành, có bao giờ được trả đúng giá trị mồ hôi nước mắt mình bỏ ra chưa?”
Lời vừa dứt, cả đám đông bỗng chốc im bặt. Một lão nông tóc hoa râm, lưng còng rạp, thở dài sườn sượt:
“Nha đầu à, ai mà chẳng muốn bán được giá cao? Nhưng bọn lái buôn câu kết với nhau, lúc được mùa thì chúng ép giá xuống tận bùn đen, một gánh cải to tướng chỉ đổi được hai chén cám. Lúc mất mùa thì chúng lại bảo hàng xấu không thèm mua. Chúng ta chân lấm tay bùn, không bán cho chúng thì rau thối ở ruộng, đói trơ xương, biết làm sao bây giờ?”
Nhiều tiếng thở dài, tiếng chửi thề bất lực vang lên phụ họa. Đó là nỗi uất nghẹn ngàn đời của người nông dân cơ hàn dưới ách thống trị của tầng lớp thương nhân gian manh thời phong kiến.
“Đúng vậy!” Nhược Lam cất cao giọng, ánh mắt nàng bừng sáng ngọn lửa nhiệt huyết: “Bởi vì chúng ta chỉ là những hạt cát rời rạc! Từng nhà một đơn thương độc mã gánh hàng đi bán, không có chỗ dựa, không có tiếng nói, nên mới bị lũ gian thương như Mã Tam Gia đè đầu cưỡi cổ, tùy ý bóp nghẹt! Nhưng hôm nay, Khương Nhược Lam ta đứng ở đây, muốn cùng bà con thay đổi số phận khốn khổ ấy!”
Nàng chỉ tay về phía đồi ngô bậc thang xanh ngắt trĩu bắp phía sau làng:
“Mọi người đều đã tận mắt nhìn thấy năm mẫu ngô ngọt của ta rồi! Giống ngô này của ta hạt to đều tăm tắp mười sáu hàng, ngọt lịm như mật, năng suất gấp bốn lần ngô địa phương, chịu hạn cực tốt. Hôm qua ta đem ra chợ huyện, khách xếp hàng dài tranh nhau mua với giá mười văn một bắp nướng, hai mươi văn một bát chè! Tiềm năng vô cùng lớn!”
Mọi người nghe đến con số mười văn, hai mươi văn thì hai mắt sáng rực lên, nuốt nước bọt ừng ực.
Nhược Lam nói tiếp, giọng điệu đanh thép, rõ ràng từng điều khoản: “Hôm nay, ta chính thức tuyên bố thành lập ‘Tổ hợp tác nông hộ Lạc Diệp’! Bất kỳ ai trong thôn tham gia vào tổ hợp tác, ta sẽ làm những việc sau: Thứ nhất, ta cung cấp miễn phí hạt giống ngô ngọt đã qua chọn lọc và ủ mầm cho mọi người! Thứ hai, ta cùng Tam Thúc sẽ trực tiếp xuống từng thửa ruộng hướng dẫn kỹ thuật ủ phân vi sinh, đào rãnh tưới tiêu và thụ phấn chéo nhân tạo để đảm bảo ruộng nhà ai cũng đạt năng suất cao nhất! Và thứ ba, điều quan trọng nhất: Ta cam kết bao tiêu toàn bộ ngô ngọt sau khi thu hoạch cho bà con với giá tối thiểu ba văn tiền một bắp tươi, cao gấp ba lần giá bọn Mã Tam Gia ép mua!”
“Ồ!”
Cả đám đông vỡ òa kinh ngạc. Ba văn tiền một bắp tươi! Một mẫu đất nếu chăm sóc tốt có thể cho ra hàng ngàn bắp, vậy là một vụ có thể thu về cả chục lượng bạc! Đó là con số mà cả đời làm lụng cực nhọc họ chưa từng dám mơ tới!
“Nhược Lam nha đầu… cháu… cháu nói thật chứ?” Bác Trương run rẩy hỏi: “Nhưng mà… Mã Tam Gia đang chặn đường ngoài đèo Cẩu Đầu, dọa đánh gãy chân ai dám mang nông sản ra chợ huyện kia kìa! Chúng ta trồng ra rồi, làm sao mang đi bán được?”
“Đúng thế, đám côn đồ Thiết Xà hung hăng lắm, giết người không chớp mắt đâu!” Một vài phụ nữ bắt đầu sợ hãi.
Nhược Lam nhoẻn miệng cười, ánh mắt tràn đầy khí phách hào sảng: “Mã Tam Gia chặn đường huyện, chẳng qua là vì hắn tưởng dân Lạc Diệp chúng ta là đàn cừu non dễ bắt nạt! Tổ hợp tác của chúng ta thành lập, không chỉ liên kết làm ăn, mà còn lập ra ‘Đội tự vệ thôn Lạc Diệp’. Trai tráng trong làng sẽ cùng nhau hộ tống xe hàng. Hơn nữa… thợ săn Tiêu Lập ở bìa rừng đã đồng ý làm giáo đầu hộ vệ cho tổ hợp tác của chúng ta!”
Vừa nghe thấy ba chữ “thợ săn Tiêu Lập”, đám đông lập tức xôn xao hẳn lên. Danh tiếng của Tiêu Lập ở thôn Lạc Diệp ai mà không biết? Đó là gã thợ săn mình đồng da sắt, một mình tay không đấm chết lợn rừng ba trăm cân, gương mặt lạnh như tiền sát khí đằng đằng. Có người như vậy đứng ra bảo hộ, ai còn dám coi thường dân làng Lạc Diệp?
“Bà con!” Nhược Lam giơ cao một xấp giấy điều lệ đã được nàng viết sẵn bằng mực tàu ngay ngắn: “Người ta muốn dồn chúng ta vào đường cùng, cướp đoạt mồ hôi nước mắt của chúng ta. Hoặc là chúng ta ngoan ngoãn cúi đầu làm nô lệ cho chúng bóc lột đến chết đói, hoặc là chúng ta cùng nhau siết chặt nắm đấm, đạp bằng chông gai để con cháu chúng ta có cơm no áo ấm! Ai muốn tham gia Tổ hợp tác Lạc Diệp, bước lên đây ký tên điểm chỉ!”
Khoảng sân im lặng trong ba nhịp thở. Sau đó, Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu là người đầu tiên bước lên, dõng dạc nói: “Nhà Tam Thúc theo cháu đầu tiên! Điểm chỉ!”
“Tôi nữa! Thằng Mã Tam Gia năm ngoái ép chết đệ đệ tôi vì món nợ mười lượng bạc, hôm nay tôi liều mạng theo Nhược Lam cô nương!” Một thanh niên vạm vỡ tên Đại Hổ bước lên, cắn ngón tay ấn mạnh vào tờ khế ước.
“Tôi theo!”
“Nhà tôi có ba mẫu đất hoang, tôi cũng tham gia!”
“Cho mụ Trương này một phần! Tao ngán cái cảnh ăn cháo cám lắm rồi!”
Khí thế bùng nổ như nước vỡ bờ. Từng cánh tay thô ráp giơ cao, từng dấu vân tay đỏ chói in lên tờ giấy quy ước. Trong khoảnh khắc ấy, khối đại đoàn kết của những người nông dân nghèo khổ đã chính thức được hình thành dưới sự dẫn dắt của một nữ tử tuổi đôi mươi mang linh hồn của thời đại mới!
*
Sáng sớm hôm sau, sương mù bảng lảng còn bao phủ sườn núi Lạc Nhạn.
Tại khúc quanh đèo Cẩu Đầu – con đường độc đạo hiểm trở nối liền thôn Lạc Diệp với huyện thành Vân Khê, không khí nồng nặc mùi thuốc lá sợi rẻ tiền và tiếng chửi thề tục tĩu.
Hơn ba mươi tên côn đồ của bang Thiết Xà đang ngồi la liệt hai bên vệ cỏ. Tên nào tên nấy c** tr*n lộ hình xăm rắn rết dữ tợn, tay lăm lăm gậy gộc, xích sắt, thậm chí có vài tên còn giắt theo dao bầu sáng loáng bên hông. Cầm đầu bọn chúng là một gã to lớn, mặt có vết sẹo dài từ khóe mắt xuống cằm, tục gọi là Sẹo Hổ – đệ nhất đao phủ dưới trướng Mã Tam Gia.
“Mẹ kiếp, đám nhà quê Lạc Diệp hôm nay chết rét trong xó rồi hay sao mà giờ này chưa thấy thò mặt ra?” Sẹo Hổ nhổ một bãi nước bọt lẫn bã trầu xuống đất, gầm gừ.
“Đại ca lo gì, Mã gia đã dặn rồi, hôm nay bắt bằng được con nha đầu họ Khương kia, đập nát cái xe lừa của nó, cướp hết ngô ngọt về. Mã gia bảo sẽ thưởng cho anh em một bữa rượu thịt no say ở lầu xanh!” Một tên lâu la nịnh hót cười hề hề.
Đúng lúc đó, từ khúc quanh phía xa vang lên tiếng lục lạc đồng leng keng thanh thúy.
“Leng keng… lọc cọc…”
Một cỗ xe kéo do chú lừa xám khỏe mạnh kéo đang thong dong tiến lại gần. Trên xe chất đầy những sọt ngô ngọt tươi rói vừa bẻ lúc rạng sáng, râu ngô đỏ hoe, hạt mẩy tròn căng lấp ló sau lớp vỏ xanh mướt. Bên cạnh còn có hai chiếc thùng gỗ lớn bốc lên mùi thơm ngào ngạt của bơ và mỡ hành phi giòn.
Dẫn đầu xe lừa chính là Khương Nhược Lam. Nàng mặc bộ y phục thô màu xanh nhạt, tóc buộc cao gọn gàng, tay cầm roi lừa, dáng đi thong dong tự tại như đang dạo chơi ngắm cảnh non nước. Đi phía sau xe là Tam Thúc và sáu thanh niên vạm vỡ của thôn Lạc Diệp do Đại Hổ dẫn đầu, tay cầm đòn gánh nhưng sắc mặt vẫn không giấu nổi vẻ căng thẳng khi nhìn thấy đám côn đồ.
“Đến rồi! Anh em, vây lại cho tao!” Sẹo Hổ vung thanh đoản đao gầm lên một tiếng.
Hơn ba mươi tên lâu la lập tức ùa ra, chặn đứng cỗ xe lừa giữa lòng đường hẹp. Tiếng kim loại va chạm leng keng, sát khí hung hãn phả vào mặt khiến con lừa xám sợ hãi hí lên một tiếng, lùi lại nửa bước.
Nhược Lam kéo dây cương giữ yên con lừa, ánh mắt bình thản quét qua đám du côn, khóe môi khẽ nhếch: “Chó ngoan không cản đường. Các ngươi là ai mà dám chặn đường xe của Tổ hợp tác Lạc Diệp chúng ta?”
Sẹo Hổ cười khằng khặc, vác đao lên vai bước tới gần: “Nha đầu ranh con, mày giả ngây giả dại với ai đấy? Mã Tam Gia đã có lời, toàn bộ ngô ngọt ở cái huyện này phải do họ Mã thu mua! Mày dám tự ý đem bán, lại còn dám để gã thợ săn đả thương người của Mã gia hôm trước à? Hôm nay, thức thời thì để lại toàn bộ xe hàng, giao nộp công thức bơ mỡ hành, sau đó ngoan ngoãn bò về phủ họ Mã xin làm nha hoàn thông phòng cho Tam Gia, may ra còn giữ được cái mạng chó!”
Đại Hổ phía sau tức đỏ mặt, giơ đòn gánh lên quát: “Lũ cướp ngày! Chúng tao liều mạng với chúng mày!”
“Liều mạng? Đám bùn đất chúng mày lấy cái gì ra liều?” Sẹo Hổ trừng mắt, vung đao chém đứt đôi một cành cây bên đường để thị uy: “Anh em, lên! Đập nát xe lừa, phế hai chân mấy thằng già kia cho tao! Con nha đầu thì bắt sống!”
Đám côn đồ hú hét man rợ, vung gậy gộc lao bổ tới như đàn sói đói.
Tam Thúc cùng mấy thanh niên Lạc Diệp biến sắc, vội vàng siết chặt đòn gánh thủ thế, nhưng trong mắt đã lộ rõ vẻ kinh hoàng.
Duy chỉ có Nhược Lam vẫn đứng sừng sững tại chỗ, không hề chớp mắt lấy một cái. Nàng khẽ thở dài một tiếng, lắc đầu lẩm bẩm: “Đúng là hết thuốc chữa. Đã cho cơ hội làm người lương thiện mà cứ thích làm quỷ.”
Đoạn, nàng cất giọng trong trẻo gọi khẽ: “Tiêu đại hiệp, có người muốn bắt nương tử… à nhầm, bắt chủ hộ của chàng về làm thông phòng kìa.”Lời nàng vừa dứt, một tiếng gió rít xé toang không khí từ trên ngọn cây thông đỏ bên vách đá đột ngột giáng xuống!
“Vút… ẦM!”
Một bóng đen cao lớn tựa thiên thần giáng thế đáp thẳng xuống ngay giữa khoảng trống giữa Nhược Lam và đám côn đồ! Luồng kình phong bùng nổ từ cú tiếp đất hất tung đất đá mù mịt, khiến năm tên côn đồ chạy đầu tiên bị chấn động văng ngược ra sau ba trượng, ngã lăn lóc trên nền sỏi.
Bụi mù tan biến. Một thân ảnh vạm vỡ, vai rộng eo thon trong bộ y phục thợ săn màu đen sừng sững hiện ra. Trên tay Tiêu Lập chẳng có đao kiếm sắc bén, chỉ cầm một đoạn gậy trúc xanh dài chừng năm thước – chính là thanh tre chàng tiện tay bẻ ở bìa rừng lúc sáng.
Gương mặt cương nghị góc cạnh của chàng lạnh lẽo như phủ sương tuyết vạn năm, đôi mắt chim ưng b*n r* những tia nhìn sắc bén như đao kiếm sa trường. Khí thế sát phạt từng trải qua trăm trận sinh tử, chém đầu vạn giặc ngoại xâm của Trấn Bắc Tướng quân vào giây phút này hoàn toàn được giải phóng!
“Vừa nãy… kẻ nào nói muốn bắt nàng?” Giọng Tiêu Lập trầm đục vang lên, tựa như tiếng chuông đồng vọng lại từ địa ngục chín tầng.
Sẹo Hổ bị khí thế kinh hoàng ấy bức lui hai bước, trán toát mồ hôi hột, nhưng nghĩ lại bên mình đông người, gã nghiến răng gầm lên: “Chính là mày! Thằng thợ săn chết tiệt! Hôm nay tao băm mày thành trăm mảnh! Giết nó!”
Hơn hai mươi tên côn đồ còn lại gầm rú xông lên, đao kiếm gậy gộc bổ xuống đầu Tiêu Lập như mưa rào.
“Cẩn thận!” Tam Thúc kinh hãi hét lên.
Thế nhưng, Nhược Lam chỉ đứng khoanh tay mỉm cười, ánh mắt tràn ngập sự tin tưởng tuyệt đối.
Chỉ thấy Tiêu Lập khẽ nghiêng mình, động tác nhanh như một tia chớp đen. Đoạn gậy trúc trên tay chàng khẽ rung lên, phát ra tiếng rít xé gió chói tai!
“Bốp! Rắc!”
Cây gậy trúc quét ngang một đường hoàn mỹ, chuẩn xác đánh gãy xương cẳng tay của ba tên cầm dao xông tới trước tiên. Đao rơi xuống đất, ba tên kia còn chưa kịp hét lên đau đớn thì đầu gậy của Tiêu Lập đã điểm thẳng vào ngực chúng, đánh bay cả ba văng vào vách đá!
Chàng không hề lùi nửa bước, ngược lại tiến thẳng vào giữa bầy lang sói như dạo chơi chốn không người. Một đòn quét, một cú giẫm, một cú gạt tàn nhẫn và dứt khoát đến tột cùng! Mỗi một âm thanh va chạm vang lên đều kèm theo tiếng xương gãy “rắc rắc” rợn người và tiếng la khóc thảm thiết của đám côn đồ Thiết Xà.
Một tên định luồn ra sau đánh lén, Tiêu Lập thậm chí không cần quay đầu lại, chân phải đá ngược một cú chuẩn xác trúng cằm hắn, khiến hắn bay lộn vòng trên không trung rồi cắm đầu xuống mương nước!
Một tên khác vung xích sắt định quấn lấy chân chàng, Tiêu Lập giẫm mạnh một cước lên mắt xích, lực đạo kinh hồn truyền qua sợi xích kéo giật tên côn đồ lao tới, nghênh đón hắn là một cú thụi cùi chỏ như búa tạ giáng thẳng vào bụng, khiến hắn nôn ra toàn mật xanh mật vàng, ngất lịm tại chỗ!
Chưa đầy một tuần trà!
Chính xác là chỉ trong thời gian uống cạn một chén trà nhỏ, toàn bộ ba mươi tên côn đồ hung hãn khét tiếng huyện Vân Khê đã nằm la liệt khắp mặt đường đèo Cẩu Đầu! Tên thì gãy tay, tên thì trật khớp háng, ôm ngực r*n r* như lợn bị chọc tiết, máu mũi máu mồm be bét, không một ai còn có thể đứng vững!
Tam Thúc, Đại Hổ và mấy thanh niên Lạc Diệp đứng phía sau trố mắt há hốc mồm, chiếc đòn gánh trên tay tuột xuống đất từ lúc nào không hay. Bọn họ dụi mắt lia lịa, tưởng như mình đang nằm mơ! Đây… đây là sức mạnh của con người sao? Một mình một gậy trúc, quét sạch ba mươi tên đao búa trong chớp mắt! Thợ săn Tiêu Lập này… rõ ràng là chiến thần chuyển thế!
Lúc này, giữa bãi chiến trường ngổn ngang, chỉ còn lại duy nhất Sẹo Hổ đang run rẩy như cầy sấy. Thanh đoản đao trên tay gã run bần bật, va vào vỏ bao lách cách.
Tiêu Lập thong dong bước từng bước về phía gã. Mỗi bước chân của chàng nện trên mặt sỏi đá như tiếng gõ cửa của thần chết.
“Ngươi… ngươi đừng qua đây! Tao là người của Mã Tam Gia… Huyện lệnh cũng phải nể mặt Mã gia… mày dám…”
“Rắc!”
Không để gã nói hết câu, Tiêu Lập vung gậy trúc đánh gãy cổ tay cầm đao của Sẹo Hổ. Thanh đao rơi keng xuống đất. Tiếp đó, bàn tay như kìm sắt của chàng vươn ra, bóp chặt lấy cổ họng gã, nhấc bổng thân hình nặng gần hai trăm cân của tên đầu gấu lên khỏi mặt đất như xách một con gà con!
Khuôn mặt Sẹo Hổ tím ngắt vì nghẹt thở, hai chân quẫy đạp loạn xạ giữa không trung, ánh mắt tràn ngập nỗi kinh hoàng tột độ khi nhìn vào đôi mắt không hề có chút cảm xúc nào của Tiêu Lập.
“Quay về nói với chủ của ngươi.” Tiêu Lập ghé sát tai gã, giọng nói lạnh lẽo tựa băng hàn: “Nếu còn dám để một kẻ nào bước chân vào thôn Lạc Diệp quấy rầy nàng… ta sẽ lột da từng tên họ Mã các ngươi, treo lên cổng thành Vân Khê phơi nắng. Cút!”
Nói đoạn, cánh tay chàng phát lực, ném thẳng Sẹo Hổ bay xa hơn hai trượng, rơi cắm đầu vào bụi gai xương rồng ven đường, rên la thảm thiết.
Đám côn đồ còn chút sức tàn thấy đại ca bị đánh như chó chết, hồn xiêu phách lạc, vội vàng bò lê bò càng, kéo lê những cái chân gãy, dìu nhau cắm đầu cắm cổ tháo chạy thục mạng về hướng huyện thành, hận không thể mọc thêm tám cái chân!
Con đường đèo Cẩu Đầu lập tức trở lại vẻ thanh bình vốn có, chỉ còn lại tiếng chim rừng hót líu lo và tiếng gió thổi xào xạc qua rặng thông.
Tiêu Lập buông rơi thanh gậy trúc gãy đôi xuống đất. Khí thế sát thần cuồn cuộn trên người chàng bỗng chốc thu liễm lại sạch sẽ. Chàng xoay người bước về phía cỗ xe lừa, đôi mắt sắc bén vừa nãy thoắt cái lại trở nên dịu dàng, ngượng ngùng khi đối diện với nụ cười rạng rỡ của Nhược Lam.
“Đã… dọn sạch đường rồi.” Chàng gãi nhẹ sống mũi, khẽ nói: “Nàng không sợ chứ?”
“Sợ cái gì chứ?” Nhược Lam bật cười giòn giã, tiến lên một bước, tự nhiên đưa tay áo thô lên chấm nhẹ vài giọt mồ hôi vương trên trán chàng: “Phu quân… à không, hộ vệ của ta dũng mãnh cái thế như vậy, ta vui còn không kịp nữa là! Cơ mà chàng có làm nứt vết thương trên vai không đấy?”
Cảm nhận được bàn tay mềm mại và hương thơm thảo mộc thoang thoảng từ người nàng, tim Tiêu Lập đập loạn xạ, chàng vội lắc đầu: “Không nứt, chỉ là mấy con tôm tép, không tốn chút sức lực nào.”
Phía sau, Đại Hổ và mấy thanh niên Lạc Diệp nhìn nhau, sau đó đồng loạt quỳ sụp xuống trước mặt Tiêu Lập, ánh mắt tràn ngập sự sùng bái tột cùng: “Tiêu đại ca! Ngài nhận chúng tôi làm đồ đệ với! Ngài quá đỉnh rồi!”
“Được rồi được rồi, muốn bái sư thì để sau!” Nhược Lam cười toe toét xua tay: “Bà con, mau lên đường thôi! Hôm nay chúng ta phải để cho cả huyện Vân Khê nếm thử hương vị đệ nhất ngô ngọt Lạc Diệp!”
“Lên đường!” Tiếng reo hò vang dậy cả núi rừng.
*
Trong khi đoàn xe của Tổ hợp tác Lạc Diệp thẳng tiến vào huyện thành thì tại nha môn huyện Vân Khê, một cơn địa chấn chính trị đang âm thầm bùng nổ.
Huyện lệnh Trịnh Khang – một vị quan thanh liêm, chính trực xuất thân từ hàn môn, vốn luôn canh cánh trong lòng việc thực hiện Khuyến Nông Chiếu của triều đình – đang ngồi trầm ngâm trong thư phòng. Trên bàn làm việc của ông ta lúc này đang đặt một tập hồ sơ dày cộp do một “thầy lang thần bí” nặc danh gửi tới qua đường cửa sổ vào đêm qua.
Đó chính là tập chứng cứ do Hắc Lục thu thập theo lệnh của Tiêu Lập!
Bên trong ghi chép rành mạch từng món nợ máu của Mã Tam Gia: từ việc cấu kết với lại dịch gian lận trốn thuế ba ngàn lượng bạc mỗi năm, đến việc cho vay nặng lãi ép chết năm mạng người nghèo để cướp đất canh tác, và cả bằng chứng gã thuê mướn côn đồ bang Thiết Xà bảo kê, lũng đoạn giá lương thực toàn huyện!
“Rầm!”
Tri huyện Trịnh Khang đập mạnh kinh đường mộc xuống bàn, tức giận đến run cả chòm râu: “Một tên phú thương cỏn con mà dám coi thường vương pháp, ức h**p bá tánh, lũng đoạn nông sản đến mức này! Đúng là sâu mọt đục khoét giang sơn!”
Đúng lúc đó, nha dịch hớt hải chạy vào bẩm báo: “Báo đại nhân! Ngoài cửa nha môn có một đám người bị đánh gãy tay gãy chân, chính là đám côn đồ của bang Thiết Xà! Chúng đang kéo đến kêu oan, bảo bị dân làng Lạc Diệp hành hung!”
Trịnh Khang cười lạnh một tiếng: “Oan cái đầu chúng nó! Thiên đường có lối không đi, địa ngục không cửa lại đâm đầu vào! Lệnh cho đầu lĩnh bổ khoái, lập tức dẫn năm mươi nha sai áp giải toàn bộ đám côn đồ vào đại lao! Sau đó, mang trát lệnh niêm phong toàn bộ gia sản Mã phủ, bắt giam Mã Tam Gia chờ ngày xét xử! Bản quan muốn nhổ tận gốc cái ung nhọt này!”
“Rõ!”
Chỉ trong một buổi sáng, tiếng còi đồng của nha sai vang rền khắp các ngả đường huyện Vân Khê. Đám mật thám của Khương Thượng thư đang trọ ở khách đ**m thấy quan phủ điều động binh mã rầm rộ, lùng bắt tội phạm gắt gao thì giật mình kinh hãi, tưởng rằng hành tung của mình bị bại lộ. Lại thêm tin tức giả do Hắc Lục tung ra về “đôi nam nữ xuôi thuyền về Giang Nam”, toán mật thám vội vàng thu dọn hành lý, phóng ngựa thục mạng rời khỏi huyện thành hướng về phía Nam, hoàn toàn bị đánh lạc hướng!
Cùng lúc đó, tại trung tâm chợ huyện Vân Khê, một cảnh tượng náo nhiệt chưa từng có đang diễn ra.
Gian hàng của “Tổ hợp tác nông hộ Lạc Diệp” vừa dựng lên đã bị hàng trăm người dân bao vây chật như nêm cối. Chiếc bếp than rực hồng nướng những bắp ngô ngọt quét lớp mỡ hành béo ngậy, tiếng mỡ xèo xèo lách tách hòa cùng mùi thơm ngọt lịm bay xa nửa dặm đường.
Chiếc nồi gang lớn đựng chè bắp non hạt sen nấu đường phèn sóng sánh óng ánh như ngọc, múc ra từng bát ngọt thanh mát rượi, giải nhiệt giữa trưa hè oi ả.
“Cho tôi ba bắp nướng!”
“Tôi mua hai bát chè, thêm năm bắp tươi mang về tự luộc cho lũ trẻ!”
“Đừng chen lấn! Ai cũng có phần!”
Tam Thúc cùng Đại Hổ và các thanh niên Lạc Diệp tay thoăn thoắt quạt than, gói hàng, mồ hôi nhễ nhại nhưng miệng cười không ngậm lại được. Tiền đồng leng keng rơi vào hòm gỗ nhiều đến mức đếm không xuể!
Đặc biệt hơn cả, sự tình Mã Tam Gia bị tống giam vào ngục tối đã lan truyền khắp huyện. Các chưởng quầy của những tửu lầu lớn nhất Vân Khê như Phúc Vận Lâu, Túy Tiên Các – những người bấy lâu nay bị Mã Tam Gia chèn ép nguồn cung – lập tức đánh hơi thấy cơ hội ngàn vàng.
Chưởng quầy Phúc Vận Lâu đích thân mang theo khế ước và một nén bạc trắng mười lượng đến tận sạp hàng, cúi đầu cung kính nói với Nhược Lam:
“Khương cô nương! Tại hạ là chưởng quầy Phúc Vận Lâu. Giống ngô ngọt này của quý tổ hợp tác quả thực là cực phẩm nhân gian, vị ngọt giòn thanh tao hiếm có! Tửu lầu chúng tôi muốn ký khế ước độc quyền cung ứng bắp tươi loại một trong suốt mùa thu này, đây là mười lượng bạc đặt cọc, cô nương thấy thế nào?”
Chưa để Nhược Lam lên tiếng, chưởng quầy Túy Tiên Các đã chen lấn chạy tới, gạt phắt người kia ra: “Lão Lý kia xê ra! Khương cô nương, Túy Tiên Các chúng tôi trả giá cao hơn hai phần! Chúng tôi muốn đặt mua trước toàn bộ sản lượng của mùa tới luôn!”
Nhìn cảnh tượng hai vị chưởng quầy quyền thế tranh nhau đặt cọc, dân làng Lạc Diệp đứng bên cạnh mà ngây người như phỗng. Họ chưa từng thấy cảnh tượng người ta tranh nhau mua nông sản của dân quê bao giờ!
Nhược Lam mỉm cười tao nhã, phong thái đĩnh đạc của một nữ thương gia tài ba lộ rõ: “Hai vị chưởng quầy chớ vội. Tổ hợp tác Lạc Diệp chúng tôi làm ăn lấy chữ tín làm đầu, không độc quyền ép giá ai bao giờ. Chúng tôi sẽ chia đều hạn ngạch cung ứng cho cả hai tửu lầu theo giá niêm yết công khai của tổ hợp tác. Chỉ cần hai vị giữ đúng cam kết, nông sản sạch và ngon nhất của Lạc Diệp sẽ luôn được ưu tiên giao đến tận cửa!”
“Tuyệt vời! Khương cô nương quả là người có khí phách lớn!” Hai vị chưởng quầy mừng rỡ, lập tức ký tên vào bản thỏa thuận bao tiêu dài hạn.
Hoàng hôn buông xuống.
Chuyến xe lừa của Tổ hợp tác Lạc Diệp trở về làng trong ánh tà dương rực rỡ. Toàn bộ ngô ngọt, bắp nướng và chè sen mang đi đều sạch bách không còn một cọng râu ngô!
Nhược Lam không chỉ thanh toán sòng phẳng bốn lượng bạc còn lại cho chủ trại lừa để sở hữu hoàn toàn chú lừa xám khỏe mạnh, mà trong túi vải của nàng còn trĩu nặng hơn ba mươi lượng bạc trắng cùng hàng vạn văn tiền đồng từ tiền bán hàng và tiền cọc của các tửu lầu!
Đêm hôm đó, sân nhà Tam Thúc sáng rực ánh đuốc. Nhược Lam ngồi bên chiếc bàn gỗ, trực tiếp chia tiền mặt cho từng hộ dân tham gia tổ hợp tác. Những đồng tiền đồng sáng loáng, nặng trịch được trao tận tay những người nông dân cả đời lam lũ.
Nhìn những giọt nước mắt hạnh phúc lăn dài trên gò má nhăn nheo của các thím, các bác, nghe tiếng cười giòn tan của lũ trẻ con khi được chia bánh kẹo mua từ huyện về, Nhược Lam cảm thấy cõi lòng mình ấm áp và ngập tràn niềm kiêu hãnh. Đây mới chính là ý nghĩa đích thực của cuộc sống mà nàng theo đuổi – dùng tri thức của mình để đem lại no ấm cho những mảnh đời cơ hàn!
*
Sáng hôm sau, trên cánh đồng Lạc Diệp.
Vụ ngô ngọt đầu tiên đã cơ bản thu hoạch xong xuôi. Những gốc rạ khô ráo được bà con nông dân dùng liềm cắt gọn gàng, bó thành từng bó lớn xếp ngay ngắn bên bờ ruộng. Theo sự hướng dẫn của Nhược Lam, toàn bộ thân cây ngô và lá già sẽ được băm nhỏ, trộn với vôi bột và men vi sinh tự ủ để chuẩn bị làm lớp phân hữu cơ màu mỡ bồi bổ lại dinh dưỡng cho đất sau một mùa vụ bội thu.
Khói lam chiều lảng bảng bay lên từ những mái nhà tranh đầm ấm, mang theo hương thơm ngọt ngào của ngô luộc và cá nướng.
Nhược Lam đứng trên bờ đê lộng gió, đưa tay vén vài lọn tóc mai lòa xòa trước trán. Ánh nắng vàng óng ả của buổi chiều tà rải nhẹ lên gương mặt thanh tú, khiến nàng trông như một tiên tử giáng trần giữa chốn hương đồng gió nội.
Tiêu Lập bước tới bên cạnh nàng từ lúc nào. Chàng đứng chắn ở phía đầu ngọn gió, bàn tay to lớn khẽ kéo lại vạt áo khoác mỏng cho nàng, cử chỉ vụng về nhưng ngập tràn sự che chở dịu dàng.
“Đang nghĩ gì thế?” Chàng trầm giọng hỏi, ánh mắt dừng lại trên sườn mặt rạng rỡ của nàng.
“Ta đang nghĩ… chúng ta đã thắng một trận thật giòn giã.” Nhược Lam ngước nhìn chàng, đôi mắt hạnh lấp lánh như chứa đựng cả ngàn vì sao: “Gian thương đã vào ngục, mật thám kinh thành đã bị đuổi đi, bà con trong thôn đã có cơm no áo ấm, xe lừa cũng đã mua đứt.”
Tiêu Lập khẽ mỉm cười, nụ cười hiếm hoi làm bừng sáng cả gương mặt cương nghị: “Đều là nhờ bản lĩnh của nàng. Khương hội trưởng của Tổ hợp tác Lạc Diệp.”
“Đương nhiên rồi!” Nàng hất cằm kiêu hãnh, sau đó phóng tầm mắt nhìn qua con suối Ngân Khê, hướng thẳng về ngọn đồi hoang vu sỏi đá thứ hai rộng hơn ba mươi mẫu đang nằm im lìm dưới chân dãy núi Lạc Nhạn.
Gió chiều thổi lồng lộng, làm tung bay tà áo thô của người thiếu nữ. Đôi mắt nàng bừng sáng một hoài bão to lớn hơn, vĩ đại hơn:
“Vựa ngô ngọt chỉ là bước khởi đầu thôi. Đã đến lúc chúng ta phủ xanh nơi này bằng đồi dâu tằm rồi!”
Sáng sớm hôm sau, khi màn sương bạc trên rặng Lạc Nhạn còn chưa kịp tan, thôn Lạc Diệp đã rộn rã tiếng gà gáy ran khắp xóm. Gió sớm mang theo hơi lạnh thanh khiết của cỏ cây đầu thu, nhưng trong gian nhà nhỏ của Khương Nhược Lam, không khí lại hừng hực tựa lò lửa.
Trên chiếc bàn gỗ mộc vừa được Tiêu Lập bào nhẵn thín mấy hôm trước, Nhược Lam trải ra một tấm giấy bản dày. Bên cạnh là chiếc đĩa sành đựng mực tàu đen nhánh cùng vài cây bút lông thỏ mà nàng nhờ người mua từ huyện lỵ về. Nàng buộc gọn mái tóc đen mượt thành búi củ tỏi cao sau gáy, hai ống tay áo vải thô màu cỏ úa được nẹp chặt bằng dải băng vải, để lộ đôi cổ tay trắng ngần, thoăn thoắt chấm mực vẽ từng đường nét ngang dọc chuẩn xác.
Đó là bản thiết kế quy hoạch ngọn đồi hoang vu thứ hai – quả đồi đất pha sỏi rộng hơn ba mươi mẫu nằm thoai thoải bên sườn đông thôn Lạc Diệp.
Suốt mấy chục năm qua, mảnh đồi ấy bị xem như “đất chết”. Sỏi đá lổn nhổn, cây gai dại mọc lút đầu người, đất cằn cỗi lại chua phèn nặng đến mức cỏ tranh cũng chẳng buồn bén rễ. Dân làng quanh năm chỉ dám chăn trâu ở ven chân đồi, chứ tuyệt nhiên không ai nghĩ đến chuyện đổ mồ hôi khai khẩn nơi đá sỏi cắn nát mũi cày này.
Nhưng trong mắt của một tiến sĩ nông học hiện đại như Nhược Lam, đó lại là một kho báu chưa được khai phá.
“Độ dốc chừng mười lăm độ, hứng trọn ánh nắng hướng đông nam, tầng đất sâu dù lẫn nhiều đá cuội nhưng khả năng thoát nước tự nhiên lại cực kỳ hoàn hảo. Dưới chân đồi lại có nhánh suối ngầm rỉ nước quanh năm…” Nhược Lam lẩm bẩm trong miệng, đầu bút lông khẽ gõ nhẹ lên cằm, đôi mắt hạnh cong cong hình trăng khuyết: “Trồng lúa thì toi công, nhưng nếu dùng để cắm dâu tằm cao sản, làm rãnh tiêu thoát nước theo đường đồng mức, thì đây chính là mảnh đất vàng!”
Nàng tính toán rành mạch trong đầu. Cây dâu tằm có bộ rễ cọc đâm sâu tới vài trượng, sức bám cực kỳ mãnh liệt, vừa có khả năng chống xói mòn đất đồi sỏi, vừa hút được các khoáng chất vi lượng từ sâu trong lòng đất. Hơn nữa, nguồn lá dâu dồi dào chính là gốc rễ để phát triển nghề nuôi tằm lấy tơ – ngành nghề mang lại giá trị gia tăng gấp hàng chục lần so với việc bán nông sản thô!
“Khương cô nương, muội… muội thật sự muốn mua đứt quyền khai khẩn quả đồi sỏi đá đó sao?”
Giọng nói dè dặt của Tam Thẩm vang lên từ phía ngạch cửa. Bà bưng một rổ khoai lang nướng thơm lừng bước vào, gương mặt chất phác tràn đầy vẻ lo lắng: “Mảnh đất ấy cứng như sắt nguội, đời cha ông nhà ta còn chẳng ai dám đụng vào. Muội vừa thu về hơn ba mươi lượng bạc từ vụ ngô ngọt, sao không mua lấy mấy mẫu ruộng màu mỡ ven sông Ngân Khê mà giữ vốn?”
Nhược Lam ngẩng đầu lên, đón lấy củ khoai nóng hổi từ tay Tam Thẩm, vừa thổi phù phù vừa bẻ đôi chia cho bà một nửa. Hương khoai mật ngọt ngào lan tỏa ngập tràn cánh mũi:
“Tam Thẩm à, ruộng ven sông tuy tốt nhưng người ta đều đã chia năm xẻ bảy, giá lại đắt đỏ, mỗi mẫu ruộng thục phải tốn tới năm sáu lượng bạc. Ba mươi mẫu ruộng đồi trọc kia tuy nhiều sỏi đá, nhưng huyện nha đang có Khuyến Nông Chiếu, đất hoang khai khẩn được miễn thuế trọn vẹn ba năm, tiền xin khế ước đóng vào nha môn chưa tới mười lượng bạc. Huống hồ, muội có cách biến đá sỏi thành vàng!”
Tam Thẩm nghe vậy thì ngẩn người. Nếu là trước kia, bà nhất định sẽ nghĩ đứa cháu gái này bị sốt đến lú lẫn. Nhưng trải qua vụ ngô ngọt kỳ tích vừa rồi, khi những bắp ngô mười sáu hàng hạt vàng óng ả đem về hàng vạn văn tiền đồng sáng lóa, lời nói của Nhược Lam đối với cả nhà Tam Thúc giờ đây chẳng khác nào khuôn vàng thước ngọc.
“Được, chỉ cần muội tính toán xong xuôi, thúc thẩm và cả cái thôn này nhất định xắn tay áo theo muội!” Tam Thẩm vỗ đùi đánh đét một cái, ánh mắt ánh lên vẻ kiên định.
Ngay buổi trưa hôm đó, Nhược Lam cùng Tam Thúc đem theo mười lượng bạc trắng và hai giỏ bắp nướng thơm phức đến nhà Triệu Lý chính.
Lão Lý chính ngoài ngũ tuần, vốn là người thận trọng cẩn triệt. Khi nghe Nhược Lam đặt thẳng mười lượng bạc lên bàn, xin lĩnh khế ước khai hoang ba mươi mẫu đồi sỏi đá mang tên hộ nữ chủ của chính nàng, lão kinh ngạc đến mức đánh rơi cả tẩu thuốc xuống sàn nhà.
“Nhược Lam nha đầu, con… con không đùa với lão già này đấy chứ? Mảnh đồi trọc ấy ngoài gai xương rồng với đá tảng thì làm được trò trống gì?”
“Lý chính thúc cứ yên tâm.” Nhược Lam khẽ cười, phong thái ung dung tự tại: “Nha môn quy định rõ, ai bỏ tiền khai hoang thì đất thuộc về người đó, có khế đỏ đóng dấu triện. Con đã khảo sát kỹ rồi. Lần này con khai hoang trồng dâu nuôi tằm, không chỉ làm cho riêng mình, mà còn cần thuê mướn rất nhiều nhân công trong thôn. Tiền công tính theo ngày, cơm nước bao trọn. Thúc phê chuẩn giấy tờ này, cũng chính là giúp cho hàng chục miệng ăn trong thôn Lạc Diệp có thêm manh áo ấm trong mùa đông tới.”
Nghe đến bốn chữ “giúp đỡ dân thôn”, đôi mắt kèm nhèm của Triệu Lý chính lập tức sáng rực lên. Thôn Lạc Diệp vốn nghèo xơ xác, năm nào nộp thuế lương thực cũng chật vật đội sổ trong cả huyện Vân Khê. Nay nếu có một nghề mới tạo ra việc làm, lại phủ xanh được đồi hoang, thanh danh của lão trước mặt Tri huyện đại nhân há chẳng phải sẽ nở mày nở mặt hay sao?
“Tốt! Khí phách lắm!” Triệu Lý chính đập bàn cái rầm, lập tức lôi nghiên mực ra ký tên, đóng triện đỏ chót lên tờ đơn xin khai khẩn rồi đích thân phóng ngựa lên huyện thành để hoàn tất thủ tục lưu trữ hộ tịch cho nàng.
Cầm tờ khế đất có đóng triện son của huyện nha trong tay, Nhược Lam thở phào một hơi nhẹ nhõm. Tấc đất tấc vàng, mảnh đất này từ nay đã chính thức mang họ Khương của nàng, ai cũng đừng hòng tơ hào cướp đoạt!
*
Ngày khởi công khai hoang đồi dâu, không khí nơi sườn đồi Lạc Nhạn náo nhiệt như mở hội.
Nhược Lam trích ra năm lượng bạc, nhờ Tam Thúc mua sắm thêm hai mươi chiếc cuốc sắt lưỡi lớn, xẻng bứng đất và cào ba răng loại tốt nhất từ lò rèn của huyện. Nàng đưa ra thông báo rõ ràng trước cổng đình làng: thuê ba mươi phụ nữ nghèo, những góa phụ neo đơn và người già còn sức lao động trong thôn để phụ trách việc dọn dẹp, phát quang bụi rậm và nhặt sỏi đá.
Mỗi ngày làm việc từ giờ Thìn đến giờ Thân, thù lao hai mươi lăm văn tiền, thanh toán sòng phẳng bằng tiền đồng ngay khi mặt trời lặn, trưa lại được phát hai chiếc bánh bao ngô hấp nóng hổi cùng bát canh rau nấu tôm đất ngọt lịm.
Mức đãi ngộ hậu hĩnh chưa từng có ấy khiến phụ nữ khắp thôn Lạc Diệp mừng đến phát khóc. Bình thường, phụ nữ nông thôn muốn kiếm được mười lăm văn tiền một ngày phải lặn lội lên rừng bẻ măng hay giặt thuê quần áo đến toét cả da tay. Nay được làm việc ngay tại làng, tiền trao cháo múc lại được chủ thương yêu chu đáo, ai nấy đều hăng hái như thể đi làm công quả cho thần tiên.
Nhược Lam chỉ định Tam Thẩm làm tổng quản sự, trực tiếp chỉ huy đội hái dâu và dọn đồi. Tam Thẩm xúc động đến đỏ hoe cả mắt, ngực ưỡn thẳng, thắt lại dải lưng vải gọn gàng, ngày ngày mang theo chiếc còi trúc nhỏ mà Nhược Lam đưa cho, điều phối công việc đâu ra đấy, phân minh không chút tư vị.
“Mọi người chú ý!” Nhược Lam đứng trên một tảng đá cao, cất giọng trong trẻo vang vọng khắp sườn đồi: “Cây gai và cỏ dại cắt sát gốc, phơi khô ngay tại chỗ rồi gom thành từng ụ lớn để đốt lấy tro! Đá tảng to thì khiêng sang hai bên bờ đồi xếp thành bờ kè chống sạt lở, tuyệt đối không vứt bừa bãi xuống suối! Đất cuốc sâu một thước rưỡi, đập vụn rồi rải vôi bột khử chua!”
Dưới sự chỉ dẫn khoa học của nàng, công việc không hề lộn xộn mà vận hành như một cỗ máy nhịp nhàng.
Khói trắng từ những ụ cỏ dại cháy âm ỉ bốc lên nghi ngút, mùi ngai ngái nồng nàn của tro thảo mộc quyện chặt vào mùi đất mới xới tạo nên một phong vị lao động tràn đầy sức sống. Lớp tro thực vật giàu kali này sau đó được cào xới trộn thẳng vào đất cát pha sỏi, biến lớp đất bạc màu trở nên xốp mềm, giàu dinh dưỡng. Hơn nữa, những tảng đá cuội được tận dụng xếp thành bờ kè bậc thang uốn lượn quanh sườn đồi, tạo nên một cảnh tượng ruộng bậc thang kỳ vĩ chẳng khác nào một bức tranh sơn thủy.
Nhưng phần việc nặng nhọc nhất – dỡ những gốc cây cổ thụ mục nát và bẩy những tảng đá ngầm nghìn cân nằm chắn lối – lại thuộc về cánh đàn ông.
Mà người dẫn đầu không ai khác chính là Tiêu Lập.
Hôm nay, chàng cởi bỏ chiếc áo choàng thợ săn nặng nề, chỉ mặc một chiếc áo ngắn cộc tay bằng vải thô màu chàm, để lộ đôi cánh tay vạm vỡ gân guốc cuồn cuộn sức mạnh và làn da màu đồng hun bóng loáng dưới ánh nắng thu. Chiếc rìu thép trong tay chàng vung lên vun vút, mỗi nhát bổ xuống đều dứt khoát, chuẩn xác, chém đứt phăng những rễ cây bàng báng to bằng bắp đùi cắm sâu dưới lòng đất.
Mồ hôi chảy ròng ròng trên gương mặt góc cạnh cương nghị, thấm ướt cả v*m ng*c rộng lớn. Mỗi khi chàng dùng đòn bẩy bằng gỗ bương nâng bổng một tảng đá tảng nặng vài trăm cân lên bờ kè, đám thanh niên trong làng lại ồ lên thán phục.
Nhược Lam đứng cách đó không xa, tay cầm chiếc bầu nước mát nấu từ râu ngô và lá tía tô, ánh mắt không tự chủ được mà dán chặt vào tấm lưng rộng vững chãi như núi thái sơn của chàng. Nàng nhìn thấy từng múi cơ bắp siết chặt dưới lớp vải mỏng theo từng nhịp thở, trái tim bỗng nhiên đập lỗi một nhịp, hai má bất giác nóng bừng như bị lửa than táp vào.
“Uống chút nước đi.”
Nàng bước lại gần, đưa bầu nước cho chàng, cố ý né tránh ánh mắt quá đỗi sâu thẳm của người đàn ông.
Tiêu Lập dừng tay, đón lấy bầu nước. Ngón tay thô ráp của chàng khẽ lướt qua mu bàn tay mềm mại của nàng, mang theo một luồng điện ấm áp khiến Nhược Lam giật mình rụt tay lại.
Chàng nhìn thấu sự ngượng ngùng của nàng, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười cực kỳ mờ nhạt nhưng ấm áp vô ngần. Tiêu Lập ngửa cổ, ừng ực uống một hơi cạn sạch nửa bầu nước ngọt mát, giọt nước rỉ ra nơi khóe miệng lăn dài qua yết hầu nhấp nhô đầy nam tính.
“Mệt không?” Nàng nhỏ giọng hỏi.
“Không mệt.” Chàng trầm giọng đáp, ánh mắt dừng lại trên những vệt bùn đất lấm lem trên gò má trắng ngần của nàng: “Có nàng ở đây, ta làm thêm mười mẫu nữa cũng được.”
Lời nói mộc mạc không chút hoa mỹ nhưng lại chứa đựng sự cưng chiều tr*n tr** đến mức khiến Nhược Lam nghẹn lời, chỉ biết hờn dỗi lườm chàng một cái: “Chỉ giỏi dẻo miệng! Mau làm đi, tối nay ta thưởng cho một đĩa cá suối kho tương đậm đà!”
“Được. Nhất ngôn cửu đỉnh.” Đôi mắt Tiêu Lập sáng bừng lên, chàng vung chiếc rìu lên không trung, tràn đầy hăng hái quay lại công việc bẩy đá.
Chỉ trong vòng bảy ngày ngắn ngủi, ba mươi mẫu đồi sỏi trọc lốc đã hoàn toàn thay da đổi thịt. Những luống đất màu nâu thẫm được cày xới tơi xốp, thẳng tắp như sợi chỉ chạy dài theo sườn đồi. Hệ thống rãnh thoát nước xương cá được đào sâu, dẫn thẳng nước mưa thừa xuống hồ chứa dưới chân núi, đảm bảo đất không bao giờ bị úng ngập rễ.
Giai đoạn xuống giống dâu bắt đầu.
Nhược Lam không dùng giống dâu ta cằn cỗi của địa phương – loại dâu lá nhỏ như bàn tay trẻ con, phiến lá mỏng dính lại nhiều xơ. Nàng đã bí mật bỏ ra một số tiền lớn, thông qua mối hàng cũ của phường dệt ở huyện Vân Khê để thu gom hàng ngàn cành dâu cao sản giống mới.
Những hom dâu dài chừng một gang tay, mập mạp, các mắt mầm căng mọng nhựa sống được Nhược Lam ngâm qua nước vôi trong pha loãng để khử khuẩn nấm mốc, sau đó nhúng đầu gốc vào dung dịch rễ cây liễu giã nát – một loại “thuốc kích rễ sinh học” tự nhiên chứa nhiều axit salicylic mà nàng học được từ kiếp trước.
Từng hom dâu được cắm nghiêng bốn mươi lăm độ xuống luống đất đã bón lót phân vi sinh ủ mục từ thân cây ngô và rơm rạ. Nhờ có chất kích rễ tự nhiên và nguồn dinh dưỡng dồi dào trong đất xốp, chỉ sau chưa đầy mười ngày đón những cơn mưa thu lất phất, cả ngọn đồi sỏi đá cằn cỗi đã đồng loạt đâm chồi nảy lộc!
Từng mầm dâu xanh biếc, mỡ màng đội đất nhô lên. Những phiến lá dâu đầu tiên bung nở, to bản bằng cả chiếc quạt nan, xanh mướt một màu ngọc bích, phiến lá dày cùi mọng nước, gân lá mềm mại. Nhìn từ xa, cả sườn đồi Lạc Nhạn như được khoác lên một tấm thảm nhung xanh ngát mênh mông, rì rào ca hát trong làn gió thu mát rượi.
Dân làng Lạc Diệp đi ngang qua ai nấy đều dừng chân kinh ngạc, xuýt xoa không ngớt: “Trời đất ơi! Khương cô nương đúng là có phép thuật của Thần Nông! Đất sỏi đá cằn khô thế kia mà trồng dâu lại tốt bời bời, lá mọc to như tai voi thế này cơ chứ!”
*
Đồi dâu đã xanh ngát, nhưng khâu quyết định sự thành bại của cơ nghiệp lụa là lại nằm ở khu nuôi tằm.
Tục ngữ xưa có câu: “Nuôi tằm ăn cơm đứng”. Con tằm là giống sinh vật cực kỳ mong manh và khó tính. Chúng sợ gió độc, sợ mùi tanh hôi, sợ ẩm ướt, lại càng sợ thời tiết nóng lạnh thất thường. Ở thời đại này, người dân nuôi tằm hoàn toàn dựa vào vận may rủi của ông trời. Mùa xuân ấm áp thì tằm sống, mùa thu đổi gió se lạnh thì tằm chết hàng loạt vì bệnh vôi hay úng nước, mười nhà nuôi thì có đến bảy nhà trắng tay ôm nợ.
Nhược Lam quyết tâm phá vỡ cái dớp “nuôi tằm dựa trời” ấy. Nàng không nuôi tằm trong các chòi lá xập xệ hay góc bếp bốc mùi khói như thói quen của người xưa, mà cho xây dựng một “nhà tằm sinh học khép kín” độc nhất vô nhị ngay cạnh chân đồi dâu.
Khu nhà nuôi tằm dài mười trượng, rộng ba trượng, được dựng bằng gạch mộc không nung trộn rơm băm và vôi sống dày tới hai lớp để tạo khoảng chân không cách nhiệt ở giữa. Mái nhà lợp ba lớp cỏ tranh dày dặn, bên dưới đóng trần bằng cót ép quét vôi trắng để chống bụi bẩn và ngăn hơi nóng từ mái phả xuống.
Điểm mấu chốt và tinh xảo nhất trong thiết kế của Nhược Lam chính là hệ thống “địa long” – lò sưởi và thông gió ngầm dưới lòng đất.
Nàng hướng dẫn thợ xây đào một hệ thống mương ngầm bằng gạch chạy zíc-zắc dưới nền nhà tằm, thông ra một cửa lò đốt củi đặt biệt lập ở phía ngoài gian phòng. Khi đốt củi trấu hoặc than hoa không khói ở bên ngoài, khí nóng sẽ theo các đường mương ngầm chạy khắp nền nhà rồi thoát ra ống khói cao vút đằng xa. Nền đất ấm áp sẽ giữ cho nhiệt độ trong phòng tằm luôn duy trì ổn định ở mức hai mươi lăm đến hai mươi bảy độ C – mức nhiệt độ lý tưởng nhất cho tằm sinh trưởng, bất chấp gió mùa đông bắc ngoài trời có gầm rít lạnh lẽo đến đâu.
Chưa dừng lại ở đó, xung quanh các vách tường, Nhược Lam cho lắp đặt các khung cửa sổ thông gió có cánh lùa bằng nan tre hai lớp. Bên ngoài mỗi cửa sổ đều được bọc một lớp vải màn thưa mỏng tẩm dầu hồi cay nồng để ngăn tuyệt đối ruồi nhặng, muỗi mòng và sâu bọ xâm nhập mang theo mầm bệnh.
Tiêu Lập đảm nhận toàn bộ phần mộc bên trong nhà tằm. Bàn tay vốn quen cầm đao kiếm sa trường của chàng khi cầm lấy cưa, bào lại khéo léo đến lạ kỳ. Chàng đẵn những cây tre bương thẳng tắp, già cấc trên núi Lạc Nhạn đem về ngâm nước vôi khử mọt, sau đó vót nhẵn thín từng dằm gai, dựng nên hàng trăm chiếc giá đỡ tằm sáu tầng vững chãi.
Những chiếc nong tằm đan bằng cật tre nhẵn bóng, phẳng phiu được xếp ngay ngắn trên từng tầng giá, cách mặt đất hơn một thước để đảm bảo độ thông thoáng tối đa. Mọi ngóc ngách trong phòng tằm đều được Nhược Lam cho xông hơi bằng thảo dược ngải cứu và bồ kết khô để sát trùng tuyệt đối trước khi đón mẻ tằm đầu tiên vào ở.
Nhìn khu nhà tằm sạch bóng, thơm tho mùi thảo mộc, ấm áp như mùa xuân giữa tiết trời chớm lạnh của mùa thu, Tam Thẩm và những người phụ nữ trong thôn bước vào mà cứ ngỡ như lạc vào chốn thiên đình.
“Trời phật ơi, nhà nuôi tằm mà còn sạch sẽ, ấm cúng hơn cả buồng tân hôn của phú hộ!” Tam Thẩm tròn xoe mắt, đưa tay sờ nhẹ lên chiếc giá tre láng mịn không một hạt bụi, lòng đầy thán phục.
Mọi thứ đã chuẩn bị hoàn hảo, chỉ còn thiếu một mắt xích tối quan trọng: Giống tằm.
Nếu chỉ nuôi giống tằm trắng thông thường thì lụa làm ra cũng chỉ như bao phường dệt khác ở Đại Ninh, giá trị không cao và rất khó tạo nên tiếng vang lớn để đánh bật các đối thủ cạnh tranh sừng sỏ. Nhược Lam muốn tạo ra một loại tơ lụa độc nhất vô nhị – lụa tơ tằm vàng kim tự nhiên óng ả như ánh mặt trời, thứ gấm vóc mà ngay cả hoàng thất cũng phải khao khát!
Và người mang lại chìa khóa vàng ấy chính là Hắc Lục.
Vào một đêm trăng khuyết, khi cả thôn Lạc Diệp đã chìm sâu vào giấc ngủ tĩnh mịch, một bóng đen thoăn thoắt lướt qua hàng rào gỗ, nhẹ nhàng đáp xuống sân sau nhà Tiêu Lập.
Hắc Lục khoác trên mình bộ y phục lái buôn rách rưới lấm lem bụi đường, trên lưng cõng một chiếc hòm gỗ trắc bọc vải dầu kín mít. Vừa bước vào phòng, gã đã thở hồng hộc, lập tức quỳ một gối xuống trước mặt Tiêu Lập:
“Khởi bẩm Chủ… à không, Tiêu đại ca! Thuộc hạ không phụ sự ủy thác của người và Khương cô nương! Suốt nửa tháng qua, thuộc hạ đã phi ngựa ngày đêm vào tận vùng rừng sâu Lam Sơn ở phương Nam, rốt cuộc cũng tìm được thứ này!”
Hắc Lục cẩn thận đặt chiếc hòm gỗ lên bàn, mở khóa đồng rồi gỡ từng lớp vải bông ấm áp ra.
Bên trong là những khay gỗ nhỏ lót lá dâu sấy khô, trên mặt khay dán đầy những hạt trứng tằm nhỏ li ti như hạt vừng. Nhưng điều kỳ diệu là, những hạt trứng tằm này không mang màu xám đen ảm đạm như tằm thường, mà lại ánh lên một sắc vàng hổ phách lấp lánh tuyệt đẹp dưới ánh đèn dầu!
“Đây là… giống Tằm Hoàng Kim đột biến của tộc người Di phương Nam!” Nhược Lam khẽ reo lên, hai mắt sáng rực như phát hiện ra một mỏ kim cương. Nàng ghé sát mắt ngắm nhìn từng hạt trứng căng mọng, ngón tay run run vì xúc động: “Loại tằm này chuyên ăn lá dâu cổ thụ trên đỉnh núi cao, nhả ra sợi tơ vàng tự nhiên không cần nhuộm phẩm màu, bền bỉ gấp ba lần tơ thường và không bao giờ phai sắc! Nghe nói giống này cực kỳ hiếm hoi, ngay cả hoàng tộc tiền triều cũng chỉ có vài thước vải cống nạp!”
Hắc Lục gãi đầu cười hề hề: “Khương cô nương quả là thần thông quảng đại, liếc mắt một cái đã nhận ra ngay! Thuộc hạ phải tốn không biết bao nhiêu công sức, dùng cả nhân sâm trăm năm mới đổi được mẻ trứng tằm nguyên bản này từ tay vị tộc trưởng già đấy ạ.”Tiêu Lập đứng bên cạnh khẽ liếc Hắc Lục một cái sắc như dao, khiến gã ám vệ rụt cổ lại ngay tức khắc. Chàng quay sang nhìn Nhược Lam, ánh mắt lập tức mềm mại lại như nước mùa thu: “Thích không?”
“Thích! Thích vô cùng!” Nhược Lam ngẩng phắt dậy, không kìm được niềm vui sướng tột cùng mà nắm lấy cánh tay Tiêu Lập lắc mạnh: “Tiêu Lập, chàng có biết mẻ tằm này có ý nghĩa thế nào không? Đây không chỉ là tơ lụa, đây là tương lai của cả thôn Lạc Diệp chúng ta đấy!”
Cánh tay rắn rỏi của Tiêu Lập bị nàng siết chặt, hơi ấm từ bàn tay nhỏ bé của nàng truyền qua lớp vải áo thô, khiến lồng ngực chàng dâng lên một dòng nước ấm áp, ngọt ngào khôn tả. Chàng nhẹ giọng đáp: “Nàng thích là được. Bất kể thứ gì nàng muốn, dù ở chân trời góc bể, ta cũng sẽ mang về cho nàng.”
Nhược Lam sững lại nửa giây, bắt gặp ánh mắt thâm tình như biển sâu của chàng, tim đập thình thịch, vội vàng buông tay ra rồi quay ngoắt sang chăm chú nghiên cứu khay trứng tằm để che giấu gò má đang đỏ ửng.
*
Công việc ấp trứng và nuôi dưỡng lứa tằm Hoàng Kim bắt đầu bằng sự cẩn trọng đến từng chi tiết.
Nhược Lam đích thân túc trực trong nhà tằm. Nàng kiểm soát nhiệt độ phòng ấp luôn ở mức hai mươi tư độ C. Sau bốn ngày được giữ ấm trong môi trường hoàn hảo, những hạt trứng màu hổ phách đồng loạt cựa mình. Từng chú tằm con bé tí xíu, đen nhánh như sợi tóc – gọi là “tằm kiến” – bắt đầu cắn vỏ chui ra.
Để nuôi dưỡng lứa tằm kiến non nớt này, Nhược Lam đặt ra một quy trình nghiêm ngặt chưa từng thấy.
Lá dâu hái từ đồi cao phải là những búp dâu bánh tẻ non mềm nhất ở tầng thứ ba, hái vào lúc sáng sớm khi sương vừa ráo nhưng mặt trời chưa gắt. Tam Thẩm dẫn đầu đội hái dâu dùng khăn lụa mềm lau sạch từng phiến lá, tuyệt đối không để dính một hạt bụi cát hay giọt nước mưa dại nào. Sau đó, lá dâu được dùng dao sắt thật sắc băm nhỏ như sợi thuốc lá, rải đều một lớp mỏng tang lên nong tre.
Không chỉ dừng lại ở đó, Nhược Lam còn áp dụng bí quyết nông học độc quyền: nàng dùng nước sắc từ rễ cam thảo, lá tía tô dại pha loãng với nước khoáng suối ngầm và một chút bột đậu tương nghiền mịn để phun sương nhẹ lên lá dâu.
Dung dịch thảo dược này vừa cung cấp thêm chất đạm thực vật giúp tằm phát triển tuyến tơ thần tốc, vừa đóng vai trò như một loại kháng sinh tự nhiên giúp tằm tăng cường hệ miễn dịch, kháng lại mọi loại khuẩn đường ruột!
Được chăm sóc bằng chế độ dinh dưỡng tối ưu và sống trong môi trường ấm áp, thông thoáng, lứa tằm Hoàng Kim lớn nhanh như thổi.
Trải qua bốn lần “ngủ” và lột xác nhịp nhàng, màu đen ban đầu của tằm kiến biến mất hoàn toàn. Thân tằm chuyển dần sang màu trắng ngà mập mạp, rồi óng ánh một sắc vàng nhạt kỳ ảo như ngọc bích điểm kim. Đầu tằm ngẩng cao, da dẻ căng mọng, bóng bẩy như được thoa một lớp mỡ mỏng.
Đến ngày thứ hai mươi, lứa tằm chính thức bước vào giai đoạn quyết định nhất: Giai đoạn “ăn rỗi”.
Đây là thời kỳ tằm ăn khỏe nhất để tích lũy dinh dưỡng tạo kén nhả tơ. Hàng vạn con tằm mập mạp nằm chen chúc trên hàng trăm chiếc nong tre, ngấu nghiến gặm những phiến lá dâu xanh mướt to bản.
Đêm đã khuya khoắt.
Bên ngoài trời thu bắt đầu nổi gió lạnh, sương muối buông dày đặc trên ngọn cây rừng Lạc Nhạn. Nhưng bên trong khu nhà tằm của Nhược Lam, không khí vẫn ấm áp như một ngày xuân phương Nam nhờ hệ thống địa long tỏa nhiệt đều đặn. Mùi thơm thanh mát, ngai ngái ngọt ngào của lá dâu tươi quyện với mùi ấm nồng của thảo mộc lan tỏa khắp không gian.
Âm thanh trong phòng lúc này tạo nên một bản hòa tấu kỳ diệu của thiên nhiên: tiếng hàng vạn con tằm Hoàng Kim đồng thanh gặm lá dâu rào rào, rào rào, dồn dập và êm ái tựa như một cơn mưa rào mùa hạ đang trút nước xuống mái tranh!
Nhược Lam mặc một chiếc áo bà ba màu thiên thanh mỏng manh, tay cầm ngọn đèn dầu nhỏ, nhẹ nhàng đi qua từng dãy giá tre. Nàng cẩn thận nghiêng người, dùng chiếc lông ngỗng mềm quét nhẹ những chiếc lá dâu khô héo ra ngoài, bổ sung thêm những phiến lá dâu tươi mọng nước cho những nong tằm đang ăn háo hức.
Đôi mắt nàng lấp lánh niềm đam mê thuần khiết của một nhà khoa học. Dưới ánh sáng ấm áp của ngọn đèn dầu, làn da trắng ngần của nàng ửng hồng vì hơi ấm, những giọt mồ hôi li ti vương trên chóp mũi thanh tú càng làm tôn lên vẻ đẹp mộc mạc, sống động và tràn đầy sức sống của người con gái lao động.
Nàng say mê ngắm nhìn đàn tằm đến mức không hề nhận ra phía sau lưng mình, một bóng hình cao lớn đã lặng lẽ đứng đó từ bao giờ.
Tiêu Lập đứng tựa lưng vào cột tre, đôi mắt chim ưng sắc bén thường ngày nơi chiến trận giờ đây chỉ còn lại sự dịu dàng vô bờ bến. Chàng im lặng ngắm nhìn nàng làm việc. Nhìn bờ vai nhỏ nhắn thoăn thoắt di chuyển, nhìn từng cử chỉ nâng niu âu yếm của nàng dành cho lũ sâu tằm nhỏ bé, trái tim vốn đã chai sạn vì gươm đao và máu lửa của vị tướng quân bỗng chốc mềm nhũn ra như nước.
Bao năm qua nơi biên ải gió cát, chàng chỉ thấy cảnh chém giết, lọc lừa và những mưu mô tranh quyền đoạt vị tanh tưởi chốn triều đình. Chưa bao giờ chàng được chứng kiến một sức sống mãnh liệt, một tâm hồn thuần khiết và ấm áp đến nhường này. Bên cạnh nàng, những vết thương sâu hoắm trong tâm hồn chàng dường như đều được xoa dịu, tan biến vào hư không.
“Nong số bảy này tằm ăn khỏe quá, ngày mai chắc chắn phải tăng thêm hai cọc lá dâu nữa mới đủ…” Nhược Lam vừa lẩm bẩm vừa đứng thẳng người dậy, khẽ vươn vai một cái thật dài xua đi sự mệt mỏi.
Đúng lúc nàng xoay người lại thì suýt chút nữa va sầm vào lồng ngực rắn chắc như bàn thạch của Tiêu Lập.
“Á!” Nàng giật mình thốt lên, chiếc đèn dầu trên tay chao đảo.
Bàn tay to lớn, ấm áp của Tiêu Lập nhanh như cắt vươn ra, một tay vững vàng đỡ lấy đáy đèn dầu, tay kia nhẹ nhàng ôm lấy eo nàng, giữ chặt cho nàng khỏi ngã.
Khoảng cách giữa hai người trong tích tắc bị thu hẹp lại đến nghẹt thở. Nhược Lam ngước mắt lên, chóp mũi gần như chạm vào cằm chàng. Nàng có thể ngửi thấy mùi hương thảo mộc thanh sạch quyện với mùi nam tính nồng nàn tỏa ra từ cơ thể chàng, nghe rõ từng nhịp đập trầm ổn, mạnh mẽ nơi lồng ngực người đàn ông.
Bốn mắt nhìn nhau trong không gian ấm áp ngập tràn tiếng tằm ăn rỗi rào rào. Thời gian dường như ngưng đọng lại.
Ánh mắt Tiêu Lập khóa chặt lấy đôi môi anh đào chúm chím của nàng, ánh mắt chàng tối sầm lại, đượm một ngọn lửa rực cháy mà nàng chưa từng thấy trước đây. Nhược Lam cảm thấy cả người mình mềm nhũn, trái tim đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, quên cả việc lùi lại.
Tiêu Lập khẽ nâng bàn tay thô ráp đầy những vết chai sạn vì cầm đao lên. Đầu ngón tay chàng ấm áp, nhẹ nhàng lướt qua gò má mịn màng của nàng, chậm rãi gạt đi một sợi tơ tằm màu vàng óng tình cờ vương trên mái tóc mai lòa xòa trước trán nàng.
Cử chỉ của chàng vụng về nhưng lại cẩn trọng nâng niu tựa như đang chạm vào một món bảo vật trân quý nhất thế gian.
“Sợi tơ vương trên tóc nàng.” Chàng trầm giọng nói, âm thanh khàn khàn đầy từ tính vang lên ngay bên tai nàng, khiến vành tai Nhược Lam đỏ rực như quả sơn tra chín mọng.
“Cảm… cảm ơn chàng…” Nhược Lam lí nhí, hai má nóng bừng, vội vàng lùi lại một bước thoát khỏi vòng tay chàng để che giấu sự bối rối: “Sao muộn thế này chàng còn chưa ngủ? Vết thương ở bả vai… đã lành hẳn chưa?”
“Lành lâu rồi, nhờ bát canh và thuốc của nàng cả.” Tiêu Lập mỉm cười, nụ cười hiếm hoi làm bừng sáng cả gương mặt cương nghị, đẹp đến mức khiến người ta lóa mắt: “Ta thấy đèn trong nhà tằm còn sáng nên qua xem. Đêm lạnh, đừng thức khuya quá kẻo ngã bệnh.”
Chàng vừa nói vừa lấy từ trong bọc áo ra một gói lá sen còn ấm nóng, đưa tới trước mặt nàng: “Lúc nãy đi tuần quanh đồi dâu, tiện tay nướng cho nàng củ khoai mật và ít hạt dẻ rừng. Ăn lót dạ đi rồi đi ngủ.”
Nhìn gói hạt dẻ rừng nứt vỏ thơm phức bốc khói nghi ngút trong tay chàng, trong lòng Nhược Lam dâng lên một dòng mật ngọt ngào không sao tả xiết. Nàng nhận lấy gói hạt dẻ, bóc một hạt vàng ươm cho vào miệng, vị bùi bùi, ngọt lịm tan chảy nơi đầu lưỡi:
“Ngon lắm! Chàng cũng ăn một hạt đi!” Nàng bóc thêm một hạt nữa, tự nhiên đưa thẳng tới bên môi chàng.
Tiêu Lập thoáng sững lại một chút, ánh mắt lóe lên một tia sáng rực rỡ. Chàng không dùng tay nhận lấy, mà cứ thế cúi đầu, trực tiếp ngậm lấy hạt dẻ từ đầu ngón tay mềm mại của nàng. Đôi môi ấm áp của chàng khẽ chạm nhẹ vào đầu ngón tay Nhược Lam, khiến cả người nàng run lên một trận run rẩy tê dại từ đầu ngón tay truyền thẳng vào tim.
“Ngọt lắm.” Chàng chậm rãi nhai, nhìn nàng bằng ánh mắt sâu thẳm tựa như muốn nuốt chửng cả hình bóng nàng vào trong đáy mắt.
Nhược Lam ngượng ngùng rụt tay lại, vờ như hờn dỗi quay đi: “Chàng… chàng chỉ toàn bắt nạt người ta thôi!”
Tiêu Lập khẽ bật cười thành tiếng – một tiếng cười trầm ấm, sảng khoái hiếm thấy. Chàng đứng thẳng người, phóng tầm mắt nhìn qua khung cửa sổ thông gió hướng về ba mươi mẫu đồi dâu bạt ngàn xanh ngát đang tắm mình dưới ánh trăng thu vằng vặc:
“Nhược Lam, nàng muốn dệt nên gấm vóc non sông, biến mảnh đất này thành trù phú… ta nhất định sẽ là cây cung vững chắc nhất, quét sạch mọi chông gai bão tố để giữ cho nàng bình yên cả đời.”
Lời hứa mộc mạc của vị chiến thần lẫy lừng thiên hạ rơi vào màn đêm tĩnh mịch, hòa cùng tiếng tằm ăn rỗi rào rào như mưa đổ, khắc sâu vào tận đáy lòng người thiếu nữ.
*
Trong khi thôn Lạc Diệp đang đắm chìm trong sự ấm áp và trù phú của mùa dâu tằm đầu tiên, thì cách đó hàng ngàn dặm về phía Bắc, tại kinh thành Thạnh An hoa lệ ngập tràn mùi son phấn và mưu mô quyền lực.
Phủ Khương Thượng thư.
Khuê phòng của Khương Ngọc Trinh – đích nữ đương triều, đệ nhất tài nữ kinh kỳ – được bài trí vô cùng xa hoa lộng lẫy. Lò trầm hương bằng ngọc bích tỏa ra làn khói trắng thơm ngát nhưng ngột ngạt. Bức rèm lụa thêu hoa mẫu đơn rủ xuống bên chiếc sập gụ khảm ốc xà cừ sáng lấp lánh.
Khương Ngọc Trinh đang ngồi trước bàn trang điểm bằng gỗ hoàng đàn, tay cầm chiếc lược ngà voi chải chuốt mái tóc đen mượt dài tới thắt lưng. Gương mặt nàng ta thanh tú, đôi mắt lá liễu luôn mang vẻ nhu mì, yếu đuối khiến bất kỳ nam nhân nào nhìn thấy cũng muốn chở che, bảo bọc.
Nhưng lúc này, vẻ nhu mì giả tạo ấy hoàn toàn biến mất, thay vào đó là sự u ám, lạnh lẽo đến rợn người.
Dưới sàn nhà bằng đá hoa cương bóng loáng, một tên mật thám áo đen phong trần mệt mỏi đang quỳ rạp người xuống đất, toàn thân run rẩy như cầy sấy.
“Ngươi nói cái gì? Nói lại lần nữa cho bổn tiểu thư nghe xem nào!” Giọng nói của Khương Ngọc Trinh rít qua kẽ răng, the thé và sắc nhọn như dao cạo.
“Khởi… khởi bẩm nhị tiểu thư!” Tên mật thám run rẩy dập đầu, trán đập côm cốp xuống nền đá: “Đám thuộc hạ theo dấu vết xuống Giang Nam thì phát hiện trúng kế ‘điệu hổ ly sơn’ của tiện nhân Khương Nhược Lam! Khi bọn ta bí mật quay trở lại huyện Vân Khê… thì… thì sự tình đã hoàn toàn thay đổi rồi!”
“Thay đổi cái gì?! Chẳng lẽ một con phế vật bị trục xuất khỏi gia môn, không một xu dính túi, lại có thể sống sót qua nổi mùa đói kém này sao?!” Khương Ngọc Trinh gằn giọng, bàn tay cầm chiếc lược ngà siết chặt đến trắng bệch các khớp ngón tay.
Trong tính toán tàn độc của nàng ta và mẫu thân, Nhược Lam bị đuổi về vùng quê xa xôi hẻo lánh ấy, không có tiền bạc, không có người chống lưng, ắt sẽ chết đói chết rét nơi xó xỉnh, hoặc bị đám côn đồ làng xóm làm nhục ép gả làm thiếp cho lão già tàn tật nào đó. Có như vậy, vị trí đích nữ Thượng thư phủ và con đường bước lên ngôi vị Mẫu nghi thiên hạ của nàng ta mới hoàn toàn không còn một vết nhơ!
Thế nhưng, tên mật thám lại run rẩy báo tin dữ:
“Bẩm tiểu thư… Khương Nhược Lam không những không chết đói, mà nàng ta… nàng ta như biến thành một con người hoàn toàn khác! Nàng ta khai khẩn đồi hoang, trồng ra một giống ngô lạ ngọt như mật, hạt căng tròn như ngọc bích, sản lượng cao gấp bốn năm lần mùa vụ bình thường! Cả huyện Vân Khê tranh nhau mua, hai đại tửu lầu lớn nhất huyện giành giật bao tiêu toàn bộ!”
“Cái gì?!”
“Chưa hết… nàng ta còn đứng ra lập ‘Tổ hợp tác Lạc Diệp’, liên kết cả thôn dân, đánh bại toàn bộ gian thương huyện thành! Hiện tại… hiện tại nàng ta đã bỏ ra hàng chục lượng bạc mua đứt ba mươi mẫu đồi sỏi đá, trồng dâu xanh ngát cả một góc trời, xây nhà tằm khép kín, thuê mướn hàng trăm nhân công… Tiếng tăm ‘Khương cô nương thần nông’ đã vang dội khắp cả huyện Vân Khê rồi ạ!”
XOẢNG!
Một tiếng động chói tai vang lên xé toang không gian tĩnh mịch của căn phòng.
Khương Ngọc Trinh giận dữ tột cùng hất tung chiếc bàn trang điểm. Chén trà thượng hạng bằng sứ hoa thanh men lam quý giá của cung đình rơi xuống đất, vỡ nát thành trăm mảnh vụn, nước trà nóng hổi bắn tung tóe lên vạt áo lụa đắt tiền của nàng ta!
“Tiện nhân! Con tiện nhân ti tiện đó!”
Khương Ngọc Trinh gầm lên một tiếng điên cuồng, gương mặt kiều diễm vặn vẹo biến dạng vì đố kỵ và căm hận tột cùng. Đôi mắt nàng ta đỏ ngầu vằn lên những tia máu:
“Một đứa con rơi bị đuổi khỏi kinh thành, dựa vào cái gì mà dám sống phong quang đàng hoàng như thế?! Dựa vào cái gì mà dám trở thành nữ phú hộ lừng lẫy, để danh tiếng vang dội đến tai người khác?!”
Nàng ta th* d*c, lồng ngực phập phồng kịch liệt. Nàng ta sợ hãi. Nếu tin tức Nhược Lam trở nên giàu có, tài năng xuất chúng truyền tới tai phụ thân Khương Thượng thư, với bản tính thực dụng máu lạnh của ông ta, rất có thể ông ta sẽ đón Nhược Lam trở lại kinh thành để lợi dụng của cải và danh tiếng của nàng ta! Khi đó, vị thế độc tôn của Khương Ngọc Trinh này sẽ bị đe dọa nghiêm trọng!
“Không thể được… Tuyệt đối không thể để con tiện nhân đó tiếp tục ngóc đầu lên!”
Khương Ngọc Trinh nghiến răng trét trét, ánh mắt lóe lên những tia độc địa lạnh thấu xương. Nàng ta cúi xuống, nhìn chằm chằm vào tên mật thám đang run rẩy, gằn từng tiếng một:
“Ngươi lập tức đi tìm phụ thân, truyền lời của ta! Nói rằng ở huyện Vân Khê đang xuất hiện một giống ngô thần kỳ và kỹ thuật dệt tơ lụa quý hiếm có thể mang lại mối lợi vạn lượng bạc cho quốc khố… Cứ nói, đã đến lúc Khương gia chúng ta phải phái người danh chính ngôn thuận về thôn Lạc Diệp ‘đón đích nữ hồi kinh’ rồi!”
Một nụ cười độc ác, nham hiểm nở rộ trên môi Khương Ngọc Trinh giữa căn phòng vương vãi mảnh sứ vỡ:
“Khương Nhược Lam… ngươi có tài gieo trồng làm giàu thì đã sao? Cơ nghiệp của ngươi, giống ngô ngọt của ngươi, và cả đồi dâu tằm vàng son đó… sớm muộn gì cũng sẽ thuộc về tay Khương Ngọc Trinh ta mà thôi!”
Gió đêm từ hẻm núi Lạc Nhạn thổi qua rặng dâu xanh ngắt, mang theo hơi sương lành lạnh phả vào khung cửa sổ gỗ của nhà nuôi tằm khép kín. Khắp gian nhà rộng thênh thang, ngoài tiếng than củi khẽ tí tách phát ra từ hầm lò bên ngoài vách đất, chỉ còn lại âm thanh rì rào nhè nhẹ — thứ thanh âm êm ả, đều đặn như mưa xuân rơi trên tàu lá chuối, chính là tiếng đàn tằm Hoàng Kim đang miệt mài gặm những phiến lá dâu non cuối cùng trước khi bước vào giờ khắc quan trọng nhất của đời mình.
Khương Nhược Lam quỳ một gối trên tấm đệm cói, mái tóc đen nhánh được búi lỏng bằng một chiếc trâm gỗ đào mộc mạc, hai ống tay áo vải thô xắn cao để lộ đôi cẳng tay trắng ngần, thon thả nhưng hữu lực. Nàng cẩn thận bốc một vốc lá dâu đã ráo sương, rải đều lên tầng nia thứ ba của giàn tre. Dưới ánh sáng vàng dịu của ngọn đèn dầu lạc, đàn tằm béo múp míp, thân mình căng mọng đang ngọ nguậy không ngừng.
Khác hẳn với giống tằm trắng bản địa mình mẩy nhợt nhạt, những chú tằm Hoàng Kim tộc Di sau khi ăn rỗi đẫy đà đã bắt đầu chuyển dần từ sắc trắng đục sang màu vàng mơ trong suốt như ngọc hổ phách. Đầu chúng khẽ ngẩng cao, hai chân trước chới với hướng lên khoảng không, lắc lư nhịp nhàng theo hình số tám.
“Lam nha đầu, con nhìn xem! Chúng nó bắt đầu ngóc đầu tìm chỗ rồi này!” Tam Thẩm Lý thị khẽ reo lên, giọng nói vừa hồi hộp vừa nén lại vì sợ kinh động đến đàn tằm. Đôi mắt thâm quầng vì hai đêm thức trắng của bà sáng rực lên: “Từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ, thẩm mới thấy giống tằm lạ lùng thế này. Toàn thân óng ánh như phát sáng, lại ăn khỏe đến mức ba mươi mẫu dâu hái mỏi cả tay!”
Nhược Lam mỉm cười, vươn ngón tay nhẹ nhàng chạm vào lưng một chú tằm đang ngo ngoe. Lớp da tằm mát lạnh, đàn hồi, bên trong bụng đã đầy ắp tơ lỏng:
“Tam Thẩm, đây là tằm chín rộ rồi. Khi ruột tằm trong suốt, phân thải ra có màu xanh nhạt và nhỏ giọt nước vàng là lúc chúng chuẩn bị nhả tơ đóng kén. Đêm nay và ngày mai là thời khắc then chốt, ngàn vạn lần không được để nhiệt độ trong phòng hạ xuống. Chỉ cần một cơn gió lạnh lọt vào làm tằm bị cảm hàn, tơ nhả ra sẽ đứt quãng, kén đóng mỏng và màu sắc xỉn đi ngay.”
Vừa nói, Nhược Lam vừa bước tới góc phòng, cúi người áp lòng bàn tay xuống nền gạch nung. Hơi ấm dịu nhẹ từ dưới sàn truyền qua lớp gạch đỏ thấu tận gan bàn tay nàng, ấm áp mà không hề khô khốc.
Đó chính là sự kỳ diệu của hệ thống sưởi ngầm “địa long” mà nàng đã dày công thiết kế. Hầm đốt lửa được đặt hoàn toàn bên ngoài gian nhà, khói độc và muội than theo ống khói cao vút thoát thẳng lên trời; chỉ có luồng khí nóng thuần khiết là được dẫn qua mạng lưới rãnh ngầm chằng chịt dưới nền đất, sưởi ấm đều khắp từng ngóc ngách. Trên trần nhà bằng tre nứa, nàng bố trí bốn cửa chớp thông gió bọc vải màn mỏng, vừa giữ được hơi ấm ổn định ở mức hai mươi lăm đến hai mươi bảy độ, vừa giúp không khí lưu thông liên tục, hơi ẩm từ phân tằm và lá dâu thừa nhanh chóng bay biến, phòng trừ triệt để bệnh nấm trắng quái ác.
“Cọt kẹt.”
Cánh cửa gỗ dày bọc nỉ khẽ mở hé ra một khe nhỏ. Một bóng hình cao lớn, vững chãi nghiêng mình bước vào, động tác vô cùng nhẹ nhàng, nhanh chóng khép chặt cửa lại để ngăn gió lạnh tràn vào.
Tiêu Lập xuất hiện trong bộ y phục ngắn bằng vải thô sẫm màu, bờ vai rộng mang theo chút sương đêm lành lạnh. Trên tay chàng là một bó củi tùng khô nỏ đã được chẻ nhỏ đều tăm tắp, không hề vương một nhánh lá tươi để tránh tạo khói. Bên tay kia, chàng xách theo một chiếc giỏ mây tỏa ra mùi thơm ngào ngạt của đồ ăn nóng hổi.
“Bên ngoài bắt đầu có sương muối, nhiệt độ đang hạ.” Tiêu Lập đặt bó củi xuống cạnh cửa, giọng trầm thấp ấm áp vang lên trong gian phòng tĩnh mịch: “Ta đã cho thêm than hầm vào lò chính ngoài hiên, kiểm tra lại rãnh thoát khói rồi. Cửa thông gió hướng Bắc cũng được che thêm một lớp phên rơm.”
Nhược Lam ngẩng đầu nhìn chàng, đáy mắt dâng lên một tia dịu dàng khó giấu. Mấy ngày nay, khi nàng và các phụ nữ trong xưởng bận rộn ngày đêm bên nong tằm, Tiêu Lập chưa từng một lời than vãn. Chàng phụ trách phần việc nặng nhọc nhất: đốn củi, kiểm tra hệ thống ống ngầm, tuần tra quanh đồi dâu bảo vệ xưởng tằm khỏi thú dữ và kẻ gian rình rập, lại còn lo từng bữa ăn giấc ngủ cho nàng.
Tiêu Lập bước tới gần, tự nhiên ngồi xuống chiếc ghế đẩu đối diện với Nhược Lam. Chàng mở nắp chiếc giỏ mây, lấy ra một chiếc bát gốm tráng men thô còn bốc khói nghi ngút:
“Cháo hạt sen nấu với ngô non và nấm hương rừng. Tam Thúc vừa ninh xong bảo ta mang sang. Nàng từ trưa đến giờ chỉ mới uống hai ngụm trà, ăn chút đi cho ấm bụng.”
Bát cháo sánh mịn, những hạt ngô vàng tươi xen lẫn hạt sen trắng bùi và nấm hương thơm lừng, bên trên rắc một nhúm hành hoa thái nhỏ li ti. Mùi thơm mộc mạc xộc thẳng vào cánh mũi khiến bụng Nhược Lam khẽ reo lên một tiếng nho nhỏ. Nàng hơi ngượng ngùng đỏ mặt, đón lấy chiếc thìa tre từ tay chàng:
“Huynh lúc nào cũng chu đáo thế. Đã bảo huynh về nhà chợp mắt một lát đi mà, vết sẹo ở vai mới lành hẳn mấy ngày, cấm có được thức đêm nhiều.”
Tiêu Lập khẽ cong khóe môi, trong đôi mắt phượng vốn sắc bén như chim ưng giờ chỉ còn lại sự dung túng vô bờ bến:
“Ta không mệt. Thấy nàng thức, ta ngủ không yên.”
Chàng vươn bàn tay thô ráp với những vết chai sạn vì cầm cung kiếm, cẩn thận chấm ngón tay gạt đi một vệt bụi tro vương trên gò má trắng mịn của nàng. Đầu ngón tay ấm nóng lướt qua da thịt mềm mại khiến tim Nhược Lam khẽ lỡ một nhịp, gò má càng thêm ửng hồng dưới ánh đèn. Chàng thu tay lại, ánh mắt dừng trên những nong tằm vàng óng:
“Đêm nay bọn chúng bắt đầu nhả tơ sao?”
Nhược Lam húp một thìa cháo ngọt lịm, ấm nóng lan tỏa khắp tứ chi, gật đầu nói:
“Đúng vậy. Bây giờ phải chuyển toàn bộ tằm chín lên né ngay. Nếu chậm trễ, tằm sẽ nhả tơ bừa bãi xuống mặt nong, vừa bẩn vừa làm hỏng sợi tơ. Tam Thẩm, thúc giục các tỷ muội mang né tre vào thôi!”
Tam Thẩm nghe vậy liền mừng rỡ đứng bật dậy, chạy ra gian ngoài vẫy tay gọi mười mấy nữ công của thôn Lạc Diệp đang túc trực sẵn sàng. Những người phụ nữ này đều là những người khéo tay, chịu thương chịu khó được Nhược Lam chọn lựa kỹ càng từ Tổ hợp tác.
Họ nhanh chóng khiêng vào hàng chục chiếc né tằm đặc biệt. Thay vì dùng né bằng cành cây bện rối rắm theo lối cũ của làng khiến kén bị méo mó và dính bết vào nhau, né tằm của Nhược Lam được đan bằng những nan tre chuốt nhẵn bóng, uốn thành từng ô gợn sóng hình mắt cáo đều tăm tắp. Mỗi ô chỉ vừa vặn cho một chú tằm nằm cuộn tròn, thông thoáng cả bốn phía.
“Nào, mọi người nhẹ tay thôi nhé! Bắt những con tằm ngực trong veo, lắc đầu mạnh để lên né trước. Mỗi ô một con, không để chúng tranh giành chỗ của nhau!” Nhược Lam cất cao giọng hướng dẫn, đôi tay thoăn thoắt bắt từng chú tằm mập mạp đặt vào các nan tre.
Tiêu Lập cũng xắn tay áo bước lại gần. Bàn tay vốn quen cầm đại đao chém tướng trên chiến trường ngàn quân vạn mã giờ đây lại vô cùng cẩn trọng, khéo léo gắp từng chú tằm mềm nhũn đặt vào ô né mà không làm tổn thương một sợi tơ nào. Nhìn bộ dạng đường đường là một chiến thần oai phong lẫm liệt lại nghiêm túc chăm chút từng con tằm nhỏ xíu, Nhược Lam không kìm được bật cười khúc khích. Tiêu Lập liếc nhìn nàng, ánh mắt tràn đầy nhu tình, khóe môi khẽ nhếch lên thành một nụ cười ấm áp.
Thời gian trôi qua êm đềm trong gian nhà tằm ấm áp. Khi tiếng gà gáy đầu tiên xé toang màn sương đêm lạnh giá nơi đầu thôn Lạc Diệp, con tằm cuối cùng cũng đã yên vị trên chiếc né tre thứ một trăm.
Và rồi, một cảnh tượng kỳ diệu đã diễn ra trước mắt tất cả mọi người.
Được hơi ấm của lò địa long vỗ về, đàn tằm Hoàng Kim đồng loạt vươn mình. Từ miệng của chúng, những sợi tơ vàng óng ánh li ti bắt đầu phun ra, thoạt tiên mỏng manh như sợi khói lam chiều, rồi đan cài vào nhau tạo thành một mạng lưới nâng đỡ vững chắc. Chú tằm uốn lượn thân mình không ngừng nghỉ, đầu lắc lư theo đường số tám chuẩn xác, từng lớp, từng lớp tơ vàng ròng bao bọc lấy cơ thể, dệt nên chiếc kén hình bầu dục tuyệt mỹ.
Dưới ánh bình minh le lói rọi qua khe cửa, hàng trăm chiếc né tre như bừng sáng. Không phải là màu trắng nhờ nhợt thông thường, mà là một màu vàng kim lộng lẫy, rực rỡ và kiêu sa, hệt như có ai đó vừa rải hàng vạn thỏi vàng ròng nguyên chất lên khắp các vách tường!
“Trời Phật ơi… Vàng! Toàn là vàng ròng!” Thím Vương, một phụ nữ lớn tuổi trong thôn run rẩy chắp tay trước ngực, đôi mắt trợn tròn kinh ngạc không thốt nên lời.
Tam Thẩm Lý thị tiến lại gần một chiếc né tre, bàn tay run rẩy chạm khẽ vào lớp kén đang dần thành hình, khóe mắt ngân ngấn nước: “Tơ này… sợi tơ này bóng bẩy quá, lại dày dặn đến thế! Cả đời ta chưa từng thấy thứ tơ nào đẹp đến nhường này!”
Các nữ công trong xưởng vỡ òa trong niềm vui sướng tột cùng. Họ ôm chùm lấy nhau, ríu rít bàn tán, tiếng cười nói rộn rã xua tan đi toàn bộ mệt mỏi của những đêm thức trắng.
Nhược Lam đứng giữa biển vàng rực rỡ ấy, hít một hơi thật sâu. Mùi hương ngai ngái ngọt ngào của kén tằm mới nhả quyện cùng mùi củi tùng ấm áp tạo nên một phong vị điền viên trọn vẹn. Nàng nhìn sang Tiêu Lập, khẽ mấp máy môi: “Chúng ta thành công bước đầu rồi.”
Tiêu Lập nhìn sâu vào đôi mắt lấp lánh như ngàn ánh sao của nàng, trầm giọng đáp: “Nàng làm được rồi. Nhược Lam, nàng là kỳ tích của mảnh đất này.”
*
Ba ngày sau, toàn bộ đàn tằm đã hoàn tất quá trình nhả tơ và hóa nhộng bên trong chiếc kén vàng. Những chiếc kén Hoàng Kim cứng cáp, vỏ dày dặn, trơn bóng và đều chằn chặn như những quả trứng chim bằng vàng được gỡ xuống khỏi né, chất đầy trong những chiếc sọt tre lớn.
Tuy nhiên, gặt hái được kén tốt mới chỉ là một nửa chặng đường. Để biến những chiếc kén này thành những cuộn tơ tằm thượng hạng có thể dệt nên gấm vóc quý giá, công đoạn ươm tơ (kéo tơ) đóng vai trò quyết định sống còn.
Tại góc sân lớn của xưởng dệt, Nhược Lam đang chỉ đạo Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu lắp ráp một cỗ máy kỳ lạ bằng gỗ sồi và tre già mà nàng đã tự tay phác thảo bản vẽ mấy ngày trước.
“Lam nha đầu, cái guồng này nhìn lạ mắt quá!” Tam Thúc dùng búa gỗ gõ nhẹ vào chốt hãm, lau mồ hôi trán tấm tắc khen: “Khác hẳn cái guồng quay tơ tay mà mấy bà trong làng hay dùng. Lại còn có cả bàn đạp chân và mấy cái rãnh sứ tròn xoe này nữa, để làm gì thế con?”
Bảo Nha đứng bên cạnh, hai bím tóc lắc lư, đôi mắt tròn xoe chớp chớp tò mò: “Đúng đó tỷ tỷ! Cái bồn đồng này lại còn đặt trên một cái lò than nhỏ xíu nữa, bộ tỷ định luộc trứng tằm ăn hả?”
Mọi người xung quanh nghe cô bé nói vậy thì bật cười rộ lên. Nhược Lam xoa đầu cô bé, cười giải thích:
“Bảo Nha thèm ăn thì lát nữa tỷ bảo Tam Thẩm rang nhộng tằm với lá chanh cho muội ăn giòn rụm nhé! Còn cỗ máy này là ‘guồng quay tơ nước ấm cải tiến’ của chúng ta đấy.”
Nàng đứng dậy, chỉ vào chiếc bồn đồng hai đáy được thiết kế vô cùng tinh xảo:
“Mọi người đều biết, cách ươm tơ truyền thống xưa nay của huyện ta là thả kén vào một nồi nước sôi sùng sục trên bếp lửa lớn, vừa khuấy vừa dùng tay kéo sợi tơ lên chiếc xa quay thô sơ. Làm như vậy có ba nhược điểm chí mạng: thứ nhất, nước quá sôi sẽ làm chín nhừ lớp keo sericin bảo vệ tơ, khiến sợi tơ bị giòn, xơ xác và mất đi độ bóng tự nhiên; thứ hai, nhiệt độ bếp củi bấp bênh, lúc nóng lúc nguội làm tơ đang rút ra bị đứt đoạn liên tục; và thứ ba, tay vừa quay xa vừa chỉnh sợi tơ sẽ không đều tay, sợi tơ kéo ra chỗ dày chỗ mỏng, khi dệt thành vải sẽ bị sọc gồ ghề.”
Các nữ công trong thôn vốn từng làm nghề ươm tơ thuê cho các xưởng nhỏ trên huyện đều gật đầu lia lịa. Thím Trương thở dài tiếp lời: “Đúng đấy cô nương! Mỗi lần ươm tơ là hai bàn tay bỏng rát vì nước sôi, sợi tơ đứt lia chia phải ngồi nối lại đến toét cả mắt, mà bán cho phường dệt vẫn bị chê là tơ loại ba, bị ép giá thảm hại!”
“Thế nên cỗ máy này sinh ra là để khắc phục toàn bộ những điểm đó!” Nhược Lam tự tin mỉm cười, bắt đầu thị phạm cho mọi người xem.
Nàng đổ nước suối trong vắt vào bồn đồng. Bên dưới bồn là một khoang chứa than củi âm ỉ, có cửa gió điều tiết nhiệt độ để giữ cho nước luôn ở mức ấm nóng vừa phải — khoảng sáu mươi lăm đến bảy mươi độ, tuyệt đối không để sôi bùng lên.
Nhược Lam thả vào bồn một nắm kén vàng Hoàng Kim. Sau vài phút ngâm nước ấm, lớp keo tơ bên ngoài mềm ra. Nàng cầm một chiếc chổi rơm nhỏ chuốt nhẵn, khẽ khuấy tròn trên mặt nước theo một chiều nhất định. Kỳ diệu thay, chỉ sau vài vòng khuấy, những đầu mối tơ vàng óng ánh đã tự động bám vào sợi rơm, ngoan ngoãn tách ra khỏi chiếc kén.
Nhược Lam nhanh thoăn thoắt gom đầu tơ của tám chiếc kén lại với nhau, luồn qua một chiếc khuyên nhỏ bằng sứ trắng mịn gắn trên giá đỡ, rồi móc vào trục lăn của guồng quay.
“Nào, nhìn kỹ nhé!”
Nhược Lam ngồi xuống chiếc ghế gỗ, một chân nhẹ nhàng đạp lên bàn đạp phía dưới.
“Két… lách cách… lách cách!”
Bàn đạp truyền lực qua hệ thống ròng rọc và bánh răng gỗ, làm cho chiếc guồng quay tơ hình bát giác bắt đầu quay tròn đều đặn. Hai tay Nhược Lam hoàn toàn được giải phóng! Nàng chỉ cần dùng hai ngón tay khẽ nắn, hướng dẫn sợi tơ chạy mượt mà qua các rãnh sứ. Sứ trắng láng mịn không hề có gờ xước, giúp tơ lướt êm ru mà không bao giờ bị tưa sợi.
Tám chiếc kén vàng nổi bồng bềnh trong bồn nước ấm khẽ xoay tròn tít mù, đồng loạt nhả ra những sợi tơ mỏng như cánh ve. Tám sợi tơ mảnh mai ấy khi đi qua khuyên sứ liền tự động se chặt lại thành một sợi tơ sống duy nhất — dẻo dai, tròn trịa, óng ánh sắc vàng kim rực rỡ dưới ánh nắng ban trưa!
Sợi tơ vàng chạy vun vút từ mặt nước lên guồng quay, cuộn thành từng lớp dày dặn, bóng mượt không một vết gãy gập, không một nút thắt, phát ra tiếng reo vui êm tai vô cùng.
“Trời đất ơi! Chạy nhanh quá mà không hề đứt sợi nào!”
“Sợi tơ đều tăm tắp, óng ánh như sợi chỉ vàng ròng vậy!”
“Tuyệt diệu quá! Dùng chân đạp thế này thì một người có thể trông được hai, thậm chí ba guồng quay một lúc!”
Tiếng trầm trồ thán phục vang lên không ngớt. Tam Thẩm và các nữ công nhìn cỗ máy mà hai mắt sáng rực lên, ai nấy đều nóng lòng muốn được tự tay ngồi vào thử sức.
Nhược Lam đứng dậy nhường chỗ cho Tam Thẩm, ân cần chỉ dẫn: “Tam Thẩm, thẩm thử đi. Chân đạp đều nhịp, mắt nhìn mặt nước, hễ thấy chiếc kén nào nhả hết tơ chỉ còn lại con nhộng chìm xuống đáy bồn thì lập tức thả thêm một chiếc kén mới vào để nối sợi. Rất đơn giản, làm quen tay là sẽ nhanh như gió.”
Tam Thẩm run rẩy ngồi vào ghế, bắt chước động tác của Nhược Lam. Ban đầu bà còn hơi ngập ngừng, nhưng chỉ sau vài nhịp đạp, cỗ máy vận hành trơn tru đến mức bà không giấu nổi nụ cười rạng rỡ: “Dễ làm quá! Nhẹ nhàng hơn cách cũ gấp trăm lần, mà tay chân không bị ngâm nước sôi bỏng rát nữa!”
Tiêu Lập đứng bên cạnh bờ rào, nhìn Nhược Lam đang nhiệt tình hướng dẫn bà con, khóe môi chàng khẽ cong lên một nụ cười tự hào. Nàng không chỉ là một nữ tử thông tuệ với những tri thức nông học kinh người, mà còn mang một tấm lòng bồ tát, luôn nghĩ cách giải phóng sức lao động, mang lại ấm no và nụ cười cho những người khốn khó xung quanh mình. Một viên ngọc quý sáng ngời như vậy, đám người mắt mù ở Thượng thư phủ kinh thành làm sao có thể xứng đáng chạm tới?
Cứ như thế, cả sân xưởng rộn rã tiếng cười nói và tiếng guồng quay tơ lách cách suốt cả buổi chiều. Từng cuộn, từng cuộn tơ tằm Hoàng Kim vàng óng ả, mềm mịn như lụa tiên sa, tỏa sáng rực rỡ dưới nắng chiều thu, xếp ngay ngắn thành từng hàng dài trên bàn gỗ lớn.Khi đem thử nghiệm độ bền, Nhược Lam lấy một sợi tơ đơn móc vào một quả cân sắt nửa cân. Sợi tơ căng phồng lên nhưng tuyệt đối không hề đứt đoạn, độ dẻo dai và đàn hồi gấp ba lần tơ trắng bản địa! Ai nấy nhìn thấy đều kinh ngạc đến chết lặng. Thứ tơ này mà dệt thành áo choàng hay cẩm bào, vừa nhẹ như mây, vừa bền bỉ qua năm tháng, lại mang sắc vàng hoàng gia tự nhiên không cần nhuộm phẩm độc hại, chắc chắn sẽ là báu vật khiến cả thiên hạ phải điên đảo!
*
Sáng ngày hôm sau, khi mười mấy cỗ guồng quay tơ nước ấm đang vận hành hết công suất, tiếng lách cách rộn ràng vang vọng khắp triền đồi thì bất ngờ từ con đường đất dẫn vào thôn Lạc Diệp vang lên tiếng vó ngựa lộc cộc cùng tiếng người huyên náo.
“Huyện lệnh đại nhân tới! Tri huyện Trịnh Khang đại nhân đích thân vi hành tới thôn Lạc Diệp ta rồi!”
Tiếng hô hoán của Lý chính từ đầu làng vọng lại khiến dân chúng đang làm việc ngoài ruộng ngô và đồi dâu xôn xao, vội vã buông cuốc xẻng chạy ùa ra nghênh đón.
Khương Nhược Lam nghe thấy vậy liền cùng Tiêu Lập và Tam Thúc chỉnh đốn lại y phục, bước ra trước cổng xưởng dệt đón khách.
Từ xa, một cỗ xe ngựa mộc mạc không hề phô trương của quan phủ từ từ dừng lại dưới bóng râm của rặng tre già. Rèm xe vén lên, Tri huyện Trịnh Khang bước xuống. Vị quan phụ mẫu ba mươi mấy tuổi, xuất thân hàn môn, vận một bộ quan phục bằng vải thô giản dị, gương mặt cương nghị, thanh liêm toát lên vẻ nho nhã, sau lưng chỉ có hai nha dịch và một viên thư lại tùy tùng mang theo sổ sách.
“Thảo dân Khương Nhược Lam / Tiêu Lập bái kiến Huyện lệnh đại nhân!” Nhược Lam và Tiêu Lập cùng mọi người đồng thanh hành lễ.
Trịnh Huyện lệnh vội vàng xua tay, bước nhanh tới đỡ lời, ánh mắt đầy vẻ hòa nhã và tôn trọng:
“Khương cô nương, Tiêu tráng sĩ, chư vị hương thân không cần đa lễ! Bản quan hôm nay thừa hành Khuyến Nông Chiếu của triều đình, nhân tiện đi tuần tra các xã thôn chuẩn bị cho vụ thu đông, nghe danh Tổ hợp tác Lạc Diệp các ngươi trồng dâu nuôi tằm rầm rộ nên đặc biệt ghé qua thị sát. Không có nghi trượng quan lại rườm rà, mọi người cứ tự nhiên!”
Nói đoạn, ánh mắt sắc sảo của Trịnh Khang lập tức bị thu hút bởi những âm thanh rộn rã phát ra từ trong sân xưởng dệt. Ông ta cất bước đi vào, tò mò nhìn quanh:
“Bản quan từ xa đã nghe thấy tiếng guồng quay tơ, nhưng âm thanh lại nhịp nhàng, êm ái lạ thường, không hề có tiếng cọt kẹt nặng nề của máy dệt cũ. Đây là…”
Lời nói của vị Tri huyện bỗng khựng lại giữa chừng. Bước chân ông ta như bị đóng đinh tại chỗ, đôi mắt mở to hết cỡ nhìn chằm chằm vào những chiếc bàn dài đặt giữa sân xưởng.
Dưới ánh nắng ban mai rực rỡ, hàng chục cuộn tơ tằm vàng óng ả đang tỏa ra ánh hào quang mềm mại, lấp lánh như dát vàng ròng. Màu vàng ấy không phải màu vàng nhuộm lòe loẹt của phẩm màu tạp nham, mà là sắc vàng hổ phách thuần khiết, quý phái, sáng trong đến nao lòng!
“Đây… đây là tơ tằm ư?!” Trịnh Huyện lệnh hít sâu một hơi, giọng nói run run vì chấn động. Ông ta bước nhanh tới bên chiếc bàn gỗ, như không tin vào mắt mình, ngập ngừng đưa bàn tay run rẩy chạm khẽ vào một cuộn tơ: “Mềm mịn như da em bé, mát lạnh nơi đầu ngón tay… Sắc vàng kim tự nhiên không tỳ vết! Đây… đây chẳng lẽ là tơ Hoàng Kim trong truyền thuyết từng xuất hiện ở tiền triều?!”
Khương Nhược Lam mỉm cười tiến lên một bước, từ tốn giải thích:
“Bẩm Huyện lệnh đại nhân anh minh. Đây chính là tơ của giống tằm Hoàng Kim tộc Di mà thảo dân hữu duyên tìm được trứng giống. Kết hợp với việc trồng dâu cao sản, xây dựng nhà tằm sưởi ngầm địa long để kiểm soát độ ẩm và nhiệt độ, thảo dân đã ươm nuôi thành công mẻ tằm này. Toàn bộ số tơ này đều được kéo bằng ‘guồng quay tơ nước ấm cải tiến’ do xưởng tự nghiên cứu, giúp sợi tơ giữ nguyên lớp keo tự nhiên, dai bền gấp ba lần tơ thường và không hề có một mối nối.”
Để chứng minh lời mình nói, Nhược Lam cầm lấy một sợi tơ, đưa cho Trịnh Huyện lệnh: “Đại nhân có thể tự tay thử độ bền của sợi tơ.”
Trịnh Khang đón lấy sợi tơ vàng mỏng manh, dùng hai tay kéo thử. Ban đầu ông ta chỉ dùng ba phần lực, sợi tơ căng ra nhưng không hề biến dạng. Ông ta kinh ngạc tăng lên năm phần, rồi bảy phần lực, sợi tơ vàng vẫn dẻo dai lạ thường, siết chặt vào ngón tay ông ta lún sâu thành vệt đỏ mà tuyệt đối không chịu đứt!
“Kỳ tích! Quả đúng là kỳ tích của trời đất ban cho huyện Vân Khê ta!” Trịnh Huyện lệnh vỗ mạnh tay lên đùi, ngửa mặt lên trời cười lớn một tràng sảng khoái: “Bản quan nhậm chức ở huyện Vân Khê ba năm nay, luôn đau đáu nỗi niềm vùng đất này đồi sỏi bạc màu, dân chúng cơ hàn, sản vật địa phương nghèo nàn không có gì cống nộp lên triều đình. Không ngờ… không ngờ một thôn Lạc Diệp nhỏ bé, dưới bàn tay tài hoa của Khương cô nương, lại có thể tạo ra báu vật cái thế bực này!”
Viên thư lại đi sau cũng há hốc mồm kinh ngạc, vội vàng chấm bút lông vào nghiên mực, ghi chép lia lịa vào cuốn sổ địa bạ nông trang.
Trịnh Huyện lệnh đi vòng quanh chiếc guồng quay tơ nước ấm, chăm chú quan sát từng chi tiết của bánh răng gỗ, khuyên sứ và bồn than ủ nhiệt, liên tục gật đầu tấm tắc:
“Sáng tạo phi phàm! Không chỉ tạo ra giống tơ quý, mà còn cải tiến nông cụ giúp tăng năng suất lao động, giảm thiểu gian khổ cho người dân. Khương cô nương, ngươi không chỉ là một kỳ tài nông học, mà còn có công lớn với muôn dân Lạc Diệp!”
Nhược Lam khiêm nhường khom mình đáp: “Đại nhân quá khen. Thảo dân chỉ mong bà con chòm xóm có thêm công ăn việc làm, không còn phải chịu cảnh đói nghèo mỗi khi mùa đông tới mà thôi.”
Trịnh Huyện lệnh nhìn quanh, thấy hàng chục phụ nữ trong thôn ai nấy đều hăng say làm việc, nét mặt rạng rỡ niềm hy vọng và ấm no, trong lòng ông ta dâng lên niềm cảm phục sâu sắc. Vị quan thanh liêm lập tức quay sang viên thư lại, dõng dạc hạ lệnh:
“Trần thư lại, mau lấy công văn của huyện nha ra đây!”
“Dạ, có thuộc hạ!” Viên thư lại vội vàng trải tờ giấy hoa tiên có đóng dấu mộc đỏ lên chiếc bàn nhỏ.
Trịnh Huyện lệnh cầm lấy chiếc bút lông, chấm đậm mực son, cất giọng sang sảng tuyên bố trước sự chứng kiến của toàn thể bà con thôn Lạc Diệp:
“Khương thị Nhược Lam có công lớn khai khẩn đồi hoang, cải tạo đất đai, thuần dưỡng thành công giống ngô ngọt siêu năng suất và sáng chế kỹ thuật nuôi tằm Hoàng Kim, cải tiến guồng quay tơ mang lại mối lợi to lớn cho nông nghiệp địa phương. Chiểu theo Khuyến Nông Chiếu của Thánh thượng, bản quan nhân danh Huyện lệnh Vân Khê, đặc cách phê chuẩn: Miễn toàn bộ thuế thủ công nghiệp và thuế dâu tằm cho Tổ hợp tác Lạc Diệp cùng toàn bộ thôn Lạc Diệp trong vòng ba năm liên tiếp!”
Lời tuyên bố vừa dứt, không gian như ngưng đọng lại trong một giây lát.
Rồi ngay sau đó, một tiếng reo hò dậy đất bùng nổ xé toang bầu trời thôn dã!
“Miễn thuế ba năm! Đại nhân vạn tuế! Khương cô nương vạn tuế!”
“Trời ơi, miễn thuế ba năm! Từ nay chúng ta có thể giữ lại toàn bộ hạt lúa củ khoai và tiền bán tơ rồi!”
Tam Thẩm Lý thị và các phụ nữ nghèo ôm chầm lấy nhau khóc nức nở vì vui sướng. Ở thời đại này, sưu cao thuế nặng luôn là tảng đá ngàn cân đè nặng lên vai người nông dân. Được miễn thuế ba năm đồng nghĩa với việc mỗi gia đình trong thôn sẽ có đủ cơm ăn áo ấm, con cái được học hành, người già có thuốc men khi đau ốm. Đây là một ân huệ to lớn như trời biển!
Trịnh Huyện lệnh tươi cười ký tên, đóng dấu son đỏ chói lên tờ công văn rồi đích thân trao tận tay cho Khương Nhược Lam. Ông ta ghé sát lại, hạ thấp giọng chân thành nói:
“Khương cô nương, tháng sau tại Phủ thành sẽ diễn ra Hội thi Dệt may thường niên quy tụ hàng trăm phường dệt lớn khắp các châu huyện, lại có cả Khâm sai đại thần của triều đình về giám sát chọn lựa cống phẩm dâng lên Hoàng thất. Bản quan hy vọng ngươi sẽ đem loại lụa tơ Hoàng Kim này tham gia. Nếu đoạt được cống phẩm thượng hạng, không chỉ có huyện Vân Khê ta được vẻ vang, mà vị thế và sự an toàn của ngươi cũng sẽ được triều đình bảo hộ tuyệt đối, không một thế lực hắc ám nào dám động tới!”
Nhược Lam trong lòng rúng động. Nàng hiểu rất rõ ý tứ sâu xa trong lời nói của Trịnh Khang. Nàng nhận lấy tờ công văn miễn thuế, khom mình hành lễ thật sâu: “Tấm lòng ưu ái của đại nhân, Nhược Lam xin ghi khắc trong tâm. Thảo dân nhất định sẽ dệt nên tấm lụa hoàn mỹ nhất, không phụ sự kỳ vọng của ngài!”
Tiễn Trịnh Huyện lệnh cùng nha dịch rời đi trong sự hân hoan rợp trời của dân làng, xưởng tằm Lạc Diệp như biến thành một ngày hội lớn. Tam Thúc lập tức cho mổ hai con lợn béo nuôi bằng ngô vụ trước, Tam Thẩm cùng các thím nhóm bếp nổi lửa, làm tiệc ăn mừng lớn nhất từ trước tới nay. Những đĩa nhộng tằm béo ngậy rang lá chanh thơm phức, những mâm xôi ngô ngọt dẻo quánh, nồi canh gà hầm măng rừng bốc khói nghi ngút được dọn ra giữa sân.
Tiếng cười giòn giã, tiếng chúc tụng va chén rộn ràng vang vọng khắp thung lũng. Bảo Nha vừa nhai nhộng tằm giòn rụm vừa chạy lăng xăng quanh các né tằm vàng, nụ cười rạng rỡ như đóa hoa rừng nở rộ.
Nhược Lam đứng tựa lưng vào lan can gỗ bên bờ đồi dâu, tay cầm chén trà thảo mộc thơm dịu, ngắm nhìn khung cảnh ấm no trù phú mà mình đã dốc bao tâm huyết gầy dựng. Một bàn tay ấm áp khẽ chạm vào vai nàng. Tiêu Lập bước tới, đứng sóng vai bên nàng, ánh mắt hướng về phía hoàng hôn đang nhuộm đỏ rực rặng núi Lạc Nhạn:
“Nàng đã làm được điều phi thường nhất.”
Nhược Lam khẽ nghiêng đầu nhìn chàng, khóe môi cong lên nụ cười thanh thản: “Đây mới chỉ là khởi đầu thôi. Ta muốn cả ngọn đồi này, cả thung lũng này sẽ phủ kín sắc xanh của ngô và dâu tằm. Mọi người đều có nhà ngói để ở, có áo ấm để mặc qua mùa đông.”
Tiêu Lập nhìn sườn mặt thanh tú của nàng dưới ánh hoàng hôn, lồng ngực chàng dâng lên một cỗ nhiệt huyết chưa từng có: “Bất luận nàng muốn đi bao xa, xây dựng bao nhiêu điền trang, ta đều sẽ dùng sinh mệnh này chắn trước gió bão cho nàng.”
Nhược Lam ngẩn ngơ nhìn sâu vào ánh mắt kiên định, thâm tình của chàng. Trái tim nàng đập rộn ràng, những ngọt ngào dịu êm len lỏi khắp tâm can.
Thế nhưng, niềm vui bình yên chốn điền viên chưa kéo dài được bao lâu thì bỗng nhiên, một âm thanh chát chúa phá vỡ bầu không khí náo nhiệt nơi đầu làng.
“Keng! Keng! Keng!”
Tiếng lục lạc đồng kêu vang inh ỏi, dồn dập và trịch thượng. Kèm theo đó là tiếng roi ngựa vun vút quất mạnh vào không trung xé toang màn chiều tĩnh mịch:
“Tránh ra! Toàn bộ lũ tiện dân bẩn thỉu kia mau cút hết sang hai bên đường! Đui mù hết cả rồi sao mà dám cản đường xe của quý nhân phủ Thượng thư kinh thành?!”
“Quang quác! Ụt ịt!”
Đàn gà vịt của dân làng đang kiếm ăn ven đường bị tiếng roi ngựa và tiếng quát tháo làm cho kinh hoảng bay tán loạn, lông vũ rơi lả tả. Một vài đứa trẻ con đang chơi đùa sợ hãi òa khóc nấp sau lưng mẹ.
Toàn bộ tiếng cười nói trong sân xưởng dệt lập tức im bặt.
Dân làng kinh ngạc và hoảng hốt dồn dạt nhìn ra cổng làng.
Từ khúc quanh của con đường đất lớn, một cỗ xe ngựa hai ngựa kéo vô cùng hoa lệ, lộng lẫy đang nghễu nghện tiến vào. Thân xe làm bằng gỗ đàn hương bóng loáng, phủ gấm thêu hoa văn mây tía lộng lẫy, bốn góc mái che treo những chùm tua rua đỏ và lục lạc bằng đồng thau sáng choang.
Đi kèm phía trước và hai bên xe là tám tên gia đinh mặc áo giáp da màu xám tro, thắt lưng đeo đao, mặt mày vênh váo hất ngược lên trời, ánh mắt tràn đầy vẻ khinh bỉ tột cùng nhìn những ngôi nhà tranh vách đất của thôn dã. Đi đầu đoàn người là một gã trung niên mặc cẩm bào xanh lục, đầu đội mũ chóp nhọn, tay cầm chiếc roi ngựa bọc da hổ, bộ ria mép tỉa tót kỹ càng giật giật từng cơn ngạo mạn.
Đó chính là đoàn người của Khương phủ Thượng thư từ kinh thành Thạnh An xa xôi ngàn dặm!
Cỗ xe ngựa ngang nhiên phi thẳng tới trước cổng xưởng dệt của Nhược Lam rồi thô bạo dừng phắt lại. Bụi đất mù mịt bốc lên cuốn thẳng vào bàn tiệc mừng của dân làng.
Gã trung niên cầm roi da nhảy phắt xuống ngựa, đưa mắt đảo quanh một lượt đồi dâu xanh ngút ngàn và những cuộn tơ vàng óng ánh đang phơi giữa sân, nơi đáy mắt gã lóe lên một tia tham lam tột độ. Gã hắng giọng một tiếng thật to, chiếc roi da trong tay gõ côm cốp vào lòng bàn tay, ngửa mặt lên trời cất giọng the thé, trịch thượng và đầy uy h**p:
“Người đâu! Tiện nhân Khương Nhược Lam đang trốn chui trốn nhủi ở xó nào, còn không mau quỳ xuống tiếp chỉ của Lão gia Thượng thư phủ?!”
Bầu không khí trong sân lập tức đông cứng lại như rơi vào hầm băng.
Tam Thẩm và Tam Thúc tái mét mặt mày, run rẩy nắm chặt lấy góc áo. Các thôn dân nhìn đám gia nhân hung hãn mang theo binh khí thì sợ hãi lùi lại phía sau.
Duy chỉ có Khương Nhược Lam là đứng yên bất động giữa sân.
Nàng khẽ nâng mí mắt, ánh mắt trong veo như làn nước mùa thu bỗng chốc trở nên sắc bén và lạnh lẽo thấu xương. Nhìn cỗ xe ngựa phủ gấm xa hoa cùng bộ mặt trơ trẽn của đám gia nô Thượng thư phủ, khóe môi nàng khẽ nhếch lên thành một nụ cười mỉa mai, u ám:
Rốt cuộc, đám ruồi muỗi kinh thành thèm khát lợi ích cũng đã ngửi thấy mùi mật ngọt mà mò tới rồi sao?
Bên cạnh nàng, Tiêu Lập không nói một lời. Ánh mắt đại bàng của chàng khẽ híp lại, sát khí lạnh thấu xương từ từ lan tỏa khắp quanh thân. Bàn tay giấu sau vạt áo thô của chàng đã âm thầm đặt lên chuôi đoản đao sắc lẹm, cơ bắp toàn thân siết chặt lại như một con mãnh thú chuẩn bị vồ mồi.
Bụi đất màu vàng sẫm cuộn lên mù mịt theo từng bước chân ngựa, phả thẳng vào mặt bàn gỗ vừa bày biện những đĩa bánh ngô thơm phức cùng bát nước chè xanh mộc mạc của dân làng. Tiếng vó ngựa dồn dập dẫm nát cả những vạt cỏ non ven đường, chiếc roi da trong tay gã trung niên áo lục vẫn không ngừng vung lên vun vút, xé rách bầu không khí yên ả của buổi chiều tà thôn Lạc Diệp bằng những âm thanh chát chúa, chói tai.
“Toàn bộ câm họng hết cho ta! Lũ dân đen hạ đẳng các ngươi điếc cả rồi sao?!”
Gã trung niên hất cằm lên tận trời, hai chòm ria mép tỉa tót cong vút giật giật từng cơn khinh miệt. Đôi mắt ti hí của gã đảo quanh một vòng từ những mái nhà tranh liêu xiêu, vách đất nứt nẻ cho đến đám đông nông dân đang lấm lem bùn đất, cuối cùng dừng lại trên giàn phơi tơ tằm vàng óng ánh dựng ngay góc sân lớn.
Khoảnh khắc nhìn thấy những cuộn tơ tằm Hoàng Kim rực rỡ như được dệt từ ánh nắng ban mai, lấp lánh thứ ánh sáng kiêu kỳ và quý phái mà ngay cả các phường dệt cống phẩm lớn nhất kinh thành Thạnh An cũng chưa từng có, con ngươi gã bỗng co rụt lại, sau đó bùng lên một tia tham lam trắng trợn, nóng rực đến mức không thèm che giấu.
Khương Nhược Lam đứng ngược chiều gió, vạt áo vải thô màu xanh nhạt khẽ lay động. Nàng chậm rãi chớp mắt, ánh nhìn trong veo như nước suối đầu nguồn nhưng nơi đáy mắt lại tĩnh lặng tựa đầm sâu ngàn năm không một gợn sóng.
Ký ức của nguyên thân trong đầu nàng lập tức cuộn trào như thủy triều. Gương mặt bóng nhẫy dầu mỡ, dáng điệu khúm núm trước mặt chủ tử nhưng lại hung hăng cắn xé kẻ yếu này, nàng làm sao có thể quên được?
Đại quản gia của Khương Thượng thư phủ — Khương An!
Năm đó, chính bàn tay béo múp mang đầy nhẫn ngọc này đã vứt nàng xuống cỗ xe bò rách nát giữa đêm mưa tuyết, lạnh lùng ném vào ngực nàng một túi cám mốc meo cùng lời sỉ nhục cay độc, đuổi nàng khỏi cánh cổng son lộng lẫy của kinh thành để dọn đường cho thứ muội Khương Ngọc Trinh độc chiếm danh xưng tài nữ đệ nhất. Khi ấy, nguyên thân sốt cao mê man, chỉ biết khóc lóc cầu xin một chút thương xót nhưng gã quản gia này chỉ cười khẩy, thậm chí còn nhổ một bãi nước bọt xuống bùn dơ trước khi quay lưng đóng sầm cửa phủ.
Bàn tay to lớn, ấm áp của Tiêu Lập bất chợt siết nhẹ lấy cổ tay nàng. Hơi ấm vững chãi như một vách đá sừng sững lập tức kéo Nhược Lam ra khỏi dòng hồi ức u ám. Chàng không nói một lời, nhưng lồng ngực rắn rỏi khẽ phập phồng, khí thế sắc lạnh tựa sương giá sa trường từ người chàng âm thầm tỏa ra, bao bọc lấy nàng trong một vòng phong tỏa tuyệt đối an toàn. Bàn tay còn lại của Tiêu Lập đã đặt hờ lên chuôi đoản đao giấu bên hông, cơ bắp căng chặt dưới lớp áo vải gai thô, sẵn sàng chém đứt bất cứ kẻ nào dám tiến lại gần nàng thêm nửa bước.
Nhược Lam khẽ nghiêng đầu, vỗ nhẹ mu bàn tay chàng, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười trấn an. Nàng mấp máy môi, dùng khẩu hình nói nhỏ: “Đừng nóng, để ta xem lũ chó săn này định diễn trò hề gì.”
Thấy trong sân không ai quỳ lạy, trái lại đám dân làng chỉ trừng mắt nhìn mình với vẻ cảnh giác và phẫn nộ, Khương An cảm thấy uy phong của Thượng thư phủ bị xúc phạm nghiêm trọng. Gã giẫm mạnh đôi ủng da bóng loáng xuống nền đất bụi bặm, chiếc roi da trong tay gõ côm cốp vào lòng bàn tay, ngón tay trỏ chỉ thẳng vào mặt Nhược Lam, the thé cất giọng:
“Khương Nhược Lam! Ngươi thấy bản quản gia đích thân giá lâm mà không mau quỳ xuống dập đầu tạ tội? Ngươi tưởng trốn đến chốn rừng thiêng nước độc, dính chút bùn phân của lũ tiện dân này là có thể quên mất quy củ của phủ Thượng thư sao? Lão gia nhân từ rộng lượng, niệm tình phụ tử cốt nhục, không đành lòng thấy ngươi chết rũ nơi xó rừng hẻo lánh nên mới đặc ân ban thưởng cho ngươi một con đường sống. Còn không mau mau bò tới đây nhận ân điển!”
Tiếng the thé chói tai tựa hoạn quan của gã vừa dứt, Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu từ phía sau đã run rẩy bước lên. Gương mặt khắc khổ của người nông dân chất phác xám ngoét vì sợ hãi uy thế quan lớn kinh thành, nhưng hai chân ông vẫn kiên quyết đứng chắn trước mặt Nhược Lam, hai bàn tay thô ráp chắp lại trước ngực:
“Vị… vị quản gia đại nhân này, xin ngài bớt giận. Lam nha đầu… con bé đã chịu đủ khổ cực rồi, nay vừa mới yên ổn làm ăn, xin các quý nhân trên kinh thành tha cho con bé…”
“Cút ra một bên! Lão già bẩn thỉu từ đâu chui ra mà dám xen mồm vào chuyện của phủ đệ quyền quý?!”
Khương An trợn trừng mắt, chiếc roi da trong tay vung lên định quất thẳng vào mặt Tam Thúc.
Thế nhưng, ngọn roi còn chưa kịp chạm tới mép áo Tam Thúc thì một luồng gió mạnh rít lên xé gió.
“Vút!”
Khương An chỉ cảm thấy cổ tay mình tê dại buốt óc, chiếc roi da hổ quý giá đã bị một bàn tay cứng như gông sắt túm chặt lấy giữa không trung. Gã kinh hoàng ngước nhìn lên, lập tức va phải đôi mắt chim ưng đen thẳm, lạnh lùng không chút hơi ấm của Tiêu Lập. Sát khí bốc lên ngùn ngụt từ thân hình vạm vỡ như thiết tháp của chàng thợ săn khiến Khương An rùng mình một cái, da gà da vịt nổi khắp toàn thân, tim đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.
“Ngươi… ngươi là cái thớ gì? Dám cản bản quản gia?!” Khương An lắp bắp, cố dùng tiếng quát tháo để che đậy sự sợ hãi đang dâng trào trong đáy mắt.
Tiêu Lập không thèm đáp nửa lời. Bàn tay chàng khẽ chuyển động, một lực vặn chuẩn xác dứt khoát phát ra.
“Rắc!”
Cán roi bằng gỗ mun bọc da hổ lập tức gãy làm đôi giòn tan như một nhánh củi khô. Tiêu Lập buông tay, nửa đoạn roi rơi bịch xuống đất, chàng lạnh lùng phun ra một chữ:
“Cút.”
Tám tên gia đinh mặc giáp da đi theo lập tức rút xoẹt trường đao bên hông ra, mặt đằng đằng sát khí vây quanh: “Toàn lũ tiện dân to gan! Dám vô lễ với Đại quản gia, muốn tạo phản sao?!”
Bầu không khí căng thẳng như dây đàn sắp đứt. Dân làng Lạc Diệp tuy sợ hãi đao kiếm sáng loáng, nhưng nhìn thấy Nhược Lam và Tiêu Lập bị bao vây, máu nóng trong người họ cũng bùng lên. Mấy tháng qua, nhờ có Nhược Lam mà bọn họ có cơm no áo ấm, con cái có tiền mua thuốc, người già có manh áo lành lặn. Nhược Lam chính là ân nhân tái sinh của cả thôn!
“Các ngươi muốn làm gì?!”
“Nơi này là thôn Lạc Diệp, không phải chỗ cho lũ chó săn các ngươi giương oai!”
Lý chính cùng đám thanh niên trai tráng lập tức xách cuốc, gậy gộc, đòn gánh ùa tới, đứng san sát sau lưng Tiêu Lập và Nhược Lam, ánh mắt trừng trừng căm phẫn đối đầu với đám gia nô hung hãn.
Khương An thấy tình thế có phần bất lợi trước sự đoàn kết của đám dân nghèo, liền hít sâu một hơi, nén sự kinh hãi xuống đáy lòng. Gã chỉnh lại chiếc mũ chóp nhọn xộc xệch, đưa tay phẩy nhẹ ra hiệu cho đám gia đinh hạ đao, sau đó quay sang nhìn Nhược Lam bằng ánh mắt mỉa mai, khinh bỉ tột độ.
“Khương Nhược Lam, ngươi giỏi lắm, nuôi được một con chó săn trung thành đấy.” Khương An cười gằn, từ trong tay áo rút ra một túi vải thô ném toẹt xuống mặt đất dưới chân nàng.
“Keng! Coong!”
Chiếc túi lỏng lẻo bung ra, mười thỏi bạc vụn xám xịt, méo mó văng tung tóe ra nền đất bụi bặm, lẫn lộn cùng rơm rạ mục nát.
“Lão gia có lời khen cho ngươi.” Khương An vuốt lại chòm râu chuột, cất giọng trịch thượng, cao giọng như thể đang ban phát ân huệ tày trời: “Ngươi ở nơi đồng không mông quạnh này mà cũng biết học đòi nghề trồng trọt dệt lụa, làm ra được chút tơ vàng coi như cũng có chút công lao. Nhị tiểu thư Ngọc Trinh tấm lòng bồ tát, biết ngươi lưu lạc cực khổ nên đã xin Lão gia cho người mang kiệu hoa về đón ngươi hồi kinh.”
Nói đoạn, gã hất cằm về phía chiếc kiệu hoa cũ nát, rèm vải đỏ đã bạc màu và rách rưới đang đỗ chỏng chơ sau cỗ xe ngựa hoa lệ:
“Nghe cho kỹ đây! Lão gia đã đích thân đính ước cho ngươi một mối lương duyên trời ban. Lưu Thị lang của Bộ Lễ vừa mới mất kế thất, ngài ấy nể mặt Lão gia mới chịu đồng ý cưới ngươi vào phủ làm kế thất. Lưu đại nhân năm nay tuổi tuy ngoài lục tuần, nhưng gia tài bạc triệu, quyền cao chức trọng. Ngươi gả qua đó làm kế thất danh chính ngôn thuận, đời này không cần phải dầm mưa dãi nắng, chân lấm tay bùn nữa!”
Khương An dừng lại một nhịp, quan sát sắc mặt Nhược Lam, thấy nàng vẫn im lặng liền tưởng nàng đã bị tiền tài và danh vọng kinh thành làm cho mụ mẫm đầu óc, bèn đắc ý nói tiếp phần mưu đồ đen tối nhất:
“Tất nhiên, làm kế thất của bậc quan lớn thì phải có của hồi môn tương xứng. Lão gia lệnh cho ngươi: lập tức giao nộp toàn bộ công thức ủ phân, kỹ thuật dẫn nước, bí phương nuôi tằm nhả tơ vàng cùng toàn bộ khế ước ba mươi mẫu đồi dâu và xưởng dệt này cho bản quản gia mang về kinh thành. Phủ Thượng thư sẽ tiếp quản toàn bộ cơ nghiệp này để biến nó thành của hồi môn cho ngươi. Mười lượng bạc vụn này là tiền thưởng Lão gia ban cho ngươi mua sắm lộ phí lên đường. Còn không mau quỳ xuống tạ ơn trời biển của Khương phủ?!”
Lời nói của Khương An vừa dứt, cả khoảng sân bỗng chốc im phăng phắc.
Một sự tĩnh lặng đến rợn người.
Tất cả bà con lối xóm đều sững sờ, sau đó là một làn sóng phẫn nộ trào dâng trong lồng ngực mỗi người. Gả cho một lão già hơn sáu mươi tuổi làm kế thất? Bắt giao nộp toàn bộ mồ hôi, nước mắt, công sức của bao nhiêu ngày tháng khai hoang mở đất chỉ để đổi lấy mười lượng bạc vụn và một cỗ kiệu nát? Đây mà gọi là ân điển sao? Mười lượng bạc vụn này thậm chí còn chưa đủ mua nổi hai con lừa kéo xe hay dăm tạ vôi bột cải tạo đất, thế mà dám trơ trẽn đòi nuốt trọn cả cơ nghiệp tơ tằm! Đây rõ ràng là cướp đoạt trắng trợn! Là đẩy người ta vào hố lửa!
Khương Nhược Lam nhìn chằm chằm vào mấy thỏi bạc vụn lấm lem bùn đất dưới chân, sau đó nàng bật cười.
Tiếng cười của nàng trong trẻo, giòn giã như chuông bạc va vào nhau giữa chiều lộng gió, vang vọng khắp sườn đồi, nhưng lại mang theo một sự châm biếm sâu cay khiến nụ cười đắc ý trên mặt Khương An từ từ đông cứng lại.
“Ngươi cười cái gì? Tiện tỳ to gan!” Khương An gắt gỏng.
Nhược Lam thu lại nụ cười, ánh mắt nàng lóe lên tia sáng lạnh lẽo như lưỡi dao cạo. Nàng tiến lên một bước, mũi hài vải giẫm thẳng lên túi bạc vụn, nghiền mạnh xuống lớp đất cát:
“Ta cười cho sự trơ trẽn đến mức không biết xấu hổ của Khương gia các ngươi! Ta cười cho cái thứ gọi là phụ từ tử hiếu của Khương Thượng thư!”
Nàng ngẩng cao đầu, giọng nói sang sảng, từng câu từng chữ rõ ràng đanh thép vang vọng khắp sân:
“Năm xưa, khi ta sốt cao mê man, hơi thở thoi thóp, Khương phủ các ngươi vì muốn dọn đường cho Khương Ngọc Trinh trèo cao mà nhẫn tâm vứt bỏ ta như một con chó rách! Lúc ta đói rét không một hạt gạo vào bụng, các ngươi ở đâu? Lúc ta phải đào rễ cây rừng, ăn cháo cám qua ngày, Khương Thượng thư từ bi của ngươi ở đâu? Lúc ta cùng bà con Lạc Diệp đổ từng giọt mồ hôi, cuốc từng tấc đất sỏi đá bạc màu để dựng nên cơ nghiệp này, đám quý nhân kinh thành các ngươi ở đâu?!”
Nhược Lam chỉ thẳng tay vào mặt Khương An, ánh mắt sắc bén khiến gã quản gia bất giác lùi lại nửa bước:
“Nay thấy ta trồng được bắp ngọt, dệt được tơ vàng, ngửi thấy mùi bạc trắng béo bở là lũ kền kền các ngươi lập tức bay tới rỉa rói! Gả cho lão già sáu mươi tuổi làm kế thất? Giao nộp bí phương và điền trang làm của hồi môn? Khương An, ngươi về bảo với Khương Thượng thư và Khương Ngọc Trinh rằng, bàn tính của bọn họ gõ vang quá rồi đấy, cách xa ngàn dặm ta cũng nghe thấy mùi hôi tanh!”
“Ngươi… ngươi dám đại nghịch bất đạo!” Khương An tức đến nghẹn họng, ngón tay run rẩy chỉ vào nàng: “Lão gia là phụ thân ruột thịt của ngươi! Thân thể ngươi là do ngài ấy ban cho! Lời của phụ thân lớn hơn trời, phụ bảo tử vong, tử bất vong bất hiếu! Dù ngài ấy có bảo ngươi đi chết, ngươi cũng phải ngoan ngoãn thắt cổ! Ngươi dám cãi lệnh cha ruột sao?!”
Gã quản gia híp mắt lại, nhe hàm răng vàng khè ra đe dọa, giọng điệu chuyển sang hung hiểm tột cùng:
“Khương Nhược Lam, ngươi đừng rượu mời không uống lại muốn uống rượu phạt! Ngươi nghĩ cái huyện Vân Khê cỏn con này có thể bảo vệ được ngươi sao? Lão gia chỉ cần một phong thư gửi đến phủ Tri phủ, lập tức có thể gán cho cả nhà Khương Vĩnh Cửu tội danh đồng lõa phản nghịch, tống toàn bộ lũ dân đen này vào đại lao chịu cực hình! Ba mươi mẫu đồi dâu của ngươi cũng sẽ bị nha môn niêm phong tịch thu! Đến lúc đó, ngươi có quỳ gối lạy lục xin làm kế thất của Lưu Thị lang cũng không còn cơ hội nữa đâu!”
Nghe đến hai chữ “đại lao”, Tam Thẩm sợ đến mức lảo đảo suýt ngã, Bảo Nha òa lên khóc nấc bám chặt lấy vạt áo mẹ. Đám dân làng nhìn nhau, trong mắt thoáng hiện lên vẻ hoang mang, lo sợ. Dù sao thì quyền thế của Thượng thư kinh thành đối với những người nông dân chân lấm tay bùn này là một thứ gì đó quá đỗi khổng lồ, như ngọn núi lớn có thể đè bẹp bọn họ bất cứ lúc nào.
Nhìn thấy sự nao núng của dân chúng, Khương An lại lấy lại vẻ đắc ý, ưỡn ngực cười khẩy:
“Sao hả? Biết sợ rồi chứ? Biết sợ thì mau mau dập đầu nhận tội, giao nộp khế đất và bí phương dệt tơ ra đây!”
“Ai nói với ngươi là bọn ta sợ?”
Khương Nhược Lam cất tiếng, thanh âm bình thản đến lạ kỳ, không hề có lấy nửa phần khiếp nhược. Nàng nhìn lướt qua đám gia nô hung hãn, sau đó quay sang Lý chính thôn Lạc Diệp, khẽ cúi đầu hành lễ:
“Lý chính thúc, phiền thúc mở cửa Từ đường Khương thị của thôn ta, đồng thời thỉnh toàn bộ các bậc cao niên, bô lão trong tộc tới đây. Hôm nay, có mặt tổ tiên chứng giám, có mặt bà con làng xóm chứng kiến, Khương Nhược Lam ta muốn cùng vị Khương đại quản gia cao quý này phân định rõ ràng một món nợ!”
Khương An nghe vậy thì cười khẩy một tiếng đầy khinh bỉ: “Từ đường của một đám dân quê nghèo hèn thì dọa được ai? Đi thì đi! Để xem một ả tiện tỳ như ngươi có thể giở trò gì trước bàn thờ tổ tiên!”
…
Mặt trời dần khuất sau rặng núi Lạc Nhạn, rải những vệt nắng đỏ quạch như ráng chiều mùa hạ lên mái ngói rêu phong của Từ đường Khương thị. Đây là nơi thờ phụng tổ tiên của chi nhánh họ Khương đã bám rễ ở thôn Lạc Diệp suốt mấy trăm năm qua.
Trước sân từ đường rộng lớn, hai ngọn đuốc lớn được cắm xuống đất, bập bùng cháy tỏa ra khói thơm ngai ngái mùi nhựa thông. Gần như toàn bộ người dân trong thôn Lạc Diệp đều đã tụ tập về đây, ai nấy đều nín thở dõi theo từng cử động của Nhược Lam.
Lý chính cùng ba vị trưởng lão râu tóc bạc phơ ngồi ngay ngắn ở chiếc bàn gỗ lim đặt giữa sân. Tiêu Lập đứng sừng sững bên cạnh Nhược Lam như một vách đá kiên cố, ánh mắt sắc lạnh bao quát toàn bộ động tĩnh của tám tên hộ vệ Khương phủ đang đứng dàn hàng phía đối diện.
Khương An đứng chắp tay sau lưng, mặt vênh lên tận nóc từ đường, từ trong ngực áo lôi ra một phong thư bọc gấm hoa lệ có đóng dấu sáp đỏ của Thượng thư phủ, giơ cao lên trời:
“Gia thư của Lão gia Thượng thư phủ ở đây! Khương Nhược Lam, ngươi còn không mau quỳ xuống tiếp thư? Trước mặt bài vị tổ tiên, ngươi dám bất hiếu bất kính sao?!”
Nhược Lam bước lên từng bước chậm rãi, vững vàng. Nàng không quỳ, cũng chẳng thèm nhìn phong gia thư bóng bẩy kia lấy một cái. Thay vào đó, nàng thò tay vào trong vạt áo trước ngực, cẩn thận lấy ra một bọc vải dầu được bọc kỹ càng qua ba lớp.
Dưới ánh đuốc bập bùng, nàng từ từ mở lớp vải dầu ra.
Bên trong là một tờ giấy tuyên thành đã ngả màu vàng ố vì thời gian, nhưng những dòng chữ mực đen sắc bén và đặc biệt là con dấu son đỏ chót hình vuông của Huyện nha Vân Khê vẫn còn nguyên vẹn, tươi rói rõ ràng!
Nhìn thấy tờ giấy đó, đồng tử của Khương An bỗng nhiên co giật kịch liệt.
“Đó… đó là cái gì?!” Khương An biến sắc, giọng hơi lạc đi.
Khương Nhược Lam giơ cao tờ giấy lên giữa không trung, hướng về phía Lý chính, các bậc bô lão và toàn thể dân làng, dõng dạc cất lời:
“Khương An, ngươi mở to mắt ra mà nhìn cho rõ! Đây chính là Đoạn Tuyệt Thư do đích thân Khương Thượng thư ký tên, điểm chỉ, và đã được chính quan Huyện lệnh tiền nhiệm của Huyện nha Vân Khê đóng dấu công chứng năm xưa!”
Tiếng nói của nàng vang rền trong không gian tĩnh mịch của sân từ đường:
“Ngày mùng năm tháng Chạp ba năm trước, Khương Thượng thư vì muốn cắt đứt mọi liên hệ với đứa con gái mắc bạo bệnh là ta, sợ ta làm vấy bẩn thanh danh của đích nữ Khương Ngọc Trinh, đã đích thân trục xuất Khương Nhược Lam ta ra khỏi gia phả kinh thành! Trên tờ Đoạn Tuyệt Thư này viết rất rõ ràng từng câu từng chữ: ‘Từ nay về sau, Khương Nhược Lam sinh tử do mệnh, bần hàn phú quý không liên can tới Khương phủ Thạnh An. Cắt đứt huyết thống, xóa tên khỏi gia phả, đời đời kiếp kiếp không được nhận lại tổ tông Khương thị kinh kỳ!’”
Dân làng nghe xong lập tức ồ lên kinh ngạc, từng đợt xì xào bàn tán nổ ra như ong vỡ tổ:
“Trời đất ơi! Đã viết giấy đoạn tuyệt, đuổi người ta đi rồi cơ mà!”
“Đúng là mặt dày vô liêm sỉ! Lúc người ta nghèo đói thì vứt bỏ, lúc người ta làm ăn khấm khá lại đòi nhận làm con!”
“Lại còn đòi ép gả con gái cho lão già sáu mươi tuổi để cướp đất cướp tơ, đúng là lòng lang dạ thú mang áo mũ!”
Lý chính thôn Lạc Diệp vuốt chòm râu bạc, nghiêm nghị đứng dậy, cầm lấy tờ Đoạn Tuyệt Thư soi dưới ánh đuốc, gật đầu thật mạnh:
“Chính xác! Tờ Đoạn Tuyệt Thư này năm xưa khi Lam nha đầu dọn về thôn, đích thân lão phu đã mang lên Huyện nha để làm thủ tục tách hộ tịch. Hiện tại, trên sổ hộ tịch của huyện Vân Khê, Khương Nhược Lam là Hộ nữ chủ độc lập, thuộc quyền quản hạt của thôn Lạc Diệp chúng ta, hoàn toàn không còn bất kỳ mối quan hệ lệ thuộc nào với Thượng thư phủ kinh thành!”
Khương An tái mét mặt mày, mồ hôi hột bắt đầu lấm tấm trên trán. Gã vạn lần không ngờ tới một nha đầu mới mười mấy tuổi đầu bị đuổi khỏi nhà lại có thể giữ gìn tờ Đoạn Tuyệt Thư này cẩn thận suốt bao nhiêu năm như vậy!
Năm đó, Lão gia vì muốn phủi sạch mọi phiền toái, sợ nàng sau này tìm cách quay về kinh thành bám víu làm phiền Ngọc Trinh tiểu thư, nên mới dứt khoát làm tờ giấy đoạn tuyệt có quan phủ chứng thực này. Ai ngờ hôm nay, chính tờ giấy phong tỏa đường về của nàng lại trở thành tấm khiên thép bảo vệ nàng, chặt đứt bàn tay tham lam của Khương phủ!
“Ngươi… ngươi ngụy biện!” Khương An thẹn quá hóa giận, nhảy cẫng lên chối cãi: “Dù có giấy đoạn tuyệt thì đạo hiếu vẫn lớn hơn luật pháp! Máu mủ ruột thịt làm sao nói cắt là cắt được? Lão gia muốn nhận lại con gái, đó là thiên luân chi đạo, quan phủ nào dám can thiệp? Ngươi cầm bức gia thư này, lập tức theo ta hồi kinh!”
Khương An bước tới, thô bạo chìa phong thư bọc gấm ra trước mặt nàng.
Nhược Lam lạnh lùng nhìn phong thư gấm xa hoa kia. Nàng khẽ cười khẩy, đột ngột vươn tay ra!
Động tác của nàng quá nhanh, quá dứt khoát khiến Khương An không kịp phản ứng. Phong thư gấm đã nằm gọn trong tay nàng.“Ngươi định làm gì? Đó là thư của Thượng thư đại nhân…” Khương An hoảng hốt quát lên.
Lời gã còn chưa dứt thì Nhược Lam đã quay người, bước thẳng tới ngọn đuốc lớn đang bập bùng cháy giữa sân. Trước con mắt kinh hoàng của Khương An và sự nín thở của hàng trăm con người, nàng không chút do dự đưa thẳng phong gia thư vào ngọn lửa đỏ rực!
“Xoẹt!”
Lửa bén vào gấm lụa, bùng lên dữ dội.
Ngọn lửa l**m trọn phong thư của Khương Thượng thư, biến những lời lẽ đạo đức giả, những toan tính cướp bóc dơ bẩn và cả con dấu sáp đỏ chót thành tro tàn. Nhược Lam buông tay, tàn tro bay lả tả trong gió đêm, rơi rụng lác đác xuống chân nàng.
“Khương Nhược Lam! Ngươi… ngươi dám đốt thư của Lão gia?!” Khương An kinh hãi hét lên, giọng the thé chói tai như xé vải. Đốt thư của phụ thân, đây chính là hành vi đại nghịch bất đạo tột cùng trong mắt lũ môn phiệt quyền quý!
Dưới ánh lửa bập bùng soi rọi, gương mặt thanh tú của Nhược Lam toát lên một vẻ uy nghiêm, kiên định khiến lòng người chấn động. Nàng cất giọng đanh thép, từng chữ như tiếng búa nện trên đe sắt:
“Bức thư rác rưởi này đã cháy thành tro, cũng như chút tình nghĩa huyết thống cuối cùng giữa ta và Khương gia các ngươi từ lâu đã không còn tồn tại! Kể từ giây phút này, trên cõi đời này chỉ có Khương Nhược Lam của thôn Lạc Diệp, một nông nữ tự lực cánh sinh, chân chính lao động kiếm sống! Ta không cha, không mẹ, không thân thích quyền quý chốn kinh kỳ!”
Nàng quay phắt lại, ánh mắt rực lửa quét thẳng vào mặt Khương An:
“Ba mươi mẫu đồi dâu là do ta cùng bà con khai hoang! Giống ngô ngọt là do ta gieo trồng! Tơ tằm vàng óng là do chính bàn tay ta ươm dệt! Toàn bộ đều là tài sản hợp pháp được Huyện nha Vân Khê bảo hộ bằng khế ước đỏ! Khương phủ các ngươi nếu dám thò một ngón tay bẩn thỉu vào cướp đoạt, Khương Nhược Lam ta dù có phải gõ trống đăng văn, kiện lên tận Kim Loan Điện, cũng quyết liều mạng đào mồ chôn kẻ đó!”
“Hay lắm!”
“Nói rất hay!”
Tiếng hò reo vang dội bỗng chốc bùng nổ khắp sân từ đường. Tam Thúc rơi nước mắt vì tự hào, Lý chính cùng các bô lão vuốt râu mỉm cười tán thưởng, đám thanh niên trong thôn gõ đòn gánh chan chát xuống đất, khí thế ngút trời. Những lời nói đanh thép, rạch ròi lý lẽ của Nhược Lam không chỉ vả thẳng vào bộ mặt giả nhân giả nghĩa của đám quý tộc kinh thành mà còn tiếp thêm dũng khí vô bờ bến cho những người nông dân thấp cổ bé họng.
Bị dồn vào chân tường, lại bị một ả nha đầu nhà quê đốt thư sỉ nhục trước mặt bàn dân thiên hạ, Khương An thẹn quá hóa giận, hoàn toàn mất hết lý trí. Bản tính hung tàn, hống hách của một tên tay sai cậy quyền thế lập tức lộ rõ nguyên hình.
“Con khốn tiện tỳ to gan! Rượu mời không uống lại thích uống rượu phạt!” Khương An nghiến răng ken két, gương mặt vặn vẹo dữ tợn, gã quay ngoắt lại gầm lên với tám tên hộ vệ:
“Người đâu! Lũ dân đen này đã muốn làm loạn thì không cần nể nang gì nữa! Xông vào xưởng dệt cho ta! Đập nát hết guồng quay tơ, cướp sạch toàn bộ số kén tằm và rương tơ vàng mang lên xe ngựa! Đứa nào dám cản đường, cứ việc rút đao chém chết, Lão gia ở kinh thành sẽ gánh hết cho các ngươi!”
“Rõ!”
Tám tên gia đinh áo xám đằng đằng sát khí tuốt gươm sáng loáng, gầm lên toan xông thẳng về phía xưởng dệt phía sau từ đường. Mấy người phụ nữ và trẻ con hoảng hốt thét lên, lùi dạt sang hai bên.
Thế nhưng, bọn chúng còn chưa kịp chạy được ba bước thì một bóng đen cao lớn đã lướt tới chắn ngang lối đi.
Tiêu Lập!
Gương mặt chàng trầm tĩnh như mặt hồ mùa đông, nhưng trong đôi mắt chim ưng lại cuộn trào hàn băng lạnh lẽo. Thân pháp của chàng cực kỳ chuẩn xác và gọn gàng, hoàn toàn là kỹ năng cận chiến giáp lá cà nơi chiến trường sinh tử.
Tên hộ vệ đi đầu giơ đao chém bổ xuống: “Thằng thợ săn chết tiệt, cút ra!”
Tiêu Lập khẽ nghiêng đầu tránh đường đao trong đường tơ kẽ tóc. Đao phong vừa sượt qua mép áo thô, bàn tay chàng đã chộp chuẩn xác vào cổ tay đối phương, vặn ngược khớp xương!
“Rắc!”
Tiếng khớp trật vang lên khô khốc. Tên hộ vệ rú lên thảm thiết, thanh đao lập tức tuột khỏi tay rơi xuống. Tiêu Lập đoạt đao, dùng sống đao đập mạnh vào cùi chỏ tên thứ hai đang lao tới, đồng thời tung một cước dứt khoát trúng bánh chè của tên thứ ba.
“Bốp! Rắc!”
Hai tên hộ vệ ngã nhào, một tên ôm cánh tay trật khớp lăn lộn dưới đất, tên kia ôm đầu gối đau đớn gào thét thảm thiết.
Bốn tên còn lại thấy vậy thì hoảng hồn nhưng cậy đông vẫn hùa nhau vung đao bọc lót. Tiêu Lập xoay người hạ trọng tâm, quét mạnh một đòn gạt chân dứt khoát. Hai tên ngã sấp mặt xuống đất, chưa kịp ngẩng đầu đã bị chàng đá văng vũ khí ra xa. Tên còn lại định đâm lén sau lưng Nhược Lam, Tiêu Lập giáng một chưởng chuẩn xác vào sau gáy hắn, khiến gã đổ gục bất tỉnh nhân sự.
Chỉ trong chớp mắt, vỏn vẹn chưa đầy mười nhịp thở, bảy tên gia đinh võ trang đầy mình của Thượng thư phủ đã nằm la liệt dưới đất, kẻ trật khớp tay, người nứt xương bánh chè, kêu khóc thảm thiết, hoàn toàn mất sạch khả năng kháng cự!
Cả khoảng sân nín thở nhìn Tiêu Lập. Không hoa mỹ, không chiêu thức rườm rà, chàng hạ gục từng kẻ bằng những đòn đánh thực dụng, sắc bén của một bậc mãnh tướng. Dân làng vừa kinh ngạc vừa thán phục, thầm nghĩ Tiêu Lập ngày thường săn thú rừng sâu, quả nhiên sức vóc và đòn thế tháo vát hơn người bội phần!
Tên hộ vệ duy nhất còn lành lặn sợ đến mức run rẩy hai chân, thanh đao trong tay rơi cạch xuống nền đất, gã run lẩy bẩy thụt lùi rồi quỳ rập xuống van xin tha mạng.
Khương An chứng kiến cảnh tượng đó thì hồn phi phách tán. Gã run lẩy bẩy như cầy sấy, răng đánh vào nhau lập cập: “Ngươi… ngươi rốt cuộc là ai?!”
Nhìn thấy Tiêu Lập từng bước chậm rãi tiến về phía mình, hàn khí bao trùm lấy không gian, Khương An hoảng loạn tột độ. Trong cơn quẫn bách điên cuồng, gã bất thần rút một thanh đoản kiếm giấu trong tay áo ra, nhắm thẳng vào Khương Nhược Lam đang đứng gần đó lao tới, rít lên the thé:
“Con tiện nhân, ta phải giết ngươi!”
Thế nhưng, mũi kiếm của gã còn cách Nhược Lam ba thước thì bóng dáng Tiêu Lập đã sừng sững chắn trước mắt.
Ánh mắt Tiêu Lập lóe lên tia lạnh lẽo tột cùng. Chàng không dùng đao, mà trực tiếp co chân tung ra một cú đạp mạnh mẽ, dứt khoát trúng thẳng vào xương ức của Khương An!
“Uỳnh!”
Một âm thanh trầm đục vang lên. Khương An cảm thấy lồng ngực như bị một thân gỗ lớn ngàn cân va phải, xương sườn trước ngực lập tức nứt rạn rắc rắc. Toàn thân gã bay bổng ngược về phía sau, đập thẳng vào hàng rào tre kiên cố bên ngoài sân từ đường!
“Rắc! Rầm!”
Cọc rào tre gãy toạc làm đôi dưới sức nặng của cú va chạm. Mặt Khương An đập thẳng vào một cọc tre vạt nhọn đã gãy, rạch toạc một mảng má, làm gãy rụng hai chiếc răng cửa. Gã ngã nhào xuống vũng bùn đất ven đường, ôm lấy lồng ngực đau đớn hộc ra một ngụm máu tươi hòa lẫn bùn đất và mảnh răng gãy. Cơn đau thấu tận tâm can khiến gã há to mồm nhưng không sao phát ra thành tiếng, chỉ có thể th* d*c từng cơn đau đớn, cả người co quắp lại như một con tôm luộc.
Tiêu Lập bước qua hàng rào gãy, tay cầm thanh trường đao cướp được lúc nãy. Chàng bước tới trước mặt Khương An, cổ tay khẽ rung.
“Phập!”
Lưỡi đao cắm thẳng xuống nền đất bùn, chỉ cách trán Khương An đúng nửa tấc! Gió đao sắc lẹm cứa rách một sợi tóc mai của gã quản gia.
Tiêu Lập cúi đầu nhìn gã, giọng nói trầm thấp, lạnh lẽo tựa băng giá:
“Đụng vào nàng, chết.”
Chàng khẽ nhướng mắt, nhìn thẳng vào con ngươi đang giãn ra vì kinh hoàng tột độ của Khương An:
“Trong ba tiếng đếm, mang theo đám người của ngươi cút khỏi Lạc Diệp. Nếu để ta nhìn thấy bóng dáng các ngươi ở huyện Vân Khê thêm một lần nữa, ta sẽ chặt đầu từng tên một ném xuống sông Ngân Khê làm mồi cho cá.”
“Một.”
Khương An hồn xiêu phách lạc, nỗi sợ hãi cái chết đã hoàn toàn đè bẹp sự kiêu ngạo của một đại quản gia phủ Thượng thư. Gã dùng hết sức tàn, vừa khóc lóc vừa gào lên the thé:
“Cứu… cứu mạng! Mau… mau đỡ ta dậy! Rút… mau rút lui!”
Tên hộ vệ chưa bị thương vội vàng lao tới, cùng mấy tên bị thương nhẹ hơn cuống cuồng lôi Khương An dậy. Bọn chúng chẳng màng đến cỗ kiệu hoa rách nát hay mấy thỏi bạc vụn vương vãi dưới đất, hoảng loạn khiêng Khương An ném lên cỗ xe ngựa hai ngựa kéo.
“Vút! Vút!”
Tiếng roi ngựa quất túi bụi vang lên điên cuồng. Cỗ xe ngựa hoa lệ gấm vóc lúc đến hống hách bao nhiêu thì lúc chạy trốn lại chật vật, thảm hại bấy nhiêu. Bụi đất lại cuộn lên mù mịt khi cỗ xe cắm đầu cắm cổ lao thục mạng ra khỏi cổng làng Lạc Diệp trong tiếng la ó, ném đá và chửi rủa vang dội của dân làng.
“Cút đi! Đồ kền kền hút máu!”
“Sau này còn dám bén mảng tới thôn Lạc Diệp, bà con sẽ dùng nước phân chuồng tiếp đãi các ngươi!”
Bảo Nha đứng bên bờ rào, tay cầm một củ cải thối ném theo cỗ xe ngựa, khuôn mặt nhỏ nhắn đỏ bừng vì phấn khích: “Chạy nhanh như chuột lột! Đáng đời lũ người xấu!”
Tiếng cười nói, tiếng hò reo lại một lần nữa bùng nổ, vang dội khắp thung lũng dưới chân núi Lạc Nhạn.
Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu lau nước mắt xúc động bước tới, nắm lấy tay Nhược Lam: “Lam nha đầu… con… con làm tốt lắm! Tổ tiên Khương thị ở dưới suối vàng chắc chắn sẽ phù hộ cho con!”
Lý chính cũng tiến lại gần, nhìn Tiêu Lập với ánh mắt đầy thán phục và kính trọng, sau đó quay sang Nhược Lam: “Nhược Lam à, con yên tâm. Tờ Đoạn Tuyệt Thư này lão phu sẽ cất giữ thêm một bản sao trong từ đường. Thôn Lạc Diệp chúng ta nghèo nhưng có tình có nghĩa, tuyệt đối không để bất kỳ ai ức h**p con!”
“Cháu cảm ơn Tam Thúc, cảm ơn Lý chính thúc và bà con lối xóm nhiều lắm.” Nhược Lam mỉm cười rạng rỡ, cúi đầu thật sâu cảm tạ mọi người. Trái tim nàng ngập tràn hơi ấm. Đây chính là mảnh đất nàng thuộc về, những con người chân chất, mộc mạc sẵn sàng đứng lên bảo vệ nàng, khác xa vạn dặm với chốn kinh thành Thạnh An đầy rẫy mưu mô toan tính và lòng dạ sắt đá.
Mọi người sau một hồi náo nhiệt cũng dần tản ra, quay trở lại thu dọn bàn tiệc và sửa lại hàng rào từ đường.
Gió đêm từ rặng Lạc Nhạn thổi về mát rượi, xua tan đi mùi khói đuốc nồng nặc.
Dưới ánh trăng bàng bạc vừa nhô lên khỏi đỉnh núi, Tiêu Lập bước tới bên cạnh Nhược Lam. Chàng khẽ vươn tay, những ngón tay thô ráp, chai sạn nhưng vô cùng dịu dàng gạt đi một lọn tóc mai vương trên trán nàng, ánh mắt tràn ngập vẻ quan tâm khôn xiết:
“Nàng không sao chứ? Có bị kinh sợ không?”
Nhược Lam ngước nhìn chàng, đôi mắt hạnh cong cong thành hình vầng trăng khuyết, nàng khẽ lắc đầu, bật cười khúc khích:
“Chàng thấy ta giống người dễ bị dọa sợ lắm sao? Có điều… cước vừa rồi của chàng đá gã quản gia văng qua hàng rào, quả thực quá đỗi hả dạ!”
Nàng chắp hai tay sau lưng, nghiêng đầu nhìn chàng, ánh mắt lấp lánh như sao trời: “Tiêu đại hiệp thân thủ nhanh gọn, dứt khoát như vậy, rốt cuộc năm xưa chàng làm chức quan gì trong quân đội thế? Một cước đó nếu chàng dùng hết mười phần sức lực, e là gã Khương An kia đã gãy hết cả lồng ngực rồi.”
Tiêu Lập nhìn nụ cười tinh nghịch của nàng, nơi đáy mắt chàng thoáng hiện lên một tia cảm xúc sâu kín, vừa ấm áp vừa có chút phức tạp. Chàng khẽ thở dài một tiếng, thấp giọng nói:
“Ta chỉ sợ… ta ra tay quá nặng sẽ làm bẩn mắt nàng.”
“Sao lại bẩn?” Nhược Lam bước lên nửa bước, khoảng cách giữa hai người gần đến mức nàng có thể ngửi thấy mùi gỗ thông ngút ngàn và hơi ấm quen thuộc trên người chàng. Nàng nghiêm túc nhìn sâu vào mắt chàng, giọng nói mềm mại nhưng chắc nịch: “Chàng bảo vệ ta, bảo vệ thôn làng, trong mắt ta chàng là người trượng nghĩa nhất trần đời.”
Lồng ngực Tiêu Lập chấn động mãnh liệt. Đôi mắt đại bàng vốn lạnh lùng của chàng bỗng chốc mềm mại như làn nước mùa thu. Chàng đưa bàn tay to lớn bao bọc lấy bàn tay nhỏ bé, trắng trẻo của nàng, siết chặt lại như một lời thề nguyền vĩnh cửu:
“Bất luận là ai, chỉ cần dám làm tổn thương nàng, ta đều sẽ khiến kẻ đó phải trả giá đắt.”
Bên dưới ánh trăng dịu dàng, hai cái bóng in dài trên nền đất quyện chặt vào nhau không rời, ấm áp và bình yên giữa đất trời bao la.
…
Cùng lúc đó, trên con đường quan lộ gập ghềnh cách thôn Lạc Diệp mười dặm về phía Đông.
Cỗ xe ngựa của Khương phủ đang điên cuồng lao đi trong bóng đêm đen đặc.
Bên trong thùng xe xa hoa, Khương An nằm vật vã trên đệm gấm, từng cơn đau nhức buốt óc từ lồng ngực bị nứt rạn xương sườn truyền lên khiến gã th* d*c từng cơn đau đớn, mỗi lần hít thở là lồng ngực lại nhói buốt như có ngàn mũi kim châm. Máu tươi từ khóe miệng và vết thương toạc má vẫn rỉ ra, thấm đẫm vạt áo cẩm bào xanh lục đắt tiền.
“Khương Nhược Lam… con tiện tỳ… và cả thằng thợ săn khốn khiếp kia nữa…”
Khương An nghiến chặt hàm răng còn lại, đôi mắt đỏ ngầu hằn lên những tia máu hung tàn, độc địa đến cực điểm. Sự sỉ nhục ngày hôm nay tại thôn Lạc Diệp đối với một đại quản gia quyền thế như gã chẳng khác nào một vết nhơ muôn đời không rửa sạch!
“Khụ… khụ…” Gã ho sặc sụa, nhổ ra một búng máu bầm.
Tên hộ vệ bên cạnh run rẩy lấy khăn lau cho gã: “Đại… Đại quản gia, chúng ta bây giờ phải làm sao? Có về kinh thành báo cho Lão gia không?”
“Về kinh? Bây giờ về kinh tay trắng để Lão gia lột da ta sao?!” Khương An gắt gỏng the thé, sau đó nghiến răng nén đau, gằn từng tiếng đầy oán độc:
“Ngừng xe ở trạm dịch phía trước! Ngươi… lập tức dùng bồ câu đưa thư hỏa tốc, gửi mật thư về cho Nhị tiểu thư Khương Ngọc Trinh! Báo rõ toàn bộ sự tình… nói con tiện tỳ Khương Nhược Lam cấu kết với lũ giặc cỏ Lạc Diệp, cậy thế làm loạn, công khai chống lại Thượng thư phủ!”
Gã quản gia nhếch môi cười tàn nhẫn, gương mặt méo mó trong bóng tối trông gớm ghiếc như quỷ dữ:
“Bảo Nhị tiểu thư… lập tức vận dụng quan hệ của Khương gia với quan binh địa phương tại Phủ thành Vân Châu! Bọn chúng dệt được tơ vàng thì đã sao? Muốn mang tơ vàng đi bán, muốn tham gia Hội thi Dệt may Phủ thành thì phải đi qua con đường độc đạo qua đèo Lạc Nhạn! Ta muốn Nhị tiểu thư hạ lệnh cho quan binh phong tỏa toàn bộ cửa ải, lập chốt chặn nghiêm ngặt!”
Khương An siết chặt nắm tay đập mạnh xuống đệm xe, nghiến răng kèn kẹt:
“Ta muốn vu oan cho toàn bộ số tơ lụa của con tiện tỳ đó là hàng buôn lậu cấm vật! Ta muốn tịch thu sạch sành sanh từng tấc tơ vàng của ả, tống toàn bộ bọn chúng vào ngục tối cho rệp cắn nát thịt! Để xem lúc đó, ả tiện tỳ và thằng thợ săn kia còn có thể giương oai được nữa hay không!”
Gió đêm trên đỉnh núi Lạc Nhạn mang theo hơi lạnh buốt giá của sương khuya, thổi qua những rặng tùng cổ thụ tạo nên những thanh âm rì rào như sóng vỗ.
Tiêu Lập đứng sừng sững trên mỏm đá nhô ra nơi bìa rừng, hai tay chắp sau lưng, ánh mắt tựa chim ưng sắc lẹm phóng tầm nhìn xuống con đường độc đạo uốn lượn dưới chân núi. Dưới ánh trăng mờ đục, bóng tối bao trùm lấy vạn vật, nhưng với một người từng trải qua hàng trăm trận huyết chiến sinh tử nơi sa trường như chàng, từng gợn sóng bất thường trong màn đêm đều không thể lọt qua đôi mắt ấy.
Một tiếng chim cú mèo khẽ kêu lên ba tiếng ngắn, một tiếng dài từ trong bụi rậm phía sau.
Tiêu Lập không quay đầu lại, chỉ lạnh nhạt buông một chữ:
“Nói.”
Từ trong lùm cây rậm rạp, một bóng đen thoăn thoắt lướt ra, quỳ một gối xuống nền đất phủ đầy lá mục. Đó chính là Hắc Lục, người thường ngày vẫn đóng giả làm gã lang y thu mua thảo dược lanh lợi, nhưng lúc này toàn thân lại toát ra sát khí sắc bén của một trinh sát tinh nhuệ bậc nhất Bắc Cương.
“Khởi bẩm Chủ tử! Quả đúng như ngài dự liệu, con bồ câu đưa thư của tên nô tài Khương An đã bay thẳng về dinh cơ của Khương gia ở Phủ thành Vân Châu. Nhị tiểu thư Khương Ngọc Trinh sau khi nhận được mật thư thì giận dữ lôi đình, lập tức dùng tín vật và thư tay của Khương Thượng thư để gây áp lực lên Ty Khôi Tiêu Phòng và nha môn Phủ thành.”
Đôi mày rậm của Tiêu Lập khẽ nhíu lại, giọng trầm xuống như sấm rền nơi chân trời:
“Bọn chúng hành động thế nào?”
“Bọn chúng cấu kết với tên Đề hạt nha môn biến chất họ Tôn, điều động hơn bốn mươi tên nha dịch vũ trang cùng một toán côn đồ tay chân của Thượng thư phủ, lập chốt chặn nghiêm ngặt ngay tại cửa ải hiểm trở nhất của đèo Lạc Nhạn. Bọn chúng lấy danh nghĩa ‘truy bắt cấm vật triều đình bị đánh cắp’, hạ lệnh khám xét toàn bộ xe cộ, hành lý từ huyện Vân Khê đi lên. Mục tiêu duy nhất của bọn chúng chính là chặn đứng toàn bộ số tơ tằm Hoàng Kim của Khương cô nương, vu cho nàng tội danh buôn lậu cấm vật để vừa tịch thu sản vật quý, vừa tống nàng vào đại lao trước khi Hội thi Dệt may diễn ra.”
Hắc Lục nghiến răng, trong mắt lóe lên tia nhìn phẫn nộ:
“Chủ tử, có cần thuộc hạ dẫn huynh đệ ám vệ xông lên, trong đêm nay bẻ cổ từng tên khốn kiếp ở cửa đèo Lạc Nhạn, ném xác bọn chúng xuống vực sâu cho kền kền rỉa thịt không?”
Tiêu Lập trầm mặc trong giây lát. Bàn tay giấu trong tay áo của chàng khẽ siết chặt lại, khớp xương phát ra những tiếng kêu răng rắc giòn giã. Trong lồng ngực chàng, một cỗ sát khí lạnh thấu xương đang cuộn trào dữ dội. Đám sâu mọt kinh thành kia, ở chốn triều đình tranh quyền đoạt lợi, hãm hại trung lương chưa đủ, nay lại dám vươn bàn tay bẩn thỉu đến tận chốn thôn dã hẻo lánh này, muốn cướp đoạt công sức mồ hôi nước mắt của người con gái mà chàng trân quý hơn cả sinh mạng.
Thế nhưng, khi ánh mắt chàng lướt qua khoảng sân nhỏ ấm áp ánh đèn dầu ở lưng chừng núi phía dưới – nơi bóng dáng thanh mảnh của Khương Nhược Lam đang cặm cụi kiểm tra từng cuộn tơ tằm – sát khí ngút trời bỗng chốc tan biến, nhường chỗ cho sự dịu dàng và cưng chiều vô bờ bến.
“Không cần làm bẩn tay.” Tiêu Lập thấp giọng nói, ngữ điệu bình thản nhưng chứa đựng uy quyền không thể làm trái: “Bọn chúng là quan binh địa phương, nếu giết sạch tại cửa ải sẽ rước lấy sự can thiệp của binh mã Phủ thành, đến lúc đó Lam nhi sẽ mang tiếng dính líu đến giặc cướp, lỡ mất ngày khai mạc Hội thi Dệt may. Để ta xuống thương lượng với nàng ấy.”
“Thuộc hạ tuân mệnh!” Hắc Lục chắp tay, thoắt cái đã lại ẩn mình vào màn đêm tĩnh mịch.
Tiêu Lập xoay người, bước những bước chân vững chãi dọc theo lối mòn quen thuộc dẫn về sân nhà Nhược Lam. Mỗi khi bước chân đến gần nơi có bóng hình nàng, gánh nặng ngàn cân trên vai chàng dường như đều vơi đi quá nửa. Chàng tháo cây cung săn và túi tên máng lên cọc gỗ bên hiên, khẽ gõ nhẹ vào cánh cửa liếp.
“Lam nhi, là ta.”
Cánh cửa gỗ lập tức mở ra. Nhược Lam xuất hiện với nụ cười rạng rỡ như ánh mai. Nàng mặc bộ y phục vải thô màu xanh nhạt bó sát cổ tay, mái tóc đen mượt được búi gọn gàng bằng một dải lụa mộc, trên trán lấm tấm vài giọt mồ hôi mịn màng.
“Tiêu Lập, chàng về rồi sao? Mau vào đây nhìn xem!”
Nàng kéo tay chàng bước vào gian nhà chính. Giữa phòng, bốn chiếc rương bằng gỗ tuyết tùng thơm ngát xếp ngay ngắn. Nắp rương mở hé, để lộ những cuộn lụa tơ tằm Hoàng Kim được xếp ngay ngắn bên trong lớp giấy dầu chống ẩm. Dưới ánh sáng ấm áp của ngọn đèn dầu, những sợi tơ tằm vàng óng ánh phát ra thứ hào quang rực rỡ, mềm mại tựa như dòng suối mật ong chảy tràn trong đêm, vừa cao quý, vừa thoát tục đến nghẹt thở.
Nhược Lam v**t v* bề mặt tấm lụa, đôi mắt hạnh lấp lánh niềm tự hào khôn xiết:
“Đây là mẻ lụa Hoàng Kim hoàn hảo nhất mà ta cùng các thím trong xưởng vừa dệt xong lúc chập tối. Mật độ sợi cực kỳ khít khao, nhẹ tựa cánh ve, nước dội không thấm mà kéo căng không đứt. Ta tin chắc chỉ cần tấm lụa này xuất hiện tại sảnh đường Phủ thành, mọi cống phẩm của các phường dệt khác đều sẽ phải lu mờ.”
Tiêu Lập nhìn tấm lụa vàng, rồi lại nhìn đôi bàn tay nhỏ nhắn của nàng. Những đầu ngón tay trắng nõn của nàng vẫn còn hơi ửng đỏ vì phải miết tơ và quay guồng nước ấm suốt mấy ngày qua. Chàng bước tới gần, không kìm được nắm lấy bàn tay nàng, dùng hơi ấm từ lòng bàn tay thô ráp của mình xoa dịu đi nỗi mệt nhọc của nàng.
“Rất đẹp. Tấm lụa này rực rỡ chẳng kém gì ánh nắng mùa thu.” Tiêu Lập thấp giọng khen ngợi, nhưng trong đáy mắt chàng lại thoáng qua một tia nghiêm nghị: “Nhưng Lam nhi, con đường đưa nó đến Phủ thành e là không hề bằng phẳng.”
Nhược Lam ngước nhìn chàng, thấy nét mặt khác lạ của Tiêu Lập, nàng khẽ chớp mắt, nụ cười trên môi hơi thu lại nhưng không hề có lấy một tia hoảng hốt:
“Có chuyện gì rồi sao? Là đám người của Khương Thượng thư phủ lại giở trò bẩn thỉu?”
Tiêu Lập gật đầu, đem toàn bộ tin tức mà Hắc Lục vừa thám thính được kể lại tỉ mỉ, không giấu giếm nửa lời: từ việc Khương Ngọc Trinh cấu kết với nha dịch Phủ thành, đến việc lập chốt chặn ở đèo Lạc Nhạn nhằm vu oan giá họa để tịch thu tơ vàng và tống giam nàng.
Cứ ngỡ nghe xong chuyện này, một cô nương chốn khuê các hay một thôn nữ bình thường sẽ run rẩy kinh sợ, nhưng Nhược Lam chỉ khẽ nhướng đôi mày thanh tú, khóe môi cong lên một nụ cười đầy vẻ trào phúng:
“Ha, vị thứ muội tốt đẹp này của ta đúng là chưa bao giờ khiến ta thất vọng về độ trơ trẽn. Tranh đoạt phụ thân, tranh đoạt danh phận đích nữ, nay thấy ta ở chốn sơn cùng thủy tận làm ra được kỳ trân dị bảo thì lại thèm thuồng đến mức bất chấp liêm sỉ như vậy sao?”
Nàng khoanh hai tay trước ngực, thong thả đi đi lại lại quanh chiếc rương gỗ, ánh mắt sắc sảo lóe lên tia sáng của một nhà khoa học đang chuẩn bị giải quyết một bài toán hóc búa:
“Bọn chúng nghĩ rằng nắm trong tay quan binh là có thể một tay che trời, ép ta vào chỗ chết sao? Chúng muốn chặn đèo Lạc Nhạn, muốn bắt quả tang người và tang vật?”
Tiêu Lập nhìn phong thái điềm tĩnh, tự tin của nàng, lồng ngực chàng khẽ rung động. Chàng cất giọng trầm ấm, kiên định:
“Nàng không cần lo lắng. Đám nha dịch đó tuy đông nhưng chỉ là lũ ô hợp. Ta có thể một mình mở đường máu, hoặc phái người âm thầm hạ độc mê khiến bọn chúng ngủ say ba ngày ba đêm để đoàn xe đi qua an toàn.”
Nhược Lam nghe vậy liền bật cười khúc khích, vỗ nhẹ vào mu bàn tay chàng:
“Tiêu đại hiệp ơi là Tiêu đại hiệp, chàng đánh trận quen tay rồi nên việc gì cũng muốn dùng đao kiếm giải quyết sao? Đánh nhau với đám nha dịch đó, dù chúng ta có thắng thì trên danh nghĩa vẫn là ‘chống đối quan sai’, vừa tốn sức vừa rước lấy phiền toái vô tận cho cả thôn Lạc Diệp. Tại sao phải đổ máu khi chúng ta có thể ung dung dắt mũi bọn họ như dắt một đàn lừa ngốc nghếch?”
Đôi mắt Tiêu Lập lóe lên vẻ tò mò:
“Nàng có diệu kế gì?”
Nhược Lam ghé sát vào tai chàng, mùi hương cỏ mật thanh khiết trên người nàng phả nhẹ vào cánh mũi Tiêu Lập khiến tim chàng lỡ mất một nhịp. Nàng khẽ thì thầm:
“Binh pháp có câu: ‘Dương đông kích tây, hư hư thực thực’. Bọn chúng muốn chặn đoàn xe tơ lụa của ta đúng không? Vậy thì ta sẽ cho bọn chúng một đoàn xe tơ lụa thật hoành tráng để bọn chúng tha hồ mà đuổi bắt!”
Nàng ngẩng đầu lên, ánh mắt lấp lánh sự tinh quái:
“Sáng sớm mai, ta sẽ nhờ Tam Thúc chuẩn bị ba cỗ xe lừa của thôn. Trên xe chất đầy rơm rạ mục và thân ngô khô, bên ngoài bọc kín bằng những tấm bạt dầu dày cộp thắt dây thừng chắc chắn, nhìn qua chẳng khác nào những kiện hàng trân quý nặng ngàn cân. Tam Thúc và mấy thanh niên vạm vỡ trong đội hộ vệ thôn sẽ đích thân dong xe đi đường quan lộ thẳng tiến đèo Lạc Nhạn, vừa đi vừa gióng trống khua chiêng, làm ra vẻ vô cùng cẩn mật, căng thẳng.”
Tiêu Lập là bậc thầy quân sự, chỉ nghe qua một câu đã lập tức hiểu thấu toàn bộ mưu kế tuyệt diệu của nàng. Khóe môi chàng bất giác cong lên một nụ cười hiếm hoi:
“Nàng muốn dùng đoàn xe rơm rạ làm mồi nhử, thu hút toàn bộ sự chú ý và lực lượng mai phục của nha dịch tại đèo Lạc Nhạn. Khi bọn chúng tưởng rằng đã tóm gọn được tang vật, dốc toàn lực bao vây bắt giữ, thì chúng ta…”
“Thì chúng ta sẽ mang theo tơ lụa thật sự, lặng lẽ đi theo con đường mòn vách đá hiểm trở phía sau đỉnh Lạc Nhạn!” Nhược Lam búng tay một cái giòn tan: “Con đường đó dốc đứng, xe ngựa không đi được, nhưng người gùi hàng thì hoàn toàn có thể qua lọt. Chờ đến khi đám nha dịch hí hửng xé toạc các kiện hàng ở đèo Lạc Nhạn và nhận ra bên trong chỉ toàn là rơm rạ cho bò ăn, thì chúng ta đã ung dung bước vào sảnh lớn của Hội thi Dệt may tại Phủ thành Vân Châu rồi!”
Tiêu Lập nhìn sâu vào đôi mắt lanh lợi của nàng, trong lòng dâng lên một niềm cảm phục sâu sắc xen lẫn niềm kiêu hãnh khôn nguôi. Đây chính là nữ nhân mà chàng đem lòng yêu thương – nàng không chỉ có đôi bàn tay khéo léo gieo mầm sự sống trên đất cằn, mà còn sở hữu một trí tuệ khoáng đạt, can trường, đứng trước hiểm nguy trùng trùng vẫn có thể ung dung mỉm cười trêu ngươi nghịch cảnh.
“Được, cứ theo kế của nàng.” Tiêu Lập khẽ siết lấy vai nàng, ánh mắt kiên định như bàn thạch: “Đoàn xe nghi binh ta sẽ phái Hắc Lục âm thầm bám theo bảo vệ, bảo đảm Tam Thúc và bà con không phải chịu nửa phần thương tổn. Còn con đường mòn vách đá hiểm trở kia… ta sẽ đích thân cõng hàng, dẫn nàng vượt ải.”
…
Canh năm sáng hôm sau, khi màn sương sớm còn phủ một lớp mỏng tang như dải lụa trắng vắt ngang sườn núi, thôn Lạc Diệp đã rộn rã tiếng bước chân.
Dưới sự chỉ đạo của Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu, ba cỗ xe lừa lớn chất cao ngất ngưởng những kiện hàng phủ bạt dầu đen tuyền bắt đầu lăn bánh rời thôn. Hơn mười tráng đinh tay cầm gậy gộc, giáo mác đi kèm hai bên, nét mặt ai nấy đều tỏ ra vô cùng căng thẳng, chốc chốc lại cảnh giác nhìn dáo dác xung quanh.
Tiếng bánh xe nghiến trên sỏi đá lộc cộc vang vọng khắp lối vào thung lũng, ngay lập tức đánh động hai tên thám tử của Khương phủ đang ẩn nấp trong bụi rậm đầu làng. Nhìn thấy đoàn xe rầm rộ tiến về phía quan lộ dẫn lên đèo Lạc Nhạn, hai tên thám tử mừng rỡ khôn xiết, lập tức phi ngựa như bay đi báo tin.
Cùng lúc đó, tại một góc khuất sau chân núi phía Tây, một bóng hình cao lớn đang thoăn thoắt buộc chặt hai chiếc rương gỗ tuyết tùng vào chiếc khung gùi bằng tre già chắc chắn.
Tiêu Lập nâng chiếc gùi nặng hơn trăm cân lên vai nhẹ tựa lông hồng. Chàng mặc bộ võ phục màu xám tro gọn gàng, bên hông giắt đoản đao, sau lưng đeo cung tên, toàn thân toát lên vẻ oai phong lẫm liệt của một vị chiến thần bước ra từ khói lửa.
Bên cạnh chàng, Nhược Lam cũng đã chuẩn bị tươm tất với một chiếc gùi nhỏ đựng nước uống và vài chiếc bánh ngô ngọt nướng thơm phức. Nàng nhìn Tiêu Lập gánh vác hai chiếc rương nặng trịch mà bước chân vẫn vững vàng như bàn thạch, không khỏi xót xa bước tới khẽ hỏi:
“Nặng lắm không? Hay là chia bớt một rương sang cho ta gùi phụ chàng một đoạn?”
Tiêu Lập nghiêng đầu nhìn nàng, đáy mắt tràn ngập ý cười ấm áp:
“Nàng gùi bánh ngô là đủ rồi. Trọng lượng này so với chiến giáp và binh khí sa trường ngày trước của ta chẳng thấm vào đâu. Đi thôi, trước khi mặt trời l*n đ*nh núi, chúng ta phải vượt qua dốc Tử Đằng.”
Con đường mòn vách đá Lạc Nhạn thực chất là lối đi săn bí mật mà chỉ những người thợ săn lão luyện nhất mới dám đặt chân tới. Một bên là vách đá dựng đứng rêu phong trơn trượt, một bên là vực sâu hun hút với những dải mây trắng bồng bềnh trôi dưới chân. Không khí trên cao loãng và lạnh buốt, gió rít từng cơn qua khe đá như tiếng gầm rú của mãnh thú.
Tuy nhiên, suốt dọc đường đi, Nhược Lam chưa từng cảm thấy một chút sợ hãi nào.
Bởi vì bàn tay to lớn, ấm áp của Tiêu Lập luôn nắm chặt lấy tay nàng. Mỗi khi đi qua những đoạn đá tai mèo lởm chởm, chàng luôn là người bước lên trước thử độ bám của tảng đá, rồi mới quay lại nhẹ nhàng đỡ nàng qua. Có những khúc vách núi hẹp đến mức chỉ vừa một bàn chân đặt xuống, Tiêu Lập liền nghiêng người chắn ở phía ngoài mép vực, dùng thân thể vạm vỡ của mình làm thành một bức tường thành kiên cố tuyệt đối ngăn cách nàng với vực sâu thăm thẳm.
“Cẩn thận hòn đá dưới chân nàng, nó bị ẩm đấy.” Tiêu Lập trầm giọng nhắc nhở, cánh tay ghì chặt lấy eo nàng, nhấc bổng nàng qua một khe nứt hiểm trở một cách nhẹ nhàng như nâng một đóa hoa.
Nhược Lam nép vào v*m ng*c rắn rỏi của chàng, có thể nghe thấy rõ ràng từng nhịp tim đập mạnh mẽ, trầm ổn và bình yên của người đàn ông này. Nàng ngẩng đầu nhìn sườn mặt góc cạnh cương nghị của chàng, nơi những giọt mồ hôi đang lăn dài theo đường quai hàm nam tính, khóe môi nàng bất giác cong lên một nụ cười ngọt ngào. Có người đàn ông này ở bên, dù phía trước là đao sơn hỏa hải, nàng dường như cũng chẳng có gì phải e ngại.
Khoảng hai canh giờ sau, khi leo lên đến một mỏm đá nhô cao nhìn thẳng xuống con đèo Lạc Nhạn bên dưới, Tiêu Lập đột ngột dừng bước, giơ tay ra hiệu cho nàng nấp sau một phiến đá lớn.
“Nhìn kìa.” Tiêu Lập chỉ tay xuống con đường quan lộ uốn khúc phía xa.
Nhược Lam nheo mắt nhìn theo. Dưới chân đèo, một màn kịch náo nhiệt đang diễn ra vô cùng đặc sắc.
Hơn bốn mươi tên nha dịch áo xanh nẹp đỏ cùng đám côn đồ cầm đao sáng loáng đang hò hét ầm ĩ, vây kín ba cỗ xe lừa của thôn Lạc Diệp. Một tên quan lại bụng phệ mặc quan phục bát phẩm – ắt hẳn là Đề hạt họ Tôn – đang đứng chắp tay nghênh ngang trên một tảng đá lớn, hung hăng chỉ trỏ quát tháo.
Bên cạnh gã, tên quản gia Khương An băng bó khắp đầu như cái bánh tét, lồng ngực quấn đầy vải trắng nẹp gỗ, đang nhảy cẫng lên một cách đắc thắng, the thé hét lớn:
“Bắt lấy bọn chúng! Đích thị là lũ giặc cỏ Lạc Diệp buôn lậu tơ tằm! Tôn đại nhân, mau cho người xé toạc các tấm bạt ra, tịch thu toàn bộ tang vật cho ta!”
Nhược Lam nhìn thấy cảnh tượng ấy, không nhịn được mà bật cười khúc khích thành tiếng:
“Bọn họ đúng là nhiệt tình thật đấy, không uổng công Tam Thúc của ta sáng nay phải diễn sâu như vậy.”
Dưới chân núi, đám nha dịch hò nhau lao lên xe lừa, vung đao rạch nát từng lớp bạt dầu. Khương An cùng tên Đề hạt họ Tôn háo hức thò đầu vào, chờ đợi nhìn thấy những cuộn tơ Hoàng Kim lấp lánh để lập công lĩnh thưởng.Thế nhưng, khoảnh khắc lớp bạt dầu cuối cùng bị giật phăng ra, thứ đập vào mắt bọn chúng không phải tơ lụa cống phẩm, mà là hàng ngàn bó rơm rạ mục nát, bốc lên mùi ngai ngái nồng nặc, cùng vô số thân ngô khô kêu răng rắc dưới lưỡi đao!
Từ trên đỉnh vách đá, Nhược Lam và Tiêu Lập có thể nhìn thấy rõ mồn một cảnh tượng tên Đề hạt họ Tôn ngã ngửa ra sau vì hụt hẫng, mặt cắt không còn giọt máu, trong khi Khương An tức giận đến mức ôm ngực ho sặc sụa, phun ra một ngụm máu tươi rồi ngất lịm ngay tại chỗ giữa tiếng cười chế giễu vang dội của các tráng đinh thôn Lạc Diệp.
“Đi thôi.” Tiêu Lập khẽ mỉm cười, trong mắt lóe lên vẻ sảng khoái tột cùng: “Bọn chúng còn phải bận rộn dọn rơm rạ ít nhất nửa ngày nữa. Chúng ta vòng qua sườn núi này là sẽ xuống tới bờ sông Ngân Khê, từ đó thẳng tiến cửa thành Vân Châu.”
Thế nhưng, ngay khi hai người chuẩn bị rời khỏi mỏm đá, đôi tai thính nhạy của Tiêu Lập bỗng khẽ động. Chàng lập tức kéo giật Nhược Lam về phía sau lưng mình, tay phải rút phắt thanh đoản đao bên hông ra, ánh thép lạnh buốt lóe lên trong chớp mắt.
“Vèo! Vèo!”
Hai tiếng xé gió sắc nhọn vang lên, hai bóng đen bịt mặt từ trên ngọn tùng rậm rạp lao vụt xuống, trường kiếm trong tay đâm thẳng về phía chiếc rương đựng tơ lụa sau lưng Tiêu Lập!
Đó không phải là lũ nha dịch ô hợp, mà là những sát thủ thực thụ có thân thủ nhanh như chớp giật! Rõ ràng Khương Ngọc Trinh vô cùng xảo quyệt, ả không chỉ dựa vào cửa ải chính quyền mà còn thuê cả sát thủ giang hồ đi rà soát các con đường mòn phòng ngừa Nhược Lam trốn thoát.
“Cẩn thận!” Nhược Lam thốt lên một tiếng, nhưng nàng không hề hoảng loạn mà nhanh chóng nép sát vào vách đá để không làm vướng chân chàng.
Khuôn mặt Tiêu Lập trong nháy mắt phủ một tầng băng giá ngập tràn sát khí. Chàng không hề lùi lại nửa bước, thân hình cao lớn vung lên một đường đao tàn nhẫn và chuẩn xác đến cực điểm.
“Keng!”
Một tiếng kim loại va chạm chát chúa vang lên làm rung chuyển vách đá. Lưỡi đoản đao của Tiêu Lập chém gãy đôi thanh trường kiếm của tên sát thủ đi đầu, thế đao không giảm xé toạc lồng ngực gã, hất văng gã rơi thẳng xuống vực thẳm không đáy!
Tên sát thủ thứ hai kinh hãi trước sức mạnh khủng khiếp tựa sấm sét ấy, toan tháo lui thì một bóng đen khác từ trong lùm cây đã phóng ra như tia chớp – Hắc Lục xuất hiện, một cước đá văng vũ khí của tên sát thủ, sau đó bẻ gãy khớp tay gã, ấn chặt gã xuống nền đá.
“Chủ tử! Đã xử lý xong xuôi toán mai phục nhỏ này!” Hắc Lục chắp tay bẩm báo, ánh mắt liếc nhìn tên sát thủ đang r*n r* dưới đất với vẻ khinh bỉ cùng cực.
Tiêu Lập tra đao vào vỏ, không thèm liếc nhìn xác kẻ thù lấy một lần. Chàng quay phắt lại, hai tay nắm lấy bả vai Nhược Lam, ánh mắt dồn dập quét khắp người nàng từ trên xuống dưới, giọng nói run rẩy chứa chan sự lo lắng tột cùng:
“Lam nhi! Nàng có bị thương ở đâu không? Có mảnh kiếm nào quẹt trúng nàng không?”
Nhìn sự hoảng hốt và ân cần đến vụng về của người đàn ông vốn dĩ lạnh lùng như sắt thép trước mặt, trái tim Nhược Lam mềm nhũn ra. Nàng đưa hai bàn tay nhỏ bé áp lên gò má thô ráp, ấm áp của chàng, lắc đầu mỉm cười dịu dàng:
“Ta không sao, một sợi tóc cũng không tổn hại. Có chàng đứng chắn trước mặt ta như ngọn núi lớn thế này, trên đời này làm gì có ai làm tổn thương được ta chứ?”
Nghe được lời nói ấy, hơi thở gấp gáp của Tiêu Lập mới dần dần bình ổn trở lại. Chàng siết chặt bàn tay nàng trong lòng bàn tay mình, cảm nhận sự mềm mại và tin cậy tuyệt đối từ nàng, một cảm xúc mãnh liệt chưa từng có bỗng chốc dâng trào trong lồng ngực.
…
Hoàng hôn buông xuống, nhuộm đỏ cả một góc trời phía Tây dãy Lạc Nhạn.
Vượt qua chặng đường hiểm trở nhất của vách đá, họ men theo một con suối nhỏ chảy róc rách giữa thung lũng thông reo. Nơi đây chỉ còn cách ngoại vi Phủ thành Vân Châu chừng năm dặm đường bằng phẳng. Phía xa xa, bóng dáng tường thành đồ sộ và những ngọn đèn lồng bắt đầu được thắp lên lấp lánh như ngàn vì sao sa.
Hắc Lục và mấy tên ám vệ thân tín đã được Tiêu Lập lệnh tản ra bốn phía cách đó nửa dặm để lập hàng rào cảnh giới tuyệt đối an toàn.
Bên bờ suối róc rách nước trong vắt, Tiêu Lập đặt hai chiếc rương gỗ xuống bãi cỏ mềm dưới gốc một cây phong cổ thụ. Nhược Lam ngồi xuống bên phiến đá nhẵn, cởi bỏ chiếc gùi nhỏ, vốc làn nước suối mát lạnh rửa mặt cho xua tan đi sự mệt mỏi sau một ngày dài leo núi.
Tiêu Lập bước tới, đưa cho nàng một bầu nước ngọt lấy từ mạch suối đầu nguồn và chiếc bánh ngô nướng đã được chàng cẩn thận bọc trong lá chuối tươi để giữ độ mềm.
“Ăn chút gì lót dạ đi, cả ngày nay nàng chưa có hạt cơm nào vào bụng.” Giọng chàng trầm ấm như làn gió thoảng qua kẽ lá.
Nhược Lam nhận lấy chiếc bánh ngô, bẻ làm đôi rồi đưa một nửa cho chàng:
“Chàng gùi nặng gấp mười lần ta, chàng mới là người cần ăn nhiều.”
Tiêu Lập nhận lấy nửa chiếc bánh ngô ngọt ngào quen thuộc, cắn một miếng nhỏ. Vị ngọt bùi của ngô non thôn Lạc Diệp hòa quyện với mùi thơm của lá chuối lan tỏa nơi đầu lưỡi – đó là thứ hương vị bình dị, thuần khiết mà cả đời tung hoành nơi trận mạc đầy mùi máu tanh chàng chưa từng được nếm trải trước khi gặp nàng.
Ánh trăng rằm bắt đầu nhô lên khỏi rặng núi, rải một lớp bạc lấp lánh xuống mặt suối trong veo và dát lên gương mặt thanh tú của Nhược Lam một vầng sáng dịu dàng, hư ảo.
Tiêu Lập ngồi bên cạnh nàng, nhìn xuống đôi bàn tay đầy những vết sẹo đao thương trận mạc của chính mình, rồi lại nhìn sang người con gái đang mỉm cười ăn bánh ngô bên cạnh. Chàng biết, đêm nay là đêm cuối cùng trước khi họ bước vào trung tâm phong ba bão táp của Phủ thành Vân Châu. Một khi tấm lụa Hoàng Kim kia rực sáng tại Hội thi Dệt may, danh tiếng của Nhược Lam sẽ vang dội khắp giang sơn, và những mưu mô, hiểm họa từ kinh thành sẽ ập tới dữ dội gấp mười lần ngày hôm nay.
Chàng không thể tiếp tục lừa dối nàng, không thể để nàng bước vào cuộc chiến mà không hề hay biết thân phận thực sự của người đàn ông đang đứng bên cạnh mình.
Một khoảng im lặng kéo dài giữa hai người, chỉ có tiếng suối róc rách và tiếng gió thì thầm qua tán lá phong xào xạc.
“Lam nhi.” Tiêu Lập bỗng nhiên lên tiếng, thanh âm trầm thấp mang theo một sức nặng chưa từng có.
Nhược Lam nuốt miếng bánh ngô cuối cùng, nghiêng đầu nhìn chàng, bắt gặp ánh mắt thâm sâu thăm thẳm như đại dương của Tiêu Lập đang nhìn mình chăm chú. Nàng khẽ cười:
“Sao thế? Nhìn chàng nghiêm túc như vậy, chẳng lẽ lại có chuyện gì lớn sao?”
Tiêu Lập hít sâu một hơi, bàn tay chàng đặt lên phiến đá khẽ siết lại, ánh mắt không hề né tránh mà nhìn thẳng vào đôi mắt hạnh trong veo của nàng:
“Nàng từng hỏi ta… năm xưa ở trong quân đội làm chức quan gì, đúng không?”
Trái tim Nhược Lam khẽ nảy lên một nhịp. Nàng nhìn vào gương mặt cương nghị, từng đường nét như được tạc từ đá hoa cương của người đàn ông trước mặt, cảm nhận được sự chuyển biến sâu sắc trong bầu không khí. Nàng không nói gì, chỉ lặng lẽ gật đầu, chờ đợi chàng tiếp lời.
Tiêu Lập ngước nhìn lên vầng trăng sáng trên cao, giọng nói trầm hùng cất lên, mang theo ký ức của những năm tháng khói lửa ngập trời:
“Ta không phải là một viên bách hộ hay giáo đầu bình thường giải ngũ. Ta vốn họ Tiêu, tên một chữ Triệt… Tự là Lập.”
Chàng quay sang nhìn nàng, từng chữ buông ra rõ ràng, chắc nịch:
“Ta là Trấn Bắc Đại Tướng quân của Đại Ninh quốc – Tiêu Triệt.”
Dù từ lâu qua những vết sẹo kiếm trận mạc, bình ngự dược thượng thừa và khí chất vương giả của chàng, Nhược Lam đã lờ mờ đoán được thân phận chàng không hề tầm thường, nhưng khoảnh khắc ba chữ “Tiêu Triệt” và danh hiệu “Trấn Bắc Đại Tướng quân” chính miệng chàng thốt ra, lồng ngực nàng vẫn không khỏi rung lên bần bật.
Đó là vị chiến thần lừng lẫy thiên hạ của vương triều Đại Ninh! Người năm mười tám tuổi đã cầm quân dẹp tan ba mươi vạn quân man di phương Bắc, mười năm trấn thủ biên cương khiến quân địch nghe danh đã khiếp vía, nắm giữ trong tay mười vạn Trấn Bắc Thiết kỵ dũng mãnh thiện chiến nhất thiên hạ! Trong cuốn tiểu thuyết cung đấu cẩu huyết mà nàng từng đọc lướt qua ở thế giới hiện đại, cái tên này chính là một huyền thoại bi tráng, một hòn đá tảng vững chắc bảo vệ bờ cõi giang sơn.
Tiêu Lập – hay Tiêu Triệt – nhìn sự tĩnh lặng nơi đáy mắt nàng, trong lòng thoáng qua một tia lo lắng khôn nguôi. Chàng sợ nàng sẽ vì thân phận ngập tràn mùi đao binh và quyền lực này mà sinh lòng e ngại, sợ nàng sẽ xa lánh chàng. Chàng vội vàng giải thích, giọng nói mang theo sự khẩn thiết hiếm thấy:
“Nửa năm trước, trong trận phục kích tại hẻm núi Nhạn Môn ở biên cương, ta bị thuộc h* th*n tín phản bội, bị trúng phải Băng Phách Hàn Độc cực kỳ hiểm độc. Gian thần trong triều đình – mà kẻ đứng đầu không ai khác chính là Khương Thượng thư và phe cánh của gã – đã cấu kết với ngoại bang, cắt đứt toàn bộ đường viện lương thảo và phong tỏa tin tức, hòng dồn mười vạn quân Bắc Cương vào chỗ chết, trừ khử ta để đoạt lấy binh quyền.”
Ánh mắt Tiêu Triệt lóe lên tia hận thù lạnh buốt:
“Ta cùng một toán ám vệ liều chết phá vòng vây thoát ra ngoài. Ta tương kế tựu kế, tung tin Trấn Bắc Tướng quân đã trúng tên độc rơi xuống vực sâu tử trận, nhằm khiến lũ gian thần trong kinh thành lơ là cảnh giác, để lộ ra những sơ hở và bằng chứng phản quốc. Ta trốn về vùng núi Lạc Nhạn hẻo lánh này, dựng căn nhà gỗ bên bìa rừng, một mặt là để dưỡng thương áp chế hàn độc, mặt khác là âm thầm liên lạc với các bộ tướng trung thành, chờ ngày gom đủ chứng cứ để hồi kinh một mẻ quét sạch toàn bộ lũ sâu mọt hại nước hại dân.”
Chàng dừng lại một nhịp, ánh mắt dời về phía Nhược Lam, sự lạnh lùng tan biến hoàn toàn, chỉ còn lại sự chân thành đến tận cùng ruột gan:
“Khi trốn đến thôn Lạc Diệp, ta tưởng rằng cuộc đời mình chỉ còn lại thù hận, đao kiếm và máu tanh. Ta chưa từng nghĩ… tại nơi đất bạc cằn cỗi này, ta lại gặp được một người như nàng.”
Tiêu Triệt vươn tay, nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay nhỏ bé của Nhược Lam, siết chặt lấy như sợ chỉ cần buông lỏng là nàng sẽ biến mất giữa màn sương đêm:
“Nàng dạy ta biết hạt mầm nảy mầm từ lòng đất có mùi thơm thế nào, dạy ta biết một bát cháo cá suối nóng sốt có thể sưởi ấm tâm can ra sao. Nàng vì hái thuốc cứu ta mà thức trắng đêm, dùng sự kiên cường và nụ cười rạng rỡ của nàng để xua tan đi sự u ám trong tâm hồn ta. Lam nhi… từ khoảnh khắc hàn độc trong người ta tan biến nhờ chén thuốc của nàng, ta đã thề với trời đất, Tiêu Triệt này cả đời này chỉ nhận định một mình nàng.”
Chàng nhìn sâu vào mắt nàng, giọng nói trầm ấm mà vang vọng như lời thề độc trước non sông:
“Thân phận này của ta mang theo vô vàn hiểm nguy, đao kiếm vô tình, kẻ thù khắp chốn. Nhưng nàng hãy tin ta, dù là Khương gia kinh thành, hay bất cứ thế lực nào trên cõi đời này, chỉ cần Tiêu Triệt này còn một hơi thở, ta tuyệt đối sẽ không để bất kỳ kẻ nào chạm được vào một sợi tóc của nàng! Ta nguyện lấy mười vạn thiết kỵ làm hậu thuẫn, lấy cả tính mạng và danh dự của một chiến thần sa trường làm chiếc khiên chắn trọn đời che chở cho nàng sống một đời an nhàn, bình yên làm ruộng như nàng hằng mong ước!”
Gió đêm khẽ ngừng thổi.
Dưới ánh trăng vằng vặc, những lời bộc bạch tận đáy lòng của vị chiến thần lừng lẫy thiên hạ vang vọng bên bờ suối, chân thành, mộc mạc mà lay động đến tận sâu thẳm tâm can.
Nhược Lam nhìn người đàn ông trước mặt. Chàng không còn là một thợ săn thô ráp vô danh nơi bìa rừng, mà là Đại Tướng quân quyền nghiêng thiên hạ. Thế nhưng, trong mắt chàng lúc này không hề có sự kiêu ngạo của quyền lực, không có sự lạnh lùng của một kẻ sát phạt, mà chỉ có hình bóng nhỏ bé của nàng in sâu nơi đáy mắt, tràn ngập sự khẩn trương, lo sợ bị nàng chối từ.
Một nụ cười rạng rỡ bỗng chốc nở rộ trên môi Nhược Lam, xua tan đi toàn bộ sự ngột ngạt và căng thẳng trong không gian.
Nàng không hề lùi bước, không hề lộ ra một tia sợ hãi hay khúm núm trước thân phận hiển hách của chàng. Ngược lại, nàng trở tay, đan chặt năm ngón tay mềm mại của mình vào từng kẽ tay thô ráp của Tiêu Triệt, siết chặt lại.
“Tiêu Triệt…” Nàng khẽ gọi tên thật của chàng, giọng nói mềm mại tựa như lông vũ lướt qua trái tim: “Chàng nghĩ ta là ai chứ? Ta là Khương Nhược Lam – người dám cầm cuốc khai hoang ba mươi mẫu đồi sỏi đá, dám đốt rụi gia thư của Khương Thượng thư trước mặt từ đường, chẳng lẽ lại bị ba chữ ‘Đại Tướng quân’ của chàng dọa cho sợ chạy mất dép sao?”
Nàng nghiêng đầu, đôi mắt hạnh cong cong hình vầng trăng khuyết, cất giọng trêu chọc đầy vẻ hóm hỉnh:
“Hơn nữa… có một vị Trấn Bắc Đại Tướng quân uy phong lẫm liệt, võ công cái thế tình nguyện làm hộ vệ riêng, ngày ngày đốn củi, gánh nước, cuốc đất trồng rau cho ta… một mối làm ăn hời như thế này, một nữ thương nhân tinh ranh như ta làm sao có thể ngốc nghếch mà từ chối chứ?”
Tiêu Triệt ngẩn người nhìn nụ cười tinh nghịch của nàng, rồi bất chợt, một cảm giác nhẹ nhõm và hạnh phúc vô bờ bến vỡ òa trong lồng ngực chàng. Chàng bật cười – một nụ cười rạng rỡ, sảng khoái và tự do nhất kể từ ngày chàng khoác lên mình chiến bào sa trường.
Chàng kéo mạnh tay nàng, ôm trọn thân hình mảnh mai của Nhược Lam vào lòng. Vòng tay chàng vững chãi như núi non, siết chặt lấy nàng, cằm tựa lên mái tóc thơm mùi thảo mộc của nàng, hít sâu lấy sự bình yên mà chàng khao khát cả một đời:
“Được. Cả đời này, ta tình nguyện làm nông phu, làm hộ vệ của riêng nàng.”
Nhược Lam tựa đầu vào lồng ngực vững chãi của chàng, lắng nghe nhịp tim đập mạnh mẽ của Tiêu Triệt, cảm thấy một sự an tâm chưa từng có. Nàng khẽ vỗ nhẹ lên lưng chàng, rồi ngẩng đầu nhìn về phía trước.
Phía bên kia dòng suối, qua rặng liễu rủ, toàn cảnh Phủ thành Vân Châu sầm uất hiện ra lộng lẫy dưới ánh đèn lồng rực rỡ muôn màu. Đêm nay, tại sảnh chính của Hội quán Dệt may Phủ thành, Khương Ngọc Trinh và đám quan lại gian thương ắt hẳn đang đắc ý mở tiệc ăn mừng, tưởng rằng đã b*p ch*t được đường sống của nàng.
Thế nhưng, bọn chúng vĩnh viễn không thể ngờ được rằng, nàng không những đã vượt qua trùng vây một cách hoàn hảo, mà bên cạnh nàng lúc này còn có một chỗ dựa vững chắc nhất thiên hạ.
Nhược Lam siết chặt bàn tay Tiêu Triệt, đôi mắt nàng ánh lên vẻ sắc sảo, tự tin và ngập tràn khí phách:
“Đi thôi, Tiêu tướng quân của ta. Sáng sớm mai, chúng ta sẽ cho Khương gia kinh thành và toàn bộ thiên hạ mở rộng tầm mắt, xem tơ lụa Hoàng Kim của thôn Lạc Diệp đăng đỉnh như thế nào!”
Sương sớm mùa hạ giăng mờ trên những mái ngói rêu phong của Phủ thành Vân Châu. Khi tiếng chuông đồng từ lầu trống trên cổng thành gióng lên ba hồi ngân nga, xua tan bóng tối mịt mùng của màn đêm, cả góc phố phía đông đã rộn rã bước chân người qua lại. Hôm nay là ngày khai mạc Hội thi Dệt may thường niên – sự kiện giao thương tráng lệ bậc nhất toàn phủ, nơi hội tụ hàng trăm phường dệt lừng danh khắp các châu huyện và cũng là dịp triều đình tuyển chọn cống phẩm thượng hạng cho hoàng thất Đại Ninh.
Tọa lạc ngay ngã tư sầm uất nhất Phủ thành, Hội quán Dệt may Vân Châu hôm nay được trang hoàng vô cùng lộng lẫy. Dọc hai bên bậc thềm đá hoa cương trải thảm đỏ thêu hoa văn mây cuộn, hàng chục ngọn đèn lồng ngũ sắc treo cao đung đưa trong gió sớm. Trên đại sảnh thênh thang, mùi trầm hương thượng hạng thoang thoảng quyện cùng hương thơm dịu nhẹ của các loại hồ dệt, thảo mộc dưỡng vải tạo nên một bầu không khí trang trọng, xa hoa tột bực.
Tại khu vực trung tâm dành cho các phường dệt danh tiếng nhất, Khương Ngọc Trinh đang đứng giữa một vòng vây những lời tán dương xum xoe.
Ả vận một bộ váy gấm lưu tiên màu nguyệt bạch thanh nhã, mái tóc mây búi kiểu phi thiên cài trâm ngọc bích nạm ngọc trai lấp lánh. Trên gương mặt thoa phấn nụ kinh kỳ tinh xảo luôn thường trực một nụ cười đoan trang, dịu dàng chuẩn mực của một thiên kim tiểu thư khuê các. Thế nhưng, nếu nhìn kỹ vào khóe mắt liếc ngang của ả, người ta sẽ bắt gặp từng tia kiêu ngạo và đắc ý không sao che giấu nổi.
Phía trước mặt Khương Ngọc Trinh, đặt trên một giá gỗ đàn hương chạm trổ tinh vi, là một cuộn lụa trắng muốt như tuyết đầu mùa. Dưới ánh sáng rực rỡ của những ngọn nến sáp ong, mặt lụa ánh lên sắc bạc nhàn nhạt, từng đường thoi mũi chỉ đều tăm tắp, phẳng phiu không một gợn nhỏ. Đó chính là “Tuyết Bạch Vân Lụa” – tuyệt tác mà phường dệt lớn nhất dưới trướng Thượng thư phủ đã dồn toàn bộ tâm huyết suốt nửa năm qua để chế tác, với tham vọng độc chiếm ngôi đầu cống phẩm năm nay.
“Khương nhị tiểu thư quả nhiên tài hoa hơn người! Tấm Tuyết Bạch Vân Lụa này sợi mảnh như tơ nhện, mặt lụa mịn màng không tỳ vết, trắng muốt tựa mây trên trời cao. Lần này Khâm sai đại thần đích thân thẩm định, ngôi vị Quán quân cống phẩm mười phần thì đã nắm chắc trong tay đến chín phần chín rồi!”
“Đúng vậy, đúng vậy! Phường dệt Thượng thư phủ danh bất hư truyền, lại thêm bàn tay chỉ điểm khéo léo của nhị tiểu thư, lụa này tiến cung ắt khiến các nương nương trong cung mê mẩn. Đám phường dệt thôn quê hẻo lánh làm sao bì kịp một góc phong nhã chốn kinh kỳ!”
Mấy vị chưởng quầy của các hiệu buôn lớn ở Vân Châu tranh nhau bồi thêm những lời nịnh nọt bùi tai. Khương Ngọc Trinh khẽ giơ chiếc quạt lụa thêu hoa mẫu đơn che nửa nụ cười, cất giọng êm ái như chim oanh hót:
“Chư vị chưởng quầy quá khen rồi. Ngọc Trinh chỉ là phận nữ nhi mọn mằn, may mắn được phụ thân chỉ dạy đôi điều, lại có các vị đại sư trong phủ ngày đêm miệt mài dệt sợi. Mục đích dâng lụa lần này chẳng qua cũng vì muốn làm rạng danh nghề dệt nước nhà, chút tài mọn đâu dám nhận hai chữ tuyệt đỉnh.”
Lời nói thì khiêm nhường tột độ, nhưng ánh mắt ả quét qua những gian trưng bày xung quanh lại tràn ngập vẻ khinh thường. Đám lụa đỏ, gấm hoa của các huyện phụ cận dù có rực rỡ đến đâu, đặt cạnh Tuyết Bạch Vân Lụa của ả cũng chỉ như bùn non sánh với mây trắng.
Trong lòng Khương Ngọc Trinh lúc này tựa như có ngọn lửa hân hoan rực cháy. Ả liếc mắt nhìn bóng nắng đã bắt đầu rọi nghiêng qua khung cửa sổ lớn của hội quán. Giờ Thìn đã điểm, thời khắc các phường dệt phải hoàn tất việc ghi danh và đưa phẩm vật lên khán đài trung tâm đã đến.
Mà người cần đến… vĩnh viễn sẽ không bao giờ xuất hiện được nữa.
Nghĩ đến lá thư mật mà nha dịch Phủ thành gửi về chiều qua báo rằng Khương An đã dẫn người phong tỏa toàn bộ đèo Lạc Nhạn, chuẩn bị một mẻ lưới bắt gọn cả người lẫn lụa của Khương Nhược Lam, nụ cười trên môi Ngọc Trinh càng thêm ngọt ngào độc địa. Một đứa con gái bị phế truất, đuổi về nơi xó xỉnh bùn lầy nước đọng, dám mơ mộng dùng vài thước lụa vàng rách nát để lật mình sao? Hừ, có lẽ giờ này con tiện nhân đó đang khóc lóc van xin trong lao ngục tăm tối của nha môn, hoặc đã phơi thây dưới vực sâu vạn trượng của núi Lạc Nhạn rồi!
Vị trí thiên kim đích nữ duy nhất của Khương phủ, vị trí mẫu nghi thiên hạ tương lai, chỉ có thể thuộc về Khương Ngọc Trinh ả mà thôi!
“Khâm sai đại thần Tề Hoằng đại nhân quang lâm! Tri phủ đại nhân quang lâm!”
Tiếng xướng danh dõng dạc của viên tư nghi vang lên cắt ngang dòng suy nghĩ của mọi người. Toàn bộ hội trường lập tức im phăng phắc. Đám đông tự động dạt sang hai bên, cúi đầu cung kính.
Từ cửa sảnh, một đoàn quan lại uy nghiêm bước vào. Đi đầu là một vị quan trung niên trạc ngũ tuần, khoác trên mình phẩm phục thêu chim cẩm kê màu xanh tía, sắc mặt uy nghiêm, đôi mắt chim ưng sắc lẹm toát ra vẻ thanh liêm, chính trực và từng trải. Đó chính là Khâm sai Giám sát Ngự sử Tề Hoằng – người được đích thân Hoàng đế phái đi tuần tra việc nông tang, cống phẩm tại phương Nam. Đi sát phía sau là Tri phủ Vân Châu cùng hàng chục sai nha gươm giáo sáng loáng.
Tề đại nhân sải bước lên bục chủ tọa danh dự, khẽ phất tay áo rộng:
“Chư vị miễn lễ. Hôm nay bản quan phụng mệnh Hoàng thượng giám sát hội thi dệt may, cốt tìm kiếm những cống phẩm chân chính thể hiện được tài nghệ và sự hưng thịnh của ngành nông dệt Đại Ninh. Hội quy nghiêm cẩn, lấy chất lượng làm gốc, tuyệt đối không thiên vị bất kỳ ai. Giờ lành đã đến, mời ban giám khảo khai đàn kiểm định!”
Tiếng trống lệnh “Tùng! Tùng! Tùng!” vang rền khắp đại sảnh.
Viên tư nghi bước ra giữa đài cao, giở sổ danh bạ ra tuyên đọc:
“Hội thi tuyển chọn cống phẩm Vân Châu chính thức bắt đầu! Mời các phường dệt lần lượt dâng lễ vật để Khâm sai đại thần và hội đồng trưởng lão thẩm định. Đầu tiên, kính mời Tuyết Bạch Vân Lụa của phường dệt Thượng thư phủ!”
Khương Ngọc Trinh mỉm cười kiêu sa, tao nhã bước lên đài cao. Hai tỳ nữ kính cẩn nâng cuộn lụa trắng muốt bung nhẹ ra trên mặt bàn phủ gấm đen. Sắc trắng tinh khôi tương phản mãnh liệt với nền đen tuyền, khiến tấm lụa như phát ra một vầng sáng dịu nhẹ, mượt mà như dòng suối băng.
Hội đồng giám khảo gồm năm vị nghệ nhân lão thành của đất Vân Châu cùng tiến lại gần, cẩn thận nâng mép lụa lên săm soi.
“Tuyệt phẩm! Sợi tơ kéo vô cùng đều, mật độ dệt chặt chẽ mà vẫn giữ được độ rủ mềm mại.”
“Màu trắng này không phải trắng bệch do ngâm vôi, mà là sắc trắng thuần khiết của tơ tằm thượng phẩm, quả thực xứng danh Tuyết Bạch!”
Những lời khen ngợi không dứt khiến Khương Ngọc Trinh càng thêm nở mày nở mặt. Ả liếc nhìn Khâm sai Tề Hoằng, khẽ cúi đầu làm lễ:
“Khởi bẩm Tề đại nhân, tấm lụa này được dệt từ giống tằm trắng nuôi bằng lá dâu đầu mùa vùng phụ cận kinh kỳ, trải qua ba mươi sáu công đoạn tẩy hồ bí truyền. Dâng lên hoàng thất, ắt xứng đáng với phong thái thanh cao của bậc đế vương.”
Tề Hoằng bước tới, đưa ngón tay vuốt nhẹ lên thớ lụa, gật đầu vẻ vừa ý:
“Rất tốt. Tinh xảo, công phu, không hổ là tay nghề của phường dệt kinh thành. Nếu không có vật phẩm nào vượt trội hơn, tấm Tuyết Bạch Vân Lụa này hoàn toàn xứng đáng đoạt…”
“Chậm đã!”
Một thanh âm trong trẻo, cao vút và tràn đầy nội lực bỗng nhiên từ ngoài cửa chính vọng vào, cắt ngang lời phán của vị Khâm sai. Thanh âm ấy không hề mang theo vẻ sợ sệt của kẻ hèn mọn, trái lại còn ẩn chứa sự đĩnh đạc, tự tin đến lạ kỳ, vang vọng khắp không gian rộng lớn của hội quán.
Toàn thể quan khách, thương nhân và giám khảo đồng loạt giật mình quay phắt đầu lại.
Khương Ngọc Trinh đứng trên đài cao, nụ cười trên khóe môi bỗng chốc cứng đờ. Một luồng khí lạnh buốt xông thẳng từ lòng bàn chân lên tận đỉnh đầu ả. Thanh âm này… thanh âm đáng ghét mà ả căm hận đến tận xương tủy này… làm sao có thể?!
Nơi ngưỡng cửa lớn ngập tràn ánh nắng ban mai, hai bóng người đang hiên ngang sải bước bước vào.
Đi phía trước là một thiếu nữ dáng người mảnh mai, thanh thoát. Nàng vận một bộ y phục vải thô dệt thủ công màu xanh biếc nền nã, vạt áo bó gọn gàng, mái tóc đen nhánh búi củ tỏi đơn sơ chỉ cài một chiếc trâm gỗ đào mộc mạc. Trên gương mặt thanh tú không hề dặm một hạt phấn nụ kinh kỳ, nhưng làn da lại trắng hồng rạng rỡ, đôi mắt hạnh trong veo lấp lánh ánh thông tuệ và nụ cười tươi tắn tựa như đóa sơn trà ngậm sương sớm nơi núi rừng.
Đi sát ngay phía sau nàng là một nam tử thân hình cao lớn như ngọn núi sừng sững. Chàng khoác chiếc áo choàng màu chàm sẫm, bờ vai rộng vững chãi, đường nét gương mặt góc cạnh cương nghị tựa như đao khắc. Đôi mắt đại bàng sâu thẳm quét qua hội trường, tỏa ra một luồng uy áp trầm mặc khiến những kẻ xung quanh bất giác rùng mình, tự động né dạt ra tạo thành một lối đi thênh thang. Trên tay nam tử ấy, chiếc rương gỗ mun chạm khắc giản dị được nâng nhẹ tênh như không có chút trọng lượng.
Đó chính là Khương Nhược Lam và Tiêu Lập!
“Ngươi… Khương Nhược Lam?!” Khương Ngọc Trinh thất thanh kêu lên, chiếc quạt lụa trên tay run rẩy suýt chút nữa rơi xuống đất. Ngũ quan xinh đẹp của ả trong chớp mắt vặn vẹo vì kinh hãi và khó tin: “Sao… sao ngươi có thể ở đây? Ngươi không phải đã…”
Nhược Lam dừng bước ngay trước đài cao, đón nhận ánh mắt trợn tròn của Ngọc Trinh bằng một cái nhếch môi đầy giễu cợt. Nàng nghiêng đầu, thong thả nói:
“Sao ta lại ở đây ư? Khương nhị tiểu thư có vẻ bất ngờ quá nhỉ? Ngươi tưởng rằng phái một đám chó săn cùng vài tên quan binh thoái hóa chặn đường ở đèo Lạc Nhạn là có thể giam chân được ta sao? Đáng tiếc thật, đường lớn có chó chặn thì ta đi đường mòn. Người của ngươi giờ này chắc đang bận nhặt rơm rạ dưới chân đèo rồi đấy.”
“Ngươi… ngươi nói bậy bạ gì đó!” Mặt Khương Ngọc Trinh cắt không còn giọt máu, vội vàng cắn môi chối phắt, ánh mắt hoảng loạn liếc nhìn Khâm sai Tề Hoằng.
Tề đại nhân khẽ nhíu mày, trầm giọng quát:
“Dưới công đường hội thi, kẻ nào dám to tiếng ồn ào? Ngươi là ai, đến đây có việc gì?”
Nhược Lam không hề bối rối, nàng thong dong tiến lên hai bước, chắp tay hành lễ theo đúng quy củ của một nông hộ tự do, lưng thẳng tắp như cây tùng giữa bão tuyết:
“Khởi bẩm Khâm sai đại thần, dân nữ là Khương Nhược Lam, chủ hộ độc lập của thôn Lạc Diệp, huyện Vân Khê. Dân nữ phụng chỉ lệnh của Khuyến Nông Chiếu, mang sản vật dệt may của Tổ hợp tác Lạc Diệp đến tham gia hội thi, mong được đại nhân cùng chư vị tiền bối lượng định!”
Nói đoạn, nàng quay sang gật đầu với Tiêu Lập.
Tiêu Lập bước lên, đặt chiếc rương gỗ mun lên chiếc bàn đá hoa cương bên cạnh bàn của Khương Ngọc Trinh. Động tác của chàng dứt khoát, trầm ổn, bàn tay thô ráp khẽ gạt chiếc then đồng sang một bên.
“Khâm sai đại thần minh giám!” Khương Ngọc Trinh thấy vậy liền hoảng hốt kêu lên, cố lấy lại vẻ đoan trang giả tạo để chèn ép đối phương: “Thời khắc ghi danh đã qua, hơn nữa ả Khương Nhược Lam này chỉ là một kẻ tội đồ bị Khương gia chúng ta trục xuất về quê vì phẩm hạnh bất hảo. Một ả tiện tỳ làm ruộng nơi xó rừng hẻo lánh, dơ dáy thô kệch, thì làm ra được thứ gì ra hồn? Đem đồ rác rưởi lên sảnh đường tôn quý này chẳng phải là làm bẩn mắt Khâm sai đại thần, vũ nhục quốc thể hay sao? Người đâu, mau đuổi ả ra ngoài!”
“Ai dám!”
Tiêu Lập bỗng nhiên tiến lên một bước. Âm thanh của chàng trầm thấp, lạnh lẽo tựa như tiếng sấm rền giữa trời đông buốt giá. Một cỗ sát khí vô hình từng tôi luyện qua máu lửa chiến trường cuộn trào ra từ lồng ngực chàng, khiến bốn tên nha dịch vừa định xông lên lập tức khựng lại, da đầu tê dại, hai chân run lẩy bẩy như bị đóng đinh tại chỗ.
Không khí trong đại sảnh bỗng chốc đông cứng lại. Ánh mắt Khâm sai Tề Hoằng khẽ nheo lại, dán chặt vào bóng lưng của Tiêu Lập. Là một lão thần từng trải, Tề Hoằng lập tức cảm nhận được khí tức sát phạt kinh hồn bạt vía toát ra từ người nam tử áo chàm này – đó tuyệt đối không phải thứ khí chất của một thợ săn bình thường!
Tề đại nhân giơ tay lên, ngăn cản sự hỗn loạn, ánh mắt nghiêm nghị nhìn Nhược Lam:
“Hội thi lấy phẩm vật làm trọng. Giờ Thìn vừa dứt tiếng chuông, ngươi bước vào cửa đúng lúc bản quan chưa đặt bút định đoạt, coi như hợp lệ. Ngươi nói ngươi mang sản vật của thôn Lạc Diệp đến… rốt cuộc là thứ gì? Mở ra xem!”
“Dân nữ tuân mệnh.”
Nhược Lam mỉm cười rạng rỡ. Nàng hít sâu một hơi, hai tay nhẹ nhàng mở toang nắp rương gỗ mun.
Khoảnh khắc nắp rương bật mở, một dải lụa được cuộn tròn bên trong khẽ bung ra.
Và rồi, một cảnh tượng kỳ diệu chưa từng thấy bỗng chốc hiện ra trước mắt toàn thể quan khách trong đại sảnh!
Đó không phải là màu trắng của tuyết, không phải màu đỏ của son, cũng không phải màu xanh của ngọc.
Đó là một màu vàng kim rực rỡ, lộng lẫy và thuần khiết đến nao lòng!
Khi Nhược Lam nâng mép lụa lên, dải lụa trôi tuột qua những ngón tay nàng mềm mại tựa như một dòng nước suối mùa thu. Dưới ánh nắng ban mai rọi thẳng qua khung cửa sổ, tấm lụa vàng kim bỗng chốc bừng sáng, phản chiếu lại những luồng kim quang lấp lánh như thể có hàng ngàn tia nắng mặt trời được cô đọng, đan dệt tinh vi vào từng sợi tơ.
Cả hội quán rộng lớn với hàng trăm con người bỗng chốc rơi vào sự tĩnh lặng tuyệt đối. Tiếng xì xào bàn tán tắt lịm, chỉ còn lại những tiếng hít sâu đầy kinh ngạc.
“Trời… trời đất ơi…” Một vị lão nghệ nhân trong ban giám khảo run rẩy thốt lên, hai mắt mở to hết cỡ, bước chân lảo đảo tiến lại gần chiếc bàn đá: “Đây… đây là thứ gì thế này? Màu sắc này… không phải do nhuộm!”
“Tơ vàng tự nhiên?!” Một vị chưởng quầy khác kinh hãi kêu lên: “Ta làm nghề buôn tơ lụa bốn mươi năm, chỉ từng nghe nói trong cổ thư tiền triều có ghi chép về giống tằm Hoàng Kim nhả tơ thành vàng ròng, cứ ngỡ là chuyện hoang đường… Không ngờ hôm nay lại được tận mắt chứng kiến!”
Tấm lụa của Nhược Lam dài ba trượng, rộng bốn thước, được nàng và Tiêu Lập trải dài trên mặt bàn đá. Mặt lụa phẳng lặng như gương, không hề có một nút thắt, không một sợi tơ gãy. Sắc vàng của nó không chói mắt dung tục như vàng thỏi đúc khuôn, mà ấm áp, óng ả, toát lên vẻ quyền quý, uy nghiêm tột bực của bậc đế vương thiên tử.
So với tấm lụa vàng kim rực rỡ như vầng thái dương này, cuộn Tuyết Bạch Vân Lụa của Khương Ngọc Trinh đặt bên cạnh bỗng chốc trở nên nhạt nhòa, ảm đạm tựa như một đống tro tàn vô sắc!
Khương Ngọc Trinh đứng chết trân tại chỗ, hai mắt trợn trừng, móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay đến bật máu mà không hề hay biết. Ả không tin, tuyệt đối không thể tin được! Con pháo hôi ti tiện bị ả dẫm đạp dưới chân, làm sao có thể tạo ra được thứ bảo vật nghịch thiên bực này?!
Khâm sai Tề Hoằng không kìm được sự xúc động, rời khỏi ghế chủ tọa, bước nhanh xuống đài cao. Đôi bàn tay vốn quen cầm bút nghiên ngự sử của ông run nhè nhẹ khi chạm vào bề mặt tấm lụa.
Một cảm giác mát lạnh, mịn màng như da em bé truyền qua đầu ngón tay. Lụa nhẹ đến mức tưởng như không có trọng lượng, nhưng khi cầm lên lại có độ rủ trĩu nặng, đầm tay đến kỳ lạ.
“Khởi bẩm Khâm sai đại thần và chư vị tiền bối,” Nhược Lam cất giọng tự tin, rành rọt giải thích từng chi tiết: “Đây là ‘Hoàng Kim Vân Lụa’ do Tổ hợp tác Lạc Diệp dệt nên. Giống tằm này là tằm Hoàng Kim thuần chủng, được nuôi dưỡng hoàn toàn bằng lá của giống dâu cao sản trồng trên vùng đất đồi sỏi đá giàu khoáng chất của núi Lạc Nhạn. Nước cho tằm uống là mạch nước ngầm thanh khiết dẫn từ đỉnh núi về. Toàn bộ kén tằm nhả ra đều mang sắc vàng tự nhiên của đất trời, không hề dùng một giọt phẩm nhuộm hóa chất hay khoáng thạch nào.”Nói đoạn, Nhược Lam ra hiệu cho Tiêu Lập mang lên một bát nước suối trong vắt.
Trước sự chứng kiến của hàng trăm cặp mắt tò mò, Nhược Lam nhấc bát nước lên, dứt khoát hắt thẳng một gáo nước lên bề mặt tấm lụa vàng!
“A!” Đám đông kinh hãi thốt lên một tiếng nghẹn ngào, không ít người xót xa vì nghĩ rằng tấm lụa quý sắp bị nước làm ố bẩn.
Thế nhưng, một cảnh tượng khó tin lại xảy ra!
Nước suối đổ xuống bề mặt lụa không hề thấm vào thớ vải, mà lập tức co cụm lại thành những giọt nước tròn xoe như hạt ngọc, lăn lông lốc trên mặt lụa rồi trôi tuột xuống mép bàn rơi lộp độp xuống đất. Nhược Lam nhẹ nhàng nâng tấm lụa lên, khẽ vẩy nhẹ một cái. Mặt lụa lập tức khô ráo hoàn toàn, phẳng phiu nguyên vẹn, không đọng lại dù chỉ một vết ẩm!
“Hiệu ứng lá sen!” Nhược Lam thầm nghĩ trong bụng với niềm tự hào của một tiến sĩ nông học hiện đại.
Bằng kỹ thuật ươm tơ bằng guồng nước ấm kiểm soát nhiệt độ nghiêm ngặt kết hợp dịch chiết từ thảo mộc tự nhiên để giữ lại lớp sáp tự nhiên bảo vệ sợi protein fibroin, nàng đã tạo ra một cấu trúc dệt siêu khít, khiến bề mặt lụa có khả năng kháng nước và chống bám bẩn tuyệt đối – điều mà kỹ thuật dệt thô sơ thời phong kiến chưa từng làm được!
Nhược Lam mỉm cười, tiếp tục cất giọng trong trẻo:
“Lụa tơ tằm thông thường sợ nước, dễ ẩm mốc, nhưng Hoàng Kim Vân Lụa của Lạc Diệp nhờ kết cấu sợi tơ tằm Hoàng Kim đặc biệt và kỹ thuật dệt nước ấm độc quyền, nước đổ không thấm, bụi trần không bám. Mùa hè mặc vào mát rượi như băng, mùa đông lại giữ ấm cản gió tựa lông hồng.”
Chưa dừng lại ở đó, nàng nắm lấy hai đầu mép lụa, trao một đầu cho một vị giám khảo to béo:
“Mời trưởng lão thử dùng toàn lực kéo căng dải lụa này.”
Vị giám khảo bán tín bán nghi, dùng hai tay nắm chặt mép lụa, vận hết sức bình sinh gồng mình kéo giật về phía sau. Nhược Lam khẽ mỉm cười, giữ chặt đầu kia. Tấm lụa căng ra như dây cung, phát ra tiếng kêu “vù vù” trầm đục, nhưng từng thớ sợi vẫn bện chặt vào nhau, không hề có dấu hiệu rạn nứt hay đứt gãy dù chỉ một sợi tơ!
“Trời phật che chở! Dẻo dai gấp ba lần tơ tằm thông thường!” Vị giám khảo buông tay ra, thở hổn hển, kinh hãi thốt lên: “Bảo vật! Đây thực sự là quốc bảo của Đại Ninh ta!”
Khâm sai Tề Hoằng đứng lặng người hồi lâu. Đôi mắt sắc bén của vị đại thần kinh kỳ ánh lên sự thán phục tột cùng. Ông vuốt chòm râu bạc, ngửa mặt lên trời cười vang một tràng sảng khoái:
“Hảo! Hảo một tấm Hoàng Kim Vân Lụa! Bản quan phụng mệnh Hoàng thượng tuần du khắp mười hai châu phủ phương Nam, xem qua không dưới ngàn cuộn gấm vóc lụa là, nhưng chưa từng thấy thứ tơ lụa nào kinh diễm, thần kỳ đến nhường này! Sắc vàng này chính là sắc vàng của long bào thiên tử, là điềm lành trời ban cho giang sơn Đại Ninh thịnh trị!”
Nghe những lời phán như đinh đóng cột của Khâm sai đại thần, toàn bộ đại sảnh lập tức ồ lên những tiếng hoan hô như sấm dậy. Các vị thương nhân, chưởng quầy vỗ tay không ngớt, ánh mắt nhìn Nhược Lam tràn đầy sự ngưỡng mộ và thèm muốn được hợp tác.
“Không! Không thể nào! Đại nhân, người bị ả lừa rồi!”
Một tiếng thét the thé, chói tai vang lên xé toạc bầu không khí náo nhiệt.
Khương Ngọc Trinh hoàn toàn mất đi vẻ đoan trang khuê các thường ngày. Đôi mắt ả đỏ ngầu, mái tóc mây hơi xộc xệch, gương mặt vặn vẹo vì sự ghen ghét và phẫn nộ tột cùng. Ả lao bổ xuống đài cao, chỉ thẳng ngón tay run rẩy vào mặt Nhược Lam, gào thét mất kiểm soát:
“Nó là đồ ăn trộm! Tề đại nhân, ngài ngàn vạn lần đừng để ả yêu nữ này mê hoặc! Ả vốn là thứ nữ bị Khương gia chúng ta đuổi khỏi cửa vì tội bất hiếu, trộm cắp! Trước khi bị trục xuất, ả đã lén lút lẻn vào mật các của Thượng thư phủ, đánh cắp bí phương ươm tơ tiến cống của gia tộc chúng ta mang về thôn dã! Thứ lụa vàng này… chính là tâm huyết của Khương Thượng thư phủ ta, do ả ăn cắp mà có!”
Lời vu cáo độc địa vừa thốt ra, cả hội trường lại xôn xao bàn tán. Ánh mắt mọi người nhìn về phía Nhược Lam bắt đầu lộ vẻ nghi hoặc. Dù sao thân phận Thượng thư phủ kinh thành cũng quá mức hiển hách, lời nói của đích nữ Thượng thư tự nhiên mang theo sức nặng gia thế.
Thế nhưng, đối mặt với đòn vu khống hèn hạ ấy, Khương Nhược Lam không hề biến sắc.
Nàng khẽ bật cười thành tiếng. Tiếng cười trong trẻo, mỉa mai vang lên giữa đại sảnh khiến Khương Ngọc Trinh càng thêm chột dạ.
“Khương nhị tiểu thư, ngươi nói năng không biết ngượng mồm sao?” Nhược Lam tiến lên một bước, ánh mắt sắc như lưỡi dao găm thẳng vào đồng tử của đối phương: “Ngươi nói đây là bí phương của Thượng thư phủ? Vậy ta xin hỏi ngươi ba câu, nếu ngươi trả lời được, ta lập tức dâng hai tay nộp lại tấm lụa này và theo ngươi về chịu tội!”
Ngọc Trinh cắn răng, nghiến lợi trừng trừng: “Ngươi… ngươi cứ hỏi!”
Nhược Lam dõng dạc cất tiếng, giọng nói vang rền át cả tiếng gió ngoài sảnh:
“Câu thứ nhất: Tằm Hoàng Kim thuộc họ tằm dại bản địa vùng cao, chu kỳ sinh trưởng từ trứng đến khi ăn rỗi là bao nhiêu ngày? Nhiệt độ và độ ẩm trong nhà tằm vào đêm thứ mười lăm khi tằm bắt đầu chuyển sang màu hổ phách phải duy trì ở mức nào để tằm không bị thối kén?”
“Ta… ta…” Khương Ngọc Trinh ấp úng, trán rịn mồ hôi hột. Ả quanh năm chỉ biết ngồi lầu son gác tía, ngón tay không dính bụi trần, làm sao biết được con tằm sống chết ra sao!
Nhược Lam không để ả kịp thở, tiếp tục bồi thêm câu thứ hai:
“Câu thứ hai: Đất trồng dâu để nuôi tằm Hoàng Kim cần độ chua phèn như thế nào? Dùng loại phân ủ vi sinh nào, tỉ lệ tro trấu và vôi bột là bao nhiêu để rễ cây dâu hấp thụ đủ khoáng chất silicat tự nhiên, giúp lá dâu tạo ra lượng protein fibroin màu vàng óng cho tằm nhả tơ?”
“Cái… cái gì mà phi-brô-in… phân vi sinh gì chứ?!” Khương Ngọc Trinh hoa mày chóng mặt, lúng túng lùi lại hai bước, mặt mày tái mét như người chết trôi.
Nhược Lam cười lạnh, bước tiếp một bước ép sát, cất giọng đanh thép chốt hạ câu thứ ba:
“Câu thứ ba: Khi ươm tơ trên guồng nước ấm, nhiệt độ của chậu nước phải giữ ở mức mấy phần nóng mấy phần nguội để lớp sericin không bị tan chảy quá nhanh làm đứt sợi tơ vàng? Tốc độ quay của trục guồng cải tiến là bao nhiêu vòng một khắc?”
Toàn bộ đại sảnh im phăng phắc. Ba câu hỏi của Nhược Lam liên hoàn giáng xuống như sấm sét giữa trời quang, câu nào câu nấy đều ẩn chứa kiến thức nông học và kỹ thuật dệt may sâu sắc, uyên bác đến mức ngay cả năm vị lão nghệ nhân trong ban giám khảo cũng phải gật gù thán phục, vội vàng lấy bút ghi chép lại.
Còn Khương Ngọc Trinh lúc này chỉ biết đứng chôn chân tại chỗ, miệng há hốc không thốt nên lời, cả người run rẩy như cầy sấy giữa mùa đông!
Nhược Lam quay người lại, hướng về phía Khâm sai Tề Hoằng và toàn thể bá quan, cất giọng sang sảng đầy khí phách:
“Khởi bẩm Khâm sai đại thần, một kẻ ngay cả con tằm ăn lá gì, cây dâu bón phân gì, sợi tơ kéo ra sao cũng hoàn toàn mù tịt, chỉ biết ngồi mát ăn bát vàng, cậy quyền cậy thế… mà dám mở miệng nhận xằng là chủ nhân của bí phương ươm tơ? Khương gia các người nếu có bí phương thần kỳ này, sao suốt hai mươi năm qua không dệt nổi một thước tơ vàng dâng lên Hoàng thượng, mà phải đợi đến khi ta – một nữ tử bị các người trục xuất, dùng mồ hôi và nước mắt khai khẩn ba mươi mẫu đồi sỏi đá nơi thôn dã làm ra thành quả, các người mới vội vã chạy đến cướp công?”
“Hay cho câu ‘dùng mồ hôi nước mắt làm ra thành quả’!”
Khâm sai Tề Hoằng đập mạnh tay xuống bàn, giận dữ quát lớn:
“Khương nhị tiểu thư! Ngươi coi công đường hội thi của triều đình là trò đùa sao? Trước mặt bản quan và bàn dân thiên hạ, ngươi không đưa ra được nửa lời giải thích chuyên môn, chỉ biết ngậm máu phun người, vu oan giá họa cho người có công nông tang! Thượng thư phủ dạy dỗ nữ nhi như thế này sao? Thật là vô liêm sỉ!”
“Đại nhân… thần nữ… thần nữ không có…” Khương Ngọc Trinh sợ đến mức nhũn cả hai chân, quỳ sụp xuống đất, nước mắt giàn giụa nhưng lúc này chẳng còn ai thương xót cho vẻ yếu đuối giả tạo của ả nữa.
Những tiếng xì xào khinh bỉ của hàng trăm quan khách xung quanh như những cái tát vô hình giáng liên tiếp vào mặt ả:
“Hóa ra là ỷ thế Thượng thư phủ định cướp trắng công thức của người ta!”
“Thật đê tiện! Thấy người ta làm ra đồ quý liền vu cho người ta ăn trộm, tiểu thư kinh thành mà nhân phẩm đê hèn đến mức này sao?”
“Đúng là mất mặt dòng dõi thư hương!”
Tề Hoằng phất mạnh tay áo, lạnh lùng hạ lệnh:
“Người đâu! Lập tức tước bỏ tư cách tham gia hội thi của phường dệt Thượng thư phủ! Trục xuất Khương Ngọc Trinh ra khỏi Hội quán Dệt may Vân Châu, cấm bước chân vào bất kỳ hội thi nào của phủ thành trong ba năm! Bản quan sẽ đích thân dâng tấu chương lên Hoàng thượng, hạch tội Khương Thượng thư dung túng gia quyến làm loạn nơi công đường!”
“Không! Đừng mà! Tề đại nhân tha mạng… buông ta ra!”
Mấy tên thị vệ lực lưỡng lập tức tiến lên, không chút nể nang lôi xềnh xệch Khương Ngọc Trinh ra ngoài cửa. Tiếng gào khóc thảm thiết, nhục nhã của ả vang vọng khắp góc phố rồi tắt dần trong tiếng cười chê, chỉ trỏ của người dân vây xem bên ngoài.
Đại sảnh hội quán rốt cuộc cũng lấy lại được sự trang nghiêm, thanh tịnh.
Khâm sai Tề Hoằng bước xuống đài, đích thân nâng dải Hoàng Kim Vân Lụa lên, trịnh trọng tuyên bố:
“Bản quan nhân danh Khâm sai triều đình, tuyên bố: Hoàng Kim Vân Lụa của Tổ hợp tác Lạc Diệp, huyện Vân Khê chính thức đoạt giải Quán quân Hội thi Dệt may Phủ thành năm nay! Tấm lụa này sẽ được ghi vào danh bạ cống phẩm thượng hạng bậc nhất, lập tức hộ tống về kinh thành để dâng lên Hoàng thượng và Hoàng thái hậu ngự lãm!”
Tiếng pháo hoa nổ vang trời bên ngoài hội quán hòa cùng tiếng reo hò vang dội của toàn thể cử tọa.
Viên tư nghi kính cẩn dâng lên một khay phủ gấm đỏ, bên trên đặt một tấm biển vàng khắc bốn chữ rồng bay phượng múa: “Vân Châu Đệ Nhất Lụa”, cùng một trăm lượng bạc trắng tiền thưởng của triều đình và giấy chứng nhận miễn toàn bộ thuế dệt may trong năm năm cho thôn Lạc Diệp.
Nhược Lam đón nhận phần thưởng, trong lòng dâng lên một niềm xúc động khó tả. Những ngày tháng đội nắng dầm mưa cuốc đất trên đồi sỏi, những đêm thức trắng cùng Tam Thẩm canh lò sưởi địa long cho tằm ăn rỗi, những vòng quay tơ miệt mài bên dòng nước ấm… tất cả mồ hôi và công sức của nàng cùng bà con thôn Lạc Diệp cuối cùng đã kết thành trái ngọt rực rỡ nhất!
Nàng khẽ quay đầu lại.
Giữa đám đông đang hò reo chúc tụng, Tiêu Lập vẫn đứng đó, lặng lẽ và vững chãi như một pho tượng đồng hun. Ánh mắt chàng khóa chặt lấy bóng hình nàng, trong đôi mắt đại bàng từng chỉ biết đến đao kiếm và máu lửa sa trường ấy, lúc này chỉ ngập tràn sự dịu dàng, tự hào và cưng chiều vô hạn.
Khẽ chạm phải ánh mắt chàng, Nhược Lam nhoẻn miệng cười. Nụ cười rạng rỡ như nắng sớm, chan chứa sự ngọt ngào của tình ý đôi lứa đã cùng nhau vượt qua bao bão giông. Nàng biết, vinh quang này không chỉ thuộc về riêng nàng, mà còn thuộc về người đàn ông đã luôn âm thầm giương cung chắn gió che mưa phía sau lưng nàng.
Thế nhưng, đúng vào khoảnh khắc ánh hào quang chiến thắng đang bừng lên rực rỡ nhất, một âm thanh dồn dập, chói tai từ ngoài cổng thành bỗng xé toạc không gian ngày hội.
“Cấp báo! Biên ải cấp báo! Trạm dịch tám trăm dặm khẩn cấp!”
Một kỵ binh trạm dịch mình đầy bụi đất, chiến bào rách rưới, gương mặt hốc hác môi nứt nẻ bật máu, đang phi ngựa như điên dại lao thẳng vào trước cửa Hội quán Dệt may. Con ngựa chiến thở hồng hộc ra bọt mép rồi quỵ ngã ngay trên bậc thềm đá hoa cương.
Kỵ binh lăn lông lốc xuống đất, trên tay giơ cao một ống thẻ đồng viền đỏ thẫm – dấu hiệu của quân tình khẩn cấp bậc cao nhất của Đại Ninh quốc. Hắn dùng chút tàn lực cuối cùng bò lên bậc thềm, gào lên lạc cả giọng:
“Báo… Khâm sai đại thần… Tri phủ đại nhân tiếp chỉ! Ba tháng qua toàn bộ sáu châu mười sáu huyện phương Bắc không có một giọt mưa! Trận đại hạn ba trăm năm có một bất ngờ bùng phát dữ dội! Sông Hoàng Hà cạn đáy, sông Ngân Khê trơ sỏi! Đất đai nứt nẻ vạn dặm, lúa má chết khô thành tro bụi! Hơn mười vạn nạn dân chết đói chết khát đang lũ lượt chạy nạn… Họa diệt vong cận kề rồi!”
Lời báo tin như một tiếng sét kinh thiên động địa giáng thẳng xuống giữa hội trường đang ngập tràn hoan hỉ.
Tiếng nhạc, tiếng cười nói bỗng chốc tắt lịm. Nụ cười trên môi Khâm sai Tề Hoằng và Tri phủ Vân Châu đông cứng lại, sắc mặt họ trong nháy mắt biến thành màu tro tàn.
Mọi người nhìn nhau trong nỗi bàng hoàng và sợ hãi tột độ. Đại hạn hán ba trăm năm có một! Một thảm họa khủng khiếp sắp sửa quét qua non sông Đại Ninh, biến hàng ngàn dặm đất canh tác trù phú thành bình địa chết chóc…
Giữa cơn chấn động kinh hoàng ấy, Tiêu Lập bỗng bước nhanh lên một bước, bàn tay to lớn, ấm áp của chàng vươn ra, siết chặt lấy bàn tay nhỏ bé của Nhược Lam.
Nhược Lam ngẩng đầu nhìn chàng, ánh mắt hai người giao nhau giữa không trung. Trong đáy mắt nàng không hề có sự hoảng loạn, mà chỉ có sự kiên định, bình tĩnh và ngọn lửa trách nhiệm của một tiến sĩ nông học đang bùng cháy dữ dội.
Bão táp sắp ập tới, nhưng mảnh đất Lạc Diệp cùng kho lương và những giống cây kỳ diệu của nàng… đã sẵn sàng nghênh chiến!
Trời không đổ xuống một giọt nước, mà dường như đang trút xuống từng chảo dầu sôi.
Sau ngày Hội thi Dệt may Phủ thành Vân Châu kết thúc trong chấn động, tin tức về trận đại hạn ba trăm năm có một tựa hồ một ngọn lửa hoang, theo gió cuốn phăng đi khắp hang cùng ngõ hẻm của sáu châu mười sáu huyện phương Bắc Đại Ninh quốc. Mới đầu, người ta còn ngửa cổ lên trời khấn vái thần linh, trông chờ một cụm mây đen hay một cơn gió ẩm từ biển thổi về. Nhưng một tháng, rồi hai tháng, và giờ là tròn ba tháng ròng rã, vòm trời xanh ngắt không lấy một gợn mây mỏng, chỉ có vầng thái dương đỏ quạch như một lò than khổng lồ treo lơ lửng, ngày ngày thiêu đốt mặt đất đến mức không khí cũng vặn vẹo, bốc lên từng làn sóng nhiệt mờ ảo.
Dòng sông Ngân Khê – mạch máu nuôi sống cả vùng huyện Vân Khê từ bao đời nay – giờ đây đã hoàn toàn trơ đáy. Lòng sông từng cuồn cuộn sóng nước phù sa nay chỉ còn là một dải rãnh sâu hoắm, bùn đất nứt toác thành từng mảng lớn như mai rùa khổng lồ, trắng bệch vì phơi nắng. Cá tôm chết phơi bụng khô cong từ tháng trước, mùi tanh nồng bốc lên hòa cùng hơi đất cháy khét lẹt khiến người ta hít thở thôi cũng thấy lồng ngực bỏng rát. Cỏ cây ven đường khô giòn đến mức chỉ cần một tàn lửa nhỏ cũng đủ bùng lên thành biển lửa.
Tại các thôn làng lân cận, cảnh tượng thê lương đến rợn người. Những cánh đồng lúa nước vốn xanh tốt nay biến thành bãi đất chết màu vàng xám. Cây lúa chưa kịp trổ đòng đã quắt queo, rũ rượi rồi khô giòn thành tro bụi dưới chân người đi. Giếng làng cạn khô đáy, đất cát sụp lở. Tiếng trẻ con khát sữa khóc ngằn ngặt hòa cùng tiếng thở dài tuyệt vọng của những lão nông cả đời bám ruộng đất vang lên khắp đầu làng ngõ xóm. Cơm không có ăn, nước không có uống, cái bóng ma của nạn đói kinh hoàng nhất trong lịch sử đang nhe nanh múa vuốt bao trùm lên vạn dặm giang sơn.
Thế nhưng, ngay giữa bức tranh hoang tàn, chết chóc tưởng chừng không một sinh linh nào có thể tồn tại ấy, thôn Lạc Diệp dưới chân dãy núi Lạc Nhạn lại sừng sững hiện ra như một phép màu khó tin của tạo hóa.
Một ốc đảo xanh ngắt.
Từ trên sườn núi nhìn xuống, nếu như toàn bộ thung lũng bên ngoài là một sa mạc khô cằn ngập tràn cát bụi xám xịt, thì ba mươi mẫu ruộng ngô và ba mươi mẫu đồi dâu của Khương Nhược Lam lại tựa như một tấm thảm ngọc bích khổng lồ trải dài tít tắp. Những tán ngô cao vượt đầu người vươn mình kiêu hãnh, phiến lá xanh thẫm, dày dặn và tràn đầy nhựa sống đung đưa trong gió nóng. Phía trên ngọn, những bông cờ ngô màu hung đỏ bung nở kiêu hãnh, báo hiệu một mùa kết hạt sung mãn. Từng bắp ngô to tròn, mập mạp bọc trong lớp bẹ xanh mướt đã bắt đầu nhú ra những chùm râu ngô óng ả màu hạt dẻ, tỏa ra mùi thơm ngọt ngào, tươi mát của sữa non, át đi cả cái oi nồng ngột ngạt của đất trời.
“Nhược Lam nha đầu, mau… mau lại đây uống ngụm nước cho mát ruột! Nắng thế này mà con cứ phơi mình ngoài đồng suốt từ sáng đến giờ, có là mình đồng da sắt cũng quỵ mất thôi!”
Tiếng gọi sang sảng của Tam Thẩm vang lên từ lán nghỉ bên bờ ruộng. Bà vừa phe phẩy chiếc quạt mo cau to bản, vừa bưng ra một chiếc bát sành lớn đựng đầy thứ nước sâm ngô ngọt mát nấu cùng lá dứa và đậu đen rang giòn rụm mà Nhược Lam đã truyền dạy cách nấu để thanh nhiệt giải độc.
Khương Nhược Lam đứng thẳng người dậy giữa luống ngô, đưa mu bàn tay áo thô lên quệt những giọt mồ hôi đang lăn dài trên trán. Chiếc áo vải thô màu cỏ úa của nàng đã ướt đẫm sau lưng, mái tóc đen nhánh được búi củ tỏi gọn gàng phía sau gáy bằng một chiếc trâm gỗ đơn sơ do chính tay Tiêu Lập đẽo gọt. Dù nắng gắt như thiêu đốt, nhưng làn da trắng mịn của nàng chỉ ửng hồng lên vì nóng chứ không hề bị sạm nám, đôi mắt hạnh lanh lợi ánh lên vẻ kiên cường và niềm tự hào vô bờ bến khi ngắm nhìn thành quả lao động của mình.
Nàng bước vào lán tre, nhận lấy bát nước mát từ tay Tam Thẩm, uống ừng ực một hơi dài rồi thở phào nhẹ nhõm:
“Đã thật đấy Tam Thẩm! Nước mát ngấm tới tận tim can rồi!”
Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu đang ngồi bệt trên tảng đá mài lại lưỡi cuốc, thấy nàng cười tươi như hoa thì không khỏi vừa thương vừa khâm phục, lắc đầu bảo:
“Chao ôi, cả đời lão nông này cày sâu cuốc bẫm mấy chục năm qua, trải qua không biết bao nhiêu trận hạn hán lụt lội, nhưng chưa từng thấy cảnh tượng nào kỳ diệu như thế này. Đám người bên thôn Thượng, thôn Hạ sang đây xem trộm, ai nấy đều tròn mắt há hốc mồm, bảo rằng Nhược Lam con là tiên nữ hạ phàm, biết làm phép hô mưa gọi gió giữ cho ruộng đồng xanh tốt. Chứ người trần mắt thịt làm sao ngăn được ông trời giáng họa cơ chứ!”
Nhược Lam nghe vậy liền bật cười khúc khích, nụ cười trong trẻo như tiếng chuông gió xua tan đi cái ngột ngạt của trưa hè:
“Tam Thúc lại trêu con rồi! Thần tiên nào ở đây chứ, tất cả đều là lẽ tự nhiên và mồ hôi nước mắt của cả nhà chúng ta đấy chứ!”
Nàng chỉ tay về phía những luống ngô thẳng tắp, giọng nói tràn đầy nhiệt huyết của một chuyên gia nông học:
“Tam Thúc nhìn xem, bí quyết đầu tiên chính là lớp áo giáp này đây! Toàn bộ số rơm rạ mục, cỏ khô và bã mùn sau đợt dọn dẹp vụ trước con đều cho bà con gom lại, không đốt bỏ một cọng nào mà đem phủ kín mặt đất dày cả gang tay. Lớp phủ này giống như một chiếc chăn bông che chở cho đất mẹ. Ánh nắng chói chang chiếu xuống chỉ làm nóng lớp rơm bên trên, chứ không thể hun cháy mặt đất phía dưới, giúp giảm bốc hơi nước đến bảy tám phần.”
Tam Thẩm nghe vậy, gật đầu lia lịa như nuốt từng lời:
“Đúng thật đấy! Hôm qua ta tò mò thử bới lớp rơm mục ra xem, bên dưới đất vẫn còn ẩm ướt, mát rượi, giun đất bò lúc nhúc béo múp míp! Không giống như đất ngoài bãi, cứng như đá hộc, cuốc xuống chỉ tóe lửa mà chẳng lún được một phân!”
“Chưa hết đâu ạ,” Nhược Lam hào hứng giảng giải tiếp, đôi mắt sáng bừng lên: “Bí quyết thứ hai chính là việc con bắt mọi người ngày nào cũng phải chịu khó đi xới xáo lớp đất mặt thật mỏng sau mỗi lần tưới nước. Người ta gọi đó là xới đất phá váng. Khi đất bị nắng nung, nước dưới lòng đất sẽ men theo các khe nứt li ti – giống như những chiếc ống hút vô hình – để thoát hơi lên trời. Khi chúng ta xới tơi lớp mặt, những ‘chiếc ống hút’ đó bị bẻ gãy hoàn toàn, hơi ẩm bị khóa chặt sâu bên trong lòng đất, nuôi dưỡng bộ rễ.”
Tam Thúc nghe mà ngẩn người, hai mắt trợn tròn:
“Trời đất ơi… Hóa ra trong nắm đất cùn này lại có nhiều đạo lý thâm sâu đến thế! Thảo nào mấy hôm trước con cứ giục ta đi xới đất, ta còn càu nhàu bảo đất đang khô lại xới lên cho chóng chết cây, ai ngờ đâu lại là để cứu sống cây ngô!”
“Và điều cốt lõi nhất,” một giọng nói trầm ấm, nam tính và đầy uy lực bỗng vang lên từ sau lưng Nhược Lam.
Tiêu Lập từ bờ mương bước tới. Chàng c** tr*n nửa thân trên, để lộ lồng ngực vạm vỡ cuồn cuộn cơ bắp cùng làn da ngăm đồng hun bóng nhẫy mồ hôi dưới nắng hạ. Trên vai chàng vác hai đoạn tre lớn dài hơn một trượng, mỗi bước đi đều vững chãi như bàn thạch. Đôi mắt đại bàng sắc lạnh vốn khiến kẻ khác phải khiếp vía khi nhìn thấy, nhưng khoảnh khắc chạm vào bóng hình Nhược Lam, đáy mắt chàng bỗng chốc tan chảy thành một vùng ôn nhu ấm áp.
Chàng đặt hai cây tre xuống đất cái ‘rầm’, đón lấy chiếc khăn vải sạch mà Nhược Lam đưa tới, khẽ mỉm cười nói tiếp:
“Điều cốt lõi nhất chính là giống ngô ngọt mà Nhược Lam đã cất công gầy giống. Bộ rễ của giống cây này không bò nông trên mặt đất như ngô thường nơi đây, mà đâm thẳng xuống sâu tới ba thước trong lòng đất, xuyên qua cả tầng sỏi đá để tìm mạch nước ngầm. Thân cây lại có lớp phấn sáp dày giữ nước giữ ẩm, chịu hạn giỏi gấp năm lần cây lúa nước.”
Nhược Lam ngẩng đầu nhìn chàng, ánh mắt hai người giao nhau đầy ăn ý và tình tứ. Nàng khẽ nghiêng đầu, trêu chọc:
“Tiêu đại thợ săn nay cũng hiểu rành rọt về đất đai cây cối quá nhỉ? Nói chẳng sai một chữ nào!”
Tiêu Lập dùng chiếc khăn lau mồ hôi trên cổ, khóe môi khẽ nhếch lên thành một nụ cười cưng chiều:
“Mỗi ngày đều nghe nương tử… à không, nghe Khương cô nương giảng giải bên tai, nếu ta không thuộc lòng thì chẳng phải phụ công nàng chỉ dạy sao?”
Hai chữ “nương tử” tuy được chàng hạ thấp giọng nuốt lại nơi đầu lưỡi nhưng vẫn lọt vào tai Nhược Lam, khiến gò má nàng thoáng chốc đỏ ửng như ráng chiều. Tam Thẩm bên cạnh nhìn thấy cảnh tượng ấy thì che miệng cười khúc khích, vội vàng kéo tay Tam Thúc:
“Ông nó kìa, mau ra phụ ta gánh mấy rổ lá dâu non vào cho tằm ăn rỗi, ở đây chật chỗ quá rồi!”
Tam Thúc ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì nhưng cũng bị vợ kéo tuột đi, vừa đi vừa lầm bầm: “Bà này lạ thật, ta đang nghe cháu gái giảng chuyện đồng áng hay ho thế mà…”
Khi trong lán chỉ còn lại hai người, Tiêu Lập bước tới gần Nhược Lam hơn một bước. Bóng dáng cao lớn của chàng phủ trọn lấy thân hình mảnh mai của nàng, chắn hết luồng gió nóng ran từ ngoài đồng thổi vào. Chàng cúi đầu, vươn những ngón tay to lớn, thô ráp nhưng cực kỳ cẩn trọng khẽ gạt đi một sợi tóc mai ướt đẫm mồ hôi đang dính trên trán nàng, giọng trầm thấp chan chứa sự xót xa:
“Trời nóng thế này, nàng nên ở trong nhà nghỉ ngơi. Mấy việc nặng nhọc ngoài đồng cứ để ta và gia đình Tam Thúc lo liệu. Nhìn nàng gầy đi một vòng, ta xót lắm.”
Trái tim Nhược Lam đập lỡ một nhịp trước sự dịu dàng nguyên sơ mà vụng về của người đàn ông này. Nàng không lùi lại, mà ngước nhìn chàng, nở nụ cười rạng rỡ:
“Em không mệt chút nào đâu. Nhìn thấy ngô trổ cờ, dâu xanh tốt giữa mùa hạn hán này, em còn thấy khỏe hơn uống sâm ngàn năm ấy chứ! Huống chi, nếu không có chàng và hệ thống dẫn nước tuyệt vời kia, thì dù em có trăm phương ngàn kế cũng đành bó tay chịu trói trước ông trời.”
Lời khen chân thành của Nhược Lam khiến ánh mắt Tiêu Lập rực sáng lên niềm kiêu hãnh.
Quả thực, nếu kỹ thuật nông học của Nhược Lam là linh hồn giữ cho cây cối sống sót, thì hệ thống thủy lợi do Tiêu Lập đích thân thiết kế và thi công chính là dòng máu nuôi dưỡng toàn bộ nông trang Lạc Diệp trong suốt ba tháng đại hạn qua.
Nhớ lại thời điểm hai tháng trước, khi Nhược Lam nhìn thấy những đám mây tản mát và linh cảm về một đợt khô hạn kéo dài, nàng đã bàn với Tiêu Lập về việc đào một hồ chứa sinh thái tuần hoàn trên triền đồi cao nhất. Khi ấy, người trong thôn ai cũng can ngăn, bảo nàng rỗi việc tốn công tốn của làm chuyện bao đồng. Nhưng Tiêu Lập không nói một lời phản đối. Chàng lập tức vác xà beng, dẫn đầu đội thanh niên trai tráng khỏe mạnh trong thôn đào bới ròng rã suốt nửa tháng trời.
Hồ chứa nước rộng tới ba mẫu, sâu hơn hai trượng được đào ngay tại thung lũng hứng nước tự nhiên dưới chân vách đá núi Lạc Nhạn. Đáy hồ được Nhược Lam hướng dẫn rải một lớp vôi bột, sau đó đầm chặt bằng đất sét mịn dày nửa thước để chống thấm hoàn toàn. Bên trên bờ hồ, nàng cho trồng dâu và các loại cỏ rễ sâu bám chặt giữ đất, chống sạt lở tuyệt đối.
Nhưng điều kỳ diệu nhất, cứu cánh sống còn cho cả thôn Lạc Diệp trong những ngày này, chính là mạch giếng khoan tầng đá mà Tiêu Lập đã tìm ra.
Dựa vào kinh nghiệm mười năm chinh chiến sa trường, từng dẫn quân vượt qua những vùng sa mạc hoang vu hiểm trở nơi biên ải, Tiêu Lập am hiểu địa tầng và mạch nước ngầm hơn bất kỳ ai. Chàng quan sát thảm thực vật trên vách núi Lạc Nhạn, phát hiện ra một khe nứt ngầm ẩn sâu trong lòng đá hoa cương. Chàng cùng Hắc Lục dùng búa tạ và xà beng thép đục sâu vào vách đá hơn mười trượng, phá vỡ tầng đá vôi phong hóa, khơi thông một mạch nước ngầm tinh khiết từ tận đáy vực sâu.
Mạch nước ngầm mát lạnh từ khe đá phun trào ra ngày đêm không dứt, đổ dồn vào hồ chứa sinh thái. Từ hồ chứa trên cao, Nhược Lam và Tiêu Lập cho lắp đặt hệ thống ống dẫn bằng tre bương khổng lồ đã được thông ruột, đục các lỗ nhỏ li ti bọc vải xô để điều tiết lưu lượng. Nước suối tự chảy theo độ dốc địa hình, men theo các máng tre rẽ nhánh tỏa đi khắp ba mươi mẫu ruộng ngô và ba mươi mẫu đồi dâu.
Đó chính là kỹ thuật tưới nhỏ giọt thông minh được tái hiện bằng vật liệu thô sơ chốn điền viên! Từng giọt nước quý giá như vàng ròng đều được nhỏ trực tiếp vào đúng gốc cây, thấm sâu vào lòng đất mà không bị bốc hơi lãng phí một giọt nào giữa cái nắng thiêu đốt.
Nhờ có nguồn nước mát lành ấy, không chỉ có ruộng ngô bội thu, mà ba mươi mẫu đồi dâu của Nhược Lam lá vẫn xanh mướt, dày dặn và óng ả. Cạnh đó, nhà nuôi tằm khép kín với hệ thống sưởi ngầm “địa long” mùa đông nay lại biến thành một pháo đài giải nhiệt mùa hè. Nhược Lam đã cho mở các cửa thông gió đối lưu trên trần nhà, che rèm cói tẩm ướt nước suối trước các ô cửa sổ, tạo ra luồng không khí mát mẻ, ẩm độ hoàn hảo giúp hàng vạn chú tằm Hoàng Kim bước vào kỳ ăn rỗi ngon lành mà không hề bị nhiễm bệnh do sốc nhiệt.
Cả nông trang Lạc Diệp lúc này như một thế ngoại đào nguyên, tràn trề sinh khí và no đủ, tách biệt hoàn toàn với cảnh điêu linh đang bao trùm bên ngoài kia.
“Nào, Nhược Lam tỷ tỷ! Mau ăn miếng dưa hấu này đi, mát lắm ạ!”
Một tiếng gọi giòn giã như chim sẻ hót vang lên cắt đứt dòng suy nghĩ của nàng. Bé Bảo Nha, cô bé mười tuổi với đôi má phúng phính đáng yêu, đang hớn hở bưng một chiếc khay gỗ chạy vào lán. Trên khay là những miếng dưa hấu vỏ mỏng manh, ruột đỏ au mọng nước, lấm tấm những hạt đen nhánh. Đằng sau cô bé, Hắc Lục trong bộ áo ngắn của người làm công cũng đang vác một thùng nước suối mát lạnh từ khe núi về, miệng cười toe toét.
“Dưa hấu trồng xen canh dưới gốc dâu đấy tỷ!” Bảo Nha xòe miếng dưa đưa tận tay Nhược Lam, hai mắt híp lại hình trăng khuyết: “Vừa ngọt vừa nhiều nước, muội ăn một miếng mà thấy mát từ đầu tới chân luôn!”
Nhược Lam cắn một miếng dưa giòn tan, vị ngọt thanh mát lịm lập tức lan tỏa nơi đầu lưỡi, xua tan đi toàn bộ mệt nhọc của buổi sáng. Nàng mỉm cười xoa đầu cô bé:
“Bảo Nha giỏi lắm! Chiều nay tỷ sẽ làm món thạch dưa hấu sữa đậu ướp lạnh cho muội thưởng thức nhé!”
“Hoan hô tỷ tỷ!” Cô bé nhảy cẫng lên reo hò sung sướng.
Thế nhưng, nụ cười trên môi Nhược Lam chưa kịp nở trọn thì từ phía ngoài cổng thôn bỗng vang lên những âm thanh ồn ào, hỗn loạn.
Tiếng bước chân dồn dập, tiếng người la hét, tiếng gậy gộc gõ vào nhau chan chát, hòa cùng những tiếng khóc thảm thiết, ai oán đến xé lòng xé ruột từ xa vọng lại.
Sắc mặt Tiêu Lập lập tức đanh lại. Đôi mắt đại bàng vừa mới tràn ngập ôn nhu nay thoắt cái đã ngập tràn sát khí sắc lạnh của một vị tướng quân trận mạc. Chàng đặt bàn tay lên chuôi thanh đoản đao giắt bên hông, sải bước dài tiến về phía trước che chắn cho Nhược Lam:
“Hắc Lục, có chuyện gì vậy?”Hắc Lục lập tức thu lại vẻ cợt nhả thường ngày, ánh mắt sắc như dao cau nhìn về phía con đường dẫn vào thôn, trầm giọng bẩm báo:
“Bẩm chủ tử, bẩm cô nương… Nạn dân! Từng đoàn nạn dân từ các huyện Thanh Hà, Vĩnh An bên cạnh đang tràn về phía thôn ta!”
Trái tim Nhược Lam thắt lại. Nàng vội vàng bước ra khỏi lán tre, trèo lên gò đất cao bên bờ đồi dâu nhìn về phía xa.
Khung cảnh đập vào mắt nàng khiến nàng không khỏi bàng hoàng, da đầu tê dại.
Trên con đường đất đỏ bụi mù dẫn từ ngoài huyện vào chân núi Lạc Nhạn, một dòng người đen ngòm, đông đúc như đàn kiến đang lũ lượt kéo tới. Đó không phải là hàng chục, hàng trăm, mà là hàng ngàn con người!
Họ là những nạn dân chạy nạn sau ba tháng đại hạn đói khát cùng cực. Từng người, từng người một hiện ra như những bóng ma lay lắt giữa cõi trần gian. Áo quần trên người họ rách rưới tả tơi thành từng mảnh xơ xác, để lộ những bộ xương sườn nhô ra gầy guộc như những cành củi khô. Khuôn mặt ai nấy đều hốc hác, hai má hóp sâu, đôi mắt trũng sâu hoắm vô hồn phủ một màu xám xịt của sự tuyệt vọng. Đôi môi họ nứt nẻ toác hoác, bật ra từng vệt máu khô đen kịt vì khát nước.
Có những người mẹ trẻ bế trên tay đứa con thơ chỉ còn da bọc xương, ngực trần lép kẹp không còn lấy một giọt sữa, đứa trẻ yếu ớt đến mức không còn sức để khóc thành tiếng, chỉ khẽ thoi thóp từng nhịp thở ngắt quãng. Có những đứa trẻ trạc tuổi Bảo Nha, đôi chân trần rớm máu vì giẫm lên sỏi đá bỏng rát, bụng phình to trướng cứng một cách kỳ dị – Nhược Lam biết rõ, đó là hậu quả khủng khiếp của việc nuốt đất sét trắng và rễ cỏ khô để lấp đầy cơn đói cồn cào, thứ đất không thể tiêu hóa đang từ từ g**t ch*t sinh mạng non nớt của chúng.
Những người già kiệt sức ngã gục ngay bên vệ đường, mặc cho người thân gào khóc lay gọi, rồi lặng lẽ trút hơi thở cuối cùng dưới ánh nắng như thiêu như đốt. Không có quan tài, không có một nấm mồ chôn cất, thi thể chỉ được phủ tạm bằng vài nhánh cỏ khô cháy sém ven đường.
“Nước… Cho tôi xin ngụm nước…”
“Lương thực… Cứu mạng với… Con tôi sắp chết đói rồi…”
Những tiếng rên xiết, van xin yếu ớt, khàn đặc như từ dưới đáy địa ngục vọng lên, dồn dập đập vào màng nhĩ mọi người. Mùi hôi thối, mùi bụi đất, mùi của sự chết chóc và tuyệt vọng theo từng cơn gió nóng thổi thốc vào thôn Lạc Diệp.
Tại cổng thôn Lạc Diệp, tiếng chiêng đồng báo động khẩn cấp vang lên dồn dập: ‘Keng! Keng! Keng!’
Lý chính cùng đám thanh niên trai tráng trong thôn đang cầm đòn gánh, gậy gộc, giáo mác tự chế đứng ken đặc thành một bức tường người trước hàng rào gỗ vững chắc do Tiêu Lập dựng lên từ trước. Ai nấy đều run rẩy, sắc mặt tái mét vừa sợ hãi vừa cảnh giác tột độ.
“Đứng lại! Tất cả đứng lại ngoài cổng thôn!” Giọng Lý chính run rẩy nhưng cố gào to: “Thôn Lạc Diệp không có thừa lương thực đâu! Mau đi chỗ khác mà xin! Nếu dám xông vào cướp phá, chúng ta sẽ liều mạng đấy!”
Thấy hàng rào đóng chặt và giáo mác tua tủa, đám nạn dân đi đầu bỗng quỳ sụp xuống đất. Hàng trăm, rồi hàng ngàn con người lũ lượt quỳ rạp trên nền đất sỏi đá bỏng rát. Họ không cướp bóc, bởi họ đã kiệt sức đến mức không còn nhấc nổi cánh tay để cầm một viên đá. Họ dập đầu van lạy, trán đập xuống nền đất nghe chan chát, máu tươi hòa cùng bụi đất đỏ thẫm:
“Các vị đại gia, các vị phụ lão Lạc Diệp làm ơn làm phúc… Chúng tôi từ huyện Vĩnh An chạy nạn mười ngày mười đêm tới đây… Cả làng chết đói hết rồi…”
“Xin các người… Cho xin một ngụm nước suối, một nắm cám thừa thôi cũng được… Cứu lấy lũ trẻ con với…”
Tiếng khóc than xé ruột xé gan vang vọng khắp thung lũng, làm chấn động cả chim muông trên ngọn Lạc Nhạn.
Bà con thôn Lạc Diệp đứng sau hàng rào gỗ nhìn cảnh tượng ấy, bàn tay cầm gậy gộc run lên bần bật. Nhiều người phụ nữ trong thôn đã không kìm được nước mắt, đưa vạt áo lên chấm khóe mi. Nông dân chất phác, ai mà không xót xa trước cảnh đồng loại chết đói ngay trước mắt mình? Thế nhưng, nỗi sợ hãi cũng lớn không kém.
“Phải làm sao đây ông Lý chính ơi?” Một bác nông dân run rẩy hỏi: “Đông người thế này, nếu cho một người thì cả ngàn người sẽ tràn vào mất! Lương thực trong thôn chúng ta dù có thu hoạch ngô cũng làm sao nuôi nổi ngần này miệng ăn?”
“Đúng đấy! Đại hạn còn chưa biết bao giờ mới dứt! Nếu chia hết lương thực, sang tháng sau cả thôn ta lấy gì mà sống? Rồi dịch bệnh nữa… Người chết đói nhiều thế kia, nhỡ mang dịch bệnh vào thôn thì cả làng này diệt vong mất thôi!”
Những tiếng bàn tán xôn xao, lo âu xen lẫn hoảng loạn bắt đầu lan ra như một làn sóng trong đám đông dân làng. Mọi ánh mắt đầy bối rối, sợ hãi và ngập tràn trông đợi bỗng chốc đồng loạt dồn về phía con đường dẫn từ đồi dâu xuống.
Ở đó, Khương Nhược Lam đang sải bước tiến tới.
Bên cạnh nàng, Tiêu Lập vững chãi như một ngọn núi sừng sững, ánh mắt lạnh lùng quét qua đám đông khiến tiếng ồn ào lập tức im bặt. Đằng sau họ là vợ chồng Tam Thúc, Hắc Lục và bé Bảo Nha.
“Nhược Lam nha đầu…” Lý chính như vớ được cọc, vội vàng bước tới, giọng lạc đi: “Con xem… cảnh tượng này… Bây giờ chúng ta phải làm thế nào đây? Đuổi họ đi thì tội nghiệt ngút trời, mà mở cổng ra thì… thôn ta gánh không nổi tai họa này đâu con ơi!”
Nhược Lam bước tới sát hàng rào gỗ, ánh mắt nàng dừng lại trên những thân xác gầy trơ xương đang nằm la liệt ngoài kia.
Một người mẹ trẻ đang dùng chút tàn lực cuối cùng ôm chặt lấy đứa con nhỏ, ánh mắt bà ta chạm vào Nhược Lam. Đó là ánh mắt của sự cầu khẩn tuyệt vọng đến tột cùng, không phải cầu xin cho bản thân, mà là van xin một tia hy vọng sống sót cho đứa con thơ dại đang dần lịm đi trong lòng. Cách đó vài bước, một lão ông tóc bạc phơ đang cố dùng thân mình che chút bóng râm ít ỏi cho đứa cháu nội đang sốt mê man vì say nắng.
Lồng ngực Nhược Lam thắt nghẹn lại, một luồng nhiệt nóng rực dâng lên nghẹn ứ nơi cuống họng.
Nàng là một tiến sĩ nông nghiệp đến từ thế kỷ 21. Nàng xuyên không về đây, mang theo tri thức hiện đại, mục đích ban đầu chỉ là để nằm yên làm ruộng, để tự bảo vệ bản thân, tránh xa vòng xoáy cung đấu tàn khốc và tận hưởng cuộc sống tự do tự tại, ăn ngon mặc ấm. Nàng đã làm được điều đó: nàng có đất, có ngô ngọt, có đồi dâu, có tơ vàng, có bạc trắng đầy rương và có cả một người đàn ông dũng mãnh, chân tình nguyện dùng cả tính mạng để che chở cho nàng.
Nhưng… tri thức mà nàng học cả đời, hạt giống mà nàng nâng niu gieo trồng, mồ hôi nước mắt nàng đổ xuống mảnh đất này… rốt cuộc là vì điều gì?
Chẳng lẽ chỉ để nàng xây một pháo đài cô độc, đứng trên đỉnh vinh hoa mà trơ mắt nhìn hàng ngàn sinh mạng vô tội chết đói, chết khát ngay trước bậc cửa nhà mình sao?
“Người làm nông chân chính, không chỉ biết gieo hạt xuống đất, mà còn phải biết gieo sự sống vào lòng người.” Lời dạy của vị giáo sư già hướng dẫn nàng năm xưa bỗng chốc vang vọng lại trong tâm trí nàng, rõ ràng và đanh thép như tiếng chuông chùa ngân nga giữa đêm thanh vắng.
Kho lương của nàng hiện tại có gì?
Vụ ngô ngọt đầu tiên thắng lớn, nàng đã thu hoạch và tích trữ hàng trăm thạch hạt ngô khô chất đầy năm gian nhà kho kiên cố của Tổ hợp tác. Ba mươi mẫu ngô vụ này nhờ kỹ thuật phủ rơm và tưới nhỏ giọt đang trĩu bắp, chỉ mười ngày nữa là bắt đầu bẻ bắp thu hoạch rộ, sản lượng ước tính gấp ba lần năm ngoái! Nàng có nguồn nước suối ngầm dồi dào từ lòng núi Lạc Nhạn. Nàng có hàng vạn bao bột ngô, đậu tương và thảo dược khô tích lũy.
Nàng có đủ khả năng để cứu lấy những con người này!
Nhưng đây không phải chuyện đùa. Nếu cứu không khéo, lòng tốt sẽ biến thành mồi lửa thiêu rụi chính bản thân nàng và cả thôn Lạc Diệp. Nạn dân trong cơn đói khát có thể biến thành bạo đồ cướp bóc bất cứ lúc nào; dịch bệnh từ xác chết có thể bùng phát; và đáng sợ hơn cả là những kẻ rắp tâm hãm hại nàng ở kinh thành có thể mượn cớ này để vu cáo nàng tội tích trữ lương thảo, mua chuộc lòng dân mưu đồ tạo phản!
Nhược Lam khẽ rùng mình, bàn tay nàng bất giác siết chặt lại.
Đúng lúc ấy, một bàn tay to lớn, ấm áp và chai sạn bỗng vươn tới, bao bọc trọn lấy bàn tay nhỏ bé đang run lên của nàng.
Nhược Lam ngẩng đầu lên.
Tiêu Lập đang nhìn nàng. Đôi mắt đại bàng sâu thẳm của chàng không hề có sự do dự, không có sự toan tính hay sợ hãi. Trong ánh mắt ấy chỉ có sự thấu hiểu tuyệt đối và một niềm tin tưởng vô điều kiện.
Chàng siết nhẹ tay nàng, giọng nói trầm ấm vang lên bên tai nàng, vững chãi như một bức tường thành vạn trượng:
“Nàng muốn làm gì, cứ làm đi. Lương thực của nàng, người của nàng. Còn trật tự, an nguy và tính mạng của cả thôn này… giao cho ta. Dù trời có sập xuống, ta cũng sẽ chống đỡ cho nàng.”
Chỉ một câu nói đơn sơ ấy thôi, nhưng tựa như một liều thuốc trợ tim cực mạnh, thổi bùng lên ngọn lửa dũng khí và lòng quyết tâm trong lồng ngực Nhược Lam. Đúng vậy, nàng có chàng ở bên cạnh, nàng còn sợ gì phong ba bão táp nữa?
Khương Nhược Lam hít một hơi thật sâu, lồng ngực căng tràn khí thế. Nàng buông tay Tiêu Lập ra, bước lên bậc thềm đá cao nhất trước cổng thôn, đứng sừng sững giữa cái nắng gắt gao của buổi trưa hè. Ánh mắt nàng quét qua toàn thể bà con thôn Lạc Diệp đang nín thở chờ đợi, rồi phóng tầm mắt ra hàng ngàn nạn dân đang quỳ rạp dưới chân đồi.
Một sự tĩnh lặng tuyệt đối bao trùm lấy không gian, chỉ còn lại tiếng gió nóng thổi ràn rạt qua những ngọn tre khô.
Khương Nhược Lam cất giọng, tiếng nói của nàng trong trẻo, đanh thép và vang vọng khắp thung lũng Lạc Diệp, như một hồi chuông phá tan bầu không khí u ám của cõi chết:
“Tam Thúc! Mở toang toàn bộ năm gian nhà kho ngô dự trữ của Tổ hợp tác cho cháu!”
Cả thôn Lạc Diệp chấn động! Lý chính trố mắt kinh ngạc, hơi thở nghẹn lại nơi cổ họng!
Chưa dừng lại ở đó, nàng quay sang Tam Thẩm và đám phụ nữ trong thôn, dõng dạc ra lệnh từng điều rành rọt, mạch lạc:
“Tam Thẩm, dẫn toàn bộ phụ nữ trong thôn ra bờ suối, bắc mười chiếc vạc lớn nhất lên! Lấy nước ngầm từ máng tre nấu cháo ngô ngọt lẫn đậu tương và muối khoáng, nấu liên tục ngày đêm không được tắt lửa! Hắc Lục, lấy toàn bộ số râu ngô khô và lá sen rừng trong kho ra, đun thành từng thùng nước thanh nhiệt giải độc lớn, chia cho người già và trẻ nhỏ uống trước để hạ sốt!”
Nàng quay sang nhìn Tiêu Lập, ánh mắt kiên định ngời sáng:
“Tiêu Lập, điều động toàn bộ trai tráng lập hàng rào ngăn cách, phân chia nạn dân thành từng tốp năm mươi người! Ai già yếu, trẻ nhỏ được phát cháo trước, ai chen lấn, cướp giật lập tức trục xuất! Chúng ta không chỉ cứu đói cho họ một bữa…”
Nhược Lam dừng lại một nhịp, ánh mắt nàng hướng về phía những cánh đồng khô cằn bất tận ngoài kia, đưa ra một quyết định làm rúng động toàn bộ tâm can của những người có mặt:
“… Mà chúng ta sẽ mở kho giống, trích ra một vạn cân hạt giống ngô ngọt chịu hạn ngắn ngày! Ngày mai, đích thân ta sẽ hướng dẫn toàn bộ nạn dân cách khoét hốc tra hạt, khơi rãnh dẫn nước từ hồ chứa, dùng tro trấu ủ ẩm để họ tự tay hồi sinh những mảnh đất chết ngoài kia! Ta muốn biến toàn bộ mảnh đất khô cằn này thành một cánh đồng ngô bát ngát! Cứu sống một vạn nạn dân này, thôn Lạc Diệp chúng ta… quyết không lùi bước!”
Lời nói vừa dứt, cả không gian như ngưng đọng lại trong một khoảnh khắc kinh hoàng trước sự táo bạo và tấm lòng bồ tát vĩ đại của nàng. Rồi ngay sau đó, tiếng khóc nghẹn ngào, tiếng reo hò của hàng ngàn nạn dân bùng nổ như sấm sét xé toạc bầu trời nắng hạ, quỳ rạp xuống đất hô vang tạ ơn trời đất, tạ ơn Khương cô nương tái thế.
Giữa biển người đang run rẩy vì xúc động, Tiêu Lập nhìn bóng lưng mảnh mai nhưng ngập tràn hào quang rực rỡ của Nhược Lam, khóe môi chàng khẽ cong lên một nụ cười kiêu hãnh và yêu thương vô hạn.
Mảnh đất này, người con gái này, chàng nguyện dùng cả tính mạng và máu nóng của một chiến thần để bảo vệ tới cùng!
Tiếng then cài bằng gỗ nghiến nặng trịch vang lên một tiếng “cạch” khô khốc, xé toạc bầu không khí ngột ngạt dưới cái nắng đổ lửa của buổi trưa hè.
Cánh cửa gỗ dày cộp của năm gian nhà kho ngô dự trữ thuộc Tổ hợp tác thôn Lạc Diệp đồng loạt mở toang. Bên trong, từng chồng ngô bắp vàng ruộm, hạt mẩy tròn căng bóng đã được phơi khô qua ba con nắng, xếp cao ngất ngưởng chạm tận xà nhà, tỏa ra mùi thơm ngai ngái, ngọt lành đặc trưng của ngũ cốc no nắng gió. Đó là thành quả của bao nhiêu mồ hôi nước mắt, là mồ hôi của mấy mươi hộ dân chắt chiu từ đợt đại hạn đầu vụ, giờ đây phơi mình rực rỡ dưới ánh mặt trời như những kho báu bằng vàng ròng chốn nhân gian.
Dưới chân đồi, hàng ngàn nạn dân đang quỳ rạp, mặt mày lem luốc bùn đất và tro bụi, ánh mắt trũng sâu vì đói khát bỗng chốc đờ đẫn ra. Trong khoảnh khắc nhìn thấy những núi ngô vàng ươm tầng tầng lớp lớp ấy, không ít người đã run rẩy đưa tay dụi mắt, ngỡ mình vừa trông thấy ảo ảnh giữa cơn mê sảng trước lúc chết đói.
“Mở kho! Xuất lương!”
Tiếng hô vang rền của Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu như một mồi lửa châm vào đống bổi khô, đánh thức toàn bộ dân làng Lạc Diệp thoát khỏi cơn sững sờ. Tam Thúc quệt vội giọt mồ hôi chảy ròng ròng trên gò má sạm đen, hai bắp tay gân guốc thoăn thoắt vác từng bao tải ngô lớn chất lên xe cút kít.
“Mấy đứa nhỏ đâu, mau phụ một tay! Đừng để Lam nha đầu phải bận lòng!” Tam Thúc quay đầu quát lớn, giọng khàn đặc nhưng ánh mắt lại ngời lên ngọn lửa nhiệt huyết chưa từng thấy.
Ở phía bên kia, Tam Thẩm Lý thị đã dắt theo hàng chục phụ nữ trong thôn túa ra bờ suối cạn. Mười chiếc vạc gang sâu lòng – vốn dùng để luộc kén tằm và nấu cao dực – nay được kê chắc chắn trên những kiềng đá hoa cương dã chiến. Củi khô từ rừng thông Lạc Nhạn được chuyển đến nườm nượp, tiếng rìu bổ củi chan chát hòa cùng tiếng lửa bén reo tí tách. Nước suối ngọt lành, trong vắt được dẫn trực tiếp từ mạch ngầm trên núi qua hệ thống ống tre của Tiêu Lập cuồn cuộn đổ vào vạc lớn, nhanh chóng sôi sục, bốc lên những làn hơi nghi ngút xua tan cái oi nồng bức bối.
Nhược Lam không hề đứng yên chỉ tay năm ngón. Nàng xắn cao ống tay áo vải thô màu nâu nhạt, vạt áo buộc gọn ghẽ ngang hông, để lộ dáng người mảnh mai nhưng nhanh nhẹn phi thường. Nàng thoăn thoắt đi lại giữa các lán trại tạm, trực tiếp phân loại nguyên liệu nấu cháo.
“Tam Thẩm! Không chỉ nấu ngô đơn thuần!” Nhược Lam cất giọng trong trẻo, át cả tiếng củi nổ lách tách. “Ngô ngọt này đem giã vỡ hạt ra cho nhanh nhừ, cứ ba phần ngô thì trộn thêm một phần đậu tương ngâm mềm, rắc thêm một vốc muối khoáng từ hũ sành kia vào! Nạn dân đi đường dài dưới nắng gắt, mồ hôi thoát hết, tạng phủ kiệt quệ, nếu chỉ cho ăn cháo suông loãng thì ruột gan họ không chịu nổi đâu, phải có đậu tương bồi bổ khí lực, có muối giữ nước trong người thì mới giữ được mạng!”
Tam Thẩm nghe vậy, hai tay thoăn thoắt đổ thúng đậu tương mẩy tròn đã ngâm nở vào cối đá, miệng liên tục vâng dạ: “Con yên tâm! Thẩm hiểu rồi! Cháo này nấu lên vừa thơm ngọt lại vừa bùi béo, đến người khỏe ăn vào còn thấy tỉnh cả người, huống chi là bà con đói lả ngoài kia!”
Mùi ngô ngọt vỡ hạt gặp nước sôi bùng lên một làn hương thơm ngào ngạt, quyện lẫn vị béo ngậy của đậu tương chín tới và mùi củi thông the the. Làn khói trắng mang theo hương vị của sự sống lượn lờ bay là đà trên mặt đất, lan tỏa khắp sườn đồi, bay thẳng về phía đám đông đang đói lả. Vô số tiếng nuốt nước bọt ực ực vang lên nghẹn ngào giữa đám người tị nạn; những cặp mắt dại đi vì đói bỗng ánh lên một tia sáng mãnh liệt, tia sáng của khát vọng được sống sót.
Bản năng sinh tồn trỗi dậy mãnh liệt, đám đông hàng ngàn người bắt đầu có dấu hiệu xao động. Những bước chân run rẩy bắt đầu lảo đảo bước tới, những cánh tay trơ xương giơ lên, tiếng kêu khóc, chen lấn bắt đầu râm ran như một đợt sóng ngầm sắp vỡ bờ:
“Cho tôi một bát… Làm ơn cho con tôi một hớp cháo…”
“Tránh ra! Để ta lên trước! Ta sắp chết đói rồi!”
Nguy cơ giẫm đạp và bạo loạn chực chờ bùng nổ chỉ trong chớp mắt. Nhưng ngay khoảnh khắc một gã đàn ông lực lưỡng định xô ngã hàng rào cọc tre để lao vào nồi cháo, một bóng đen cao lớn tựa ngọn núi sừng sững bỗng chắn ngang trước mặt gã.
“Rầm!”
Một tiếng động nặng nề vang lên. Tiêu Lập chỉ khẽ vung một cánh tay, gã đàn ông kia đã ngã ngồi phịch xuống đất, trượt dài một trượng, đất cát văng tung tóe nhưng thân thể không hề bị thương tổn nghiêm trọng. Tiêu Lập đứng đó, chiếc áo chẽn thô màu đen bó sát lồng ngực vạm vỡ, hai cánh tay cuồn cuộn cơ bắp khoanh trước ngực, sau lưng đeo cây cung săn bằng gỗ mun đen nhánh. Đôi mắt đại bàng của chàng sắc như lưỡi dao cạo, quét qua biển người hỗn loạn một lượt. Một luồng sát khí vô hình nhưng lạnh buốt xương tủy, tôi luyện từ mười vạn đống xương tàn nơi sa trường biên ải, lặng lẽ tỏa ra bao trùm khắp không gian.
Cả đám đông hàng ngàn người trong nháy mắt như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt cổ họng, lập tức im bặt. Ngay cả những đứa trẻ đang gào khóc cũng nín bặt, sợ hãi nép sâu vào lòng mẹ.
Tiêu Lập cất giọng, âm thanh trầm thấp nhưng vang xa như tiếng sấm rền giữa trời quang:
“Thôn Lạc Diệp mở kho cứu tế, là niệm tình đồng bào máu đỏ da vàng, chứ không phải mắc nợ các ngươi! Khương cô nương có lòng từ bi bồ tát, nhưng đao kiếm của Tiêu mỗ thì không có mắt! Kẻ nào dám bước qua lằn ranh này nửa bước, kẻ nào dám giẫm đạp lên người già và trẻ nhỏ, đừng trách mũi tên của ta xuyên thủng yết hầu!”
Dứt lời, chàng rút phắt một mũi tên lông ngỗng trên lưng, không cần ngắm nghía, ngón tay buông lỏng.
“Vút!”
Một tiếng xé gió rợn người vang lên. Mũi tên cắm phập xuống tảng đá xanh cách ngón chân gã đàn ông gây rối chỉ nửa tấc, cắm ngập sâu đến ba tấc đá, đuôi tên bằng lông chim ưng còn rung lên bần bật, phát ra tiếng vo vo ghê người.
Toàn trường lặng ngắt như tờ. Không một ai dám nghi ngờ lời nói của người đàn ông mang khí thế áp đảo này.
Nhược Lam nhìn bóng lưng vững chãi của Tiêu Lập, trong lòng dâng lên một dòng nước ấm áp lạ kỳ. Chàng luôn là như vậy, lời nói ít ỏi nhưng mỗi hành động đều dứt khoát, sừng sững như một bức tường thành kiên cố nhất, thay nàng gạt phăng mọi hiểm nguy, để nàng có thể toàn tâm toàn ý làm những điều nàng muốn.
Nàng khẽ mỉm cười, bước lên đứng cạnh chàng, giọng nói dịu dàng nhưng rõ ràng, lan tỏa khắp sườn đồi:
“Bà con đừng sợ! Thôn Lạc Diệp chúng tôi hôm nay mở trọn năm gian kho ngô, nước sôi lửa ấm không bao giờ tắt! Ai cũng sẽ có phần, tuyệt đối không để một ai phải nhịn đói rời khỏi đây! Nhưng trật tự phải giữ nghiêm! Đội hộ vệ, lập tức chia bà con thành từng tốp năm mươi người! Xếp hàng theo thứ tự: phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ dưới mười tuổi và người già trên sáu mươi tuổi tiến lên trước nhận cháo! Trai tráng khỏe mạnh ngồi yên tại chỗ chờ lượt!”
Lời hiệu triệu đầy tình người nhưng dứt khoát của nàng lập tức xoa dịu nỗi hoảng loạn. Dưới sự điều phối thiện chiến của Tiêu Lập và nhóm trai tráng trong thôn được chàng huấn luyện, dòng người tị nạn nhanh chóng tách ra, xếp thành những hàng dài ngay ngắn. Những ánh mắt hung hãn, tuyệt vọng ban nãy dần dần được thay thế bằng sự kinh cẩn và niềm hy vọng tràn trề.
Những bát cháo ngô ngọt đầu tiên được múc ra. Hạt ngô màu vàng tươi ninh nhừ nở bung như những cánh hoa cúc nhỏ, quyện chặt cùng đậu tương bùi béo sánh mịn, rải lên chút muối khoáng lấp lánh.
Bảo Nha lon ton bưng một bát cháo lớn còn nghi ngút khói, đôi bàn tay nhỏ nhắn cẩn thận trao cho một bé gái trạc tuổi mình đang gầy gò chỉ còn da bọc xương. Bé gái run rẩy đón lấy bát sành, nhìn Bảo Nha bằng ánh mắt không dám tin, rồi òa khóc nức nở, vùi đầu húp lấy húp để từng thìa cháo ngọt lịm. Vị ngọt thanh tao của ngô tươi nơi đầu lưỡi cùng hơi ấm lan tỏa xuống dạ dày khiến đứa trẻ run lên vì sung sướng.
Thế nhưng, khi những vạc cháo đang sôi sùng sục cứu vớt những chiếc dạ dày đói khát, Nhược Lam lại nhận ra một mối nguy cơ còn kinh khủng hơn cả cái đói đang rình rập.
Nàng đi dọc theo các hàng người, ánh mắt sắc sảo của một nhà khoa học nông nghiệp kiêm chuyên gia sinh học lập tức phát hiện ra những dấu hiệu bất thường. Rất nhiều người già và trẻ em môi khô nứt nẻ rớm máu, da dẻ nóng bừng như than hồng, mắt lờ đờ trắng dã. Ở góc xa dưới bóng râm của lùm tre, vài người đang ôm bụng quằn quại, hơi thở dồn dập, nôn mửa và đi ngoài ra nước vàng đục.
“Hỏng rồi! Là thử nhiệt công tâm và kiết lỵ cấp tính!” Nhược Lam thầm thốt lên trong lòng.
Những nạn dân này đã bôn ba hàng trăm dặm dưới ánh mặt trời thiêu đốt bốn mươi độ, dọc đường lại uống nước bùn đọng ở các hố cạn hôi thối để cầm hơi. Khí nóng uất kết trong cơ thể kết hợp với vi khuẩn tả lỵ trong nước bẩn đang bắt đầu bộc phát. Nếu không xử lý ngay lập tức, chỉ cần qua đêm nay, dịch kiết lỵ và say nắng sẽ cướp đi sinh mạng của hàng trăm người già và trẻ nhỏ, thậm chí biến nơi phát chẩn này thành một ổ dịch bệnh khổng lồ lan vào cả thôn Lạc Diệp!
“Hắc Lục! Mau lại đây!” Nhược Lam lập tức cất tiếng gọi lớn.
Một bóng người nhanh như cắt lướt tới. Hắc Lục – trong bộ trang phục vải gai của một gã lang băm thu mua thảo dược dạo – lập tức chắp tay cúi đầu: “Khương cô nương có gì sai bảo?”
“Toàn bộ số râu ngô vàng phơi khô thu hoạch từ ba mươi mẫu ruộng ngô vụ trước đâu rồi?”
“Dạ bẩm cô nương, râu ngô phơi khô được giữ kín trong ba mươi bao tải lớn ở gian chái đông, khô ráo không một hạt bụi!”
“Lấy hết ra đây cho ta!” Nhược Lam ra lệnh dứt khoát. “Đồng thời bảo người vào kho thuốc của huynh lấy toàn bộ kim ngân hoa khô, lá sen rừng và bạc hà dại ra đây! Kê thêm bốn chiếc vạc đồng lớn nhất ở đầu gió, đun nước sôi sùng sục lên!”
Dân làng Lạc Diệp và đám nạn dân xung quanh nghe thấy thế thì ngơ ngác nhìn nhau. Tam Thẩm đang múc cháo cũng ngẩng đầu lên, vẻ mặt đầy khó hiểu:
“Lam nha đầu à, râu ngô đó chẳng phải là thứ rơm rác bỏ đi khi bóc bắp sao? Bình thường người ta chỉ dùng để nhóm bếp hoặc cho trâu nhai đỡ đói, lấy ra nấu nước làm gì thế con?”
Một vài lão nông tị nạn ngồi gần đó cũng thì thào bàn tán: “Đúng đấy… từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ, tôi chỉ nghe nói ăn hạt ngô, chứ râu ngô xơ xác thế kia, uống vào khéo lại tắc ruột…”
Nhược Lam nghe vậy chỉ khẽ cười, bàn tay thoăn thoắt xé mở bao tải râu ngô khô thơm nức mùi nắng. Nàng bốc một nắm râu ngô màu nâu vàng óng ánh giơ lên trước mặt mọi người, giọng điệu tự tin, rành rọt như một vị danh y am tường dược lý:
“Bà con không biết đấy thôi! Hạt ngô là ngọc thực nuôi thân, nhưng râu ngô này mới chính là vị thuốc trời ban! Trong nông y, râu ngô tính bình, vị ngọt, đi thẳng vào kinh thận và bàng quang. Nó có công năng thanh nhiệt trừ thấp, lợi tiểu tiêu thũng, bình can chỉ khát cực kỳ thần hiệu! Nạn dân đi nắng cháy ruột cháy gan, tạng thận ứ trệ, độc tố tích tụ không thoát ra được bằng đường mồ hôi thì phải dùng râu ngô để thông tiểu tống độc! Lại thêm kim ngân hoa giải độc đường ruột, lá sen hạ sốt tiêu thử, bạc hà thông khiếu tán nhiệt. Nồi nước này uống vào, bảo đảm tà khí trong người tiêu tan, chặn đứng chứng kiết lỵ và hôn mê do nắng nóng!”
Những kiến thức y học cổ truyền kết hợp với cơ chế sinh hóa hiện đại được Nhược Lam diễn giải bằng thứ ngôn ngữ thôn dã, mộc mạc nhưng chặt chẽ lạ lùng, khiến cho Hắc Lục – kẻ vốn là một cao thủ dùng độc và giải độc của Trấn Bắc quân – cũng phải trố mắt kinh ngạc, trong lòng thầm bái phục sát đất.
“Còn ngây ra đó làm gì? Mau châm lửa đun nước!” Tiêu Lập cất giọng trầm thấp, cắt ngang sự sững sờ của thuộc hạ.
Hắc Lục giật bắn mình, lập tức dẫn người khiêng từng bao râu ngô trút vào vạc nước sôi. Chỉ một lát sau, một mùi thơm thanh mát, dịu ngọt tựa như mùi sương sớm trên đồng cỏ thoang thoảng bay ra, át đi mùi mồ hôi chua nồng và xú uế của khu lán trại. Nước râu ngô khi sôi kỹ chuyển sang màu vàng hổ phách trong vắt, sóng sánh như mật ong loãng.
Nhược Lam đích thân múc một gáo gỗ lớn nước râu ngô còn ấm nóng, rắc thêm vài hạt muối hạt, rồi bước đến trước mặt một người mẹ trẻ đang tuyệt vọng ôm đứa con trai chừng năm tuổi sốt li bì, co giật từng cơn.
“Để ta xem đứa bé.” Giọng Nhược Lam mềm mại như làn gió xuân.
Người mẹ trẻ ngẩng khuôn mặt đẫm lệ, run rẩy nhìn nàng như nhìn thấy một cọng rơm cứu mạng duy nhất: “Cầu xin cô nương… con tôi không thở nổi nữa rồi… trời ơi phật sống ơi cứu lấy con tôi…”
Nhược Lam đỡ lấy đứa trẻ, đặt đầu bé tựa vào đùi mình. Nàng dùng khăn sạch nhúng nước ấm lau mát vùng trán, nách và bẹn cho đứa trẻ để hạ nhiệt vật lý, sau đó cẩn thận dùng thìa tre nhỏ, kiên nhẫn bón từng ngụm nước râu ngô vàng óng vào khóe môi khô khốc nứt nẻ của đứa bé.
Dòng nước thanh ngọt, mát lành thấm đượm vào cuống họng cháy bỏng. Ban đầu đứa trẻ chỉ nuốt theo phản xạ vô thức, nhưng chỉ sau vài thìa, vị ngọt thanh khiết dường như đánh thức sinh cơ trong cơ thể nhỏ bé. Đứa trẻ bắt đầu tự m*t lấy thìa, nuốt ừng ực.
Chưa đầy nửa canh giờ sau, một tiếng thở dài nhẹ nhõm vang lên từ lồng ngực đứa bé. Những cơn co giật dừng hẳn, mồ hôi trộm li ti bắt đầu toát ra trên trán mang theo hơi nóng độc hại, đôi má tái nhợt dần hồng hào trở lại, đôi mắt từ từ hé mở, yếu ớt gọi: “Mẹ ơi… con khát…”
“Sống rồi! Con tôi sống lại rồi!” Người mẹ trẻ ôm chầm lấy đứa con, quỳ rạp xuống nền đất nấc nghẹn từng cơn, vừa khóc vừa dập đầu lia lịa trước mặt Nhược Lam: “Tạ ơn bồ tát cứu mạng! Tạ ơn bồ tát tái sinh!”
Cảnh tượng kỳ diệu ấy diễn ra ngay trước mắt hàng ngàn con người. Những người già đang hôn mê sau khi được cho uống hai bát nước râu ngô ấm cũng dần tỉnh táo lại, bụng dạ hết quặn thắt, tiểu tiện thông suốt, sắc mặt từ xám ngoét chuyển sang tươi nhuận.
Một đợt dịch bệnh kinh hoàng đe dọa sinh mạng hàng ngàn người đã bị Nhược Lam hóa giải một cách êm thấm, nhẹ nhàng chỉ bằng những thứ tưởng chừng như rác rưởi vứt đi ngoài ruộng ngô!
Bầu không khí trong khu lán trại hoàn toàn biến đổi. Tiếng rên xiết đau đớn biến mất, thay vào đó là tiếng cười nói râm ran, tiếng xì xụp húp cháo ngon lành và mùi thơm ngào ngạt của ngũ cốc, thảo dược quyện trong không gian chiều tà.
Nhìn những vạc cháo vơi đi rồi lại đầy, nhìn hàng ngàn con người đã có lại chút sinh khí sau cơn bĩ cực, Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu đứng bên cạnh Nhược Lam, vừa mừng rỡ lại vừa có chút âu lo, ghé tai nàng nói nhỏ:
“Lam nha đầu à, cháo thì cứu đói được hôm nay, ngày mai. Nhưng năm gian kho ngô này của chúng ta, dù có nhiều đến mấy thì nuôi cả vạn miệng ăn thế này, giỏi lắm cũng chỉ trụ được nửa tháng. Nửa tháng nữa hết lương thực, trời vẫn không mưa, đất đai vẫn khô cháy, thì đám nạn dân này biết đi đâu về đâu? Họ lại phải lang bạt rồi chết đói dọc đường sao con?”
Lời trăn trở của Tam Thúc cũng chính là nỗi niềm đau đáu trong lòng Nhược Lam từ lúc quyết định mở kho. Nàng đưa mắt nhìn ra xa xăm. Ngoài ranh giới thôn Lạc Diệp trù phú, những triền đồi ngút ngàn của huyện Vân Khê đang trơ trọi, nứt nẻ dưới nắng hạn, lúa má chết khô biến thành rơm rạ, đồng ruộng hoang tàn như bãi tha ma.
Nàng biết rõ, cho người ta một con cá chỉ giúp họ sống qua một ngày, nhưng dạy họ cách câu cá mới có thể nuôi sống họ cả một đời. Nàng là một tiến sĩ nông học, sứ mệnh của nàng không phải là làm một kẻ ban phát chẩn bần nhất thời rồi bất lực nhìn bá tánh chìm vào diệt vong. Sức mạnh của nàng nằm ở hạt giống, nằm ở mảnh đất, nằm ở khoa học canh tác có thể cải tạo cả càn khôn!
Nhược Lam hít một hơi thật sâu, ánh mắt nàng bừng sáng lên một quyết tâm sắt đá. Nàng quay sang Tam Thúc, cất giọng kiên định:
“Tam Thúc, thúc đi mở gian kho kín phía sau từ đường ra! Vác toàn bộ số bao tải gai có đánh dấu chữ đỏ ra đây cho cháu!”Tam Thúc trừng lớn mắt: “Đó… đó là số hạt giống ngô ngọt chịu hạn ngắn ngày mà vụ trước con cùng cả thôn chắt chiu lai tạo, chọn lọc từng bắp một đó sao? Cả thảy một vạn cân giống quý, con định…”
“Đúng vậy!” Nhược Lam gật đầu dứt khoát. “Cháu muốn đem toàn bộ một vạn cân hạt giống này chia cho bà con nạn dân!”
Tin tức ấy như một quả bom nổ tung giữa khu lán trại. Khi những bao tải hạt giống ngô được khiêng ra, xếp thành từng dãy dài trước lễ đài dựng tạm, toàn bộ hàng ngàn nạn dân đều sững sờ nín thở.
Khương Nhược Lam bước lên mô đất cao. Nắng chiều vàng rực buông xuống vai nàng, dát lên tà áo vải thô một vầng hào quang ấm áp, rực rỡ tựa như tiên nữ giáng trần giữa cõi hồng trần lầm than.
Nàng cất tiếng, giọng nói trong trẻo mà vang vọng, gieo vào lòng từng con người nơi đây một luồng sinh khí mới:
“Hỡi bà con phụ lão! Cháo ngô ngọt này có thể lấp đầy dạ dày các vị hôm nay, nhưng nó không thể nuôi sống gia đình các vị suốt đời! Ông trời làm đại hạn, cướp đi mùa màng của chúng ta, nhưng ông trời không cướp được đôi bàn tay và khối óc của con người! Mảnh đất dưới chân các vị dù có nứt nẻ, dù có khô cằn sỏi đá, nó vẫn là đất mẹ! Chỉ cần chúng ta biết cách gieo trồng, hạt mầm sẽ đâm chồi, sự sống sẽ hồi sinh!”
Nàng chỉ tay vào những bao hạt giống vàng óng:
“Đây là một vạn cân hạt giống ngô ngọt chọn lọc của thôn Lạc Diệp chúng tôi! Giống ngô này rễ ăn sâu gấp ba lần ngô thường, chịu hạn cực tốt, thời gian sinh trưởng ngắn, chỉ cần hai tháng là trổ cờ đóng bắp! Hôm nay, ta không chỉ phát giống cho các vị, mà ta sẽ trực tiếp dạy cho các vị cách khiến cho đất chết phải nở hoa!”
Nói là làm, Khương Nhược Lam lập tức nhảy xuống mô đất, bước thẳng ra mảnh đồi sỏi đá cằn cỗi sát bìa rừng – nơi đất đai nứt toác từng rãnh sâu hoắm vì ba tháng không có một giọt mưa. Nàng cầm lấy một chiếc cuốc nhỏ cán ngắn, xắn cao tay áo, quỳ một gối xuống nền đất khô khốc.
Hàng ngàn nạn dân lục tục vây quanh thành nhiều vòng tròn lớn, nín thở theo dõi từng cử động của nàng.
“Mọi người nhìn kỹ đây!” Nhược Lam vừa cuốc đất vừa giải thích cặn kẽ từng chi tiết bằng kinh nghiệm nông học thực tiễn. “Đất hạn hán nứt nẻ, tuyệt đối không được cày xới tung bừa bãi! Cày xới tung lên sẽ làm hơi ẩm ít ỏi dưới lòng đất bốc hơi hết sạch, hạt tra xuống sẽ bị chết thiêu! Chúng ta phải dùng phương pháp ‘khoét hốc giữ ẩm’!”
Lưỡi cuốc của nàng gõ xuống đất phát ra tiếng chan chát, nhưng với kỹ thuật dùng lực khéo léo, nàng nhanh chóng khoét thành từng hốc nhỏ sâu chừng năm tấc, khoảng cách giữa các hốc đều đặn hai gang tay.
“Nhìn thấy chưa? Khoét hốc sâu xuống để chạm tới tầng đất còn chút hơi ẩm ngầm. Sau đó…” Nhược Lam thò tay vào chiếc thúng tre bên cạnh, bốc ra một nắm tro trấu trộn lẫn với mùn rơm ủ mục mà nàng đã chuẩn bị sẵn từ trước. “Bỏ vào đáy hốc một nắm tro trấu ủ mục này! Tro trấu xốp nhẹ có tính năng giữ nước và giữ phân bón cực tốt, lại có hàm lượng kali tự nhiên giúp rễ cây cứng cáp, không bị sâu bọ cắn phá!”
Bảo Nha đứng bên cạnh nhanh nhảu đưa cho nàng một chiếc túi vải nhỏ đựng hạt giống ngô đã được ngâm ủ nứt nanh.
Nhược Lam cẩn thận thả vào mỗi hốc hai hạt ngô căng mẩy: “Mỗi hốc chỉ tra đúng hai hạt, đặt nằm nghiêng để mầm dễ ngoi lên. Sau đó phủ lên một lớp đất mịn dày chừng hai lóng tay, tuyệt đối không nén quá chặt khiến mầm nghẹt thở. Và bước quan trọng nhất…”
Nàng đứng dậy, vơ lấy một nắm rơm rạ khô phủ một lớp mỏng lên trên mặt hốc: “Dùng rơm rạ hoặc cỏ khô phủ lên trên miệng hốc! Lớp bổi này sẽ che chắn ánh nắng gay gắt trực tiếp, ngăn không cho nước bốc hơi, tạo thành một chiếc ô bảo vệ độ ẩm cho hạt mầm tự do nảy chồi!”
Nàng ngẩng đầu lên, nhìn đám đông đang há hốc mồm lắng nghe như nuốt từng lời, mỉm cười nói tiếp:
“Khi tưới nước, không được tưới tràn lan làm đất đóng váng cứng ngắc. Dùng một chiếc gáo tre nhỏ, chọc thủng một lỗ nhỏ dưới đáy, tưới nước nhỏ giọt thẳng vào gốc lúc sáng sớm khi sương chưa tan, hoặc lúc chiều muộn khi mặt trời đã xuống núi! Nước suối từ trên đồi Lạc Nhạn dẫn về mương dẫn chung, ta sẽ cho phép các vị chia nhau dẫn vào các rãnh đất! Chỉ cần làm đúng như lời ta dạy, ta dám lấy tính mạng ra bảo đảm: trong vòng năm ngày, ngô sẽ nảy mầm xanh ngắt; trong vòng sáu mươi ngày, các vị sẽ có bắp ngô ngọt lịm để cứu sống cả gia đình!”
Cả không gian tĩnh lặng như tờ, chỉ có tiếng gió chiều thổi qua những ngọn đồi khô cháy.
Hàng ngàn nạn dân đứng đó, đa phần họ đều là những nông phu cả đời cắm mặt cho đất, bán lưng cho trời. Họ từng tuyệt vọng nhìn lúa chết khô, từng nghĩ rằng hạn hán là thiên tai không thể chống lại, chỉ có con đường bỏ xứ tha phương cầu thực chờ chết đói. Nhưng lúc này đây, nhìn đôi bàn tay lấm lem bùn đất của người con gái khuê các thanh tú trước mặt, nghe những lời chỉ dẫn rành rọt, thấu đáo, sáng rõ như ban ngày, trong đầu họ như có một luồng sấm sét xé toạc màn đêm tăm tối!
Đó không phải là phép thuật ma quỷ, đó là trí tuệ! Là con đường sống chân chính bằng mồ hôi và sức lao động của chính mình!
“Tôi… tôi hiểu rồi! Hóa ra đất cằn vẫn có thể giữ ẩm như vậy!” Một lão nông run rẩy thốt lên, nước mắt giàn giụa trên những nếp nhăn nheo sâu hoắm. “Trời ơi, bao năm qua chúng ta cứ cày xới bừa bãi làm đất bốc hết hơi nước… Chúng ta có tội với đất mẹ!”
“Khương cô nương… cô nương không chỉ cho chúng tôi cháo ăn, cô nương còn cho chúng tôi đường sống…”
Từng túi hạt giống ngô ngọt bọc trong vải gai thô được Bảo Nha, Tam Thẩm và nhóm phụ nữ thôn Lạc Diệp tận tay trao cho từng đại diện gia đình tị nạn. Khi đón nhận những túi hạt giống vàng ruộm, nặng trịch ấy, từng đôi bàn tay gầy guộc run lên bần bật. Họ ôm túi giống vào lòng, ép chặt vào lồng ngực như đang ôm lấy tính mạng thứ hai của chính mình và con cháu.
Đột nhiên, lão nông tóc bạc phơ ban nãy hai gối quỵ xuống, dập đầu thật mạnh xuống nền đất khô khốc trước mặt Nhược Lam.
“Bồ tát sống! Đây chính là bồ tát sống tái thế cứu vớt muôn dân!”
Hành động của lão nông như một làn sóng kích hoạt toàn bộ cảm xúc kìm nén bấy lâu nay. Hàng ngàn con người đồng loạt quỳ sụp xuống, tiếng đầu gối chạm đất rào rào như mưa đổ. Tiếng khóc nghẹn ngào, tiếng nấc xót xa và những tiếng hô vang dội bùng nổ, xé toạc cả không gian hoàng hôn tịch mịch:
“Khương Tiên Cô! Đa tạ Khương Tiên Cô cứu mạng!”
“Khương Tiên Cô vạn phúc vô cương! Đa tạ tiên cô tái sinh cho chúng con!”
Hàng ngàn tiếng hô hòa làm một, vang vọng vào vách đá núi Lạc Nhạn, chấn động cả một vùng trời đất. Trong mắt họ lúc này, Khương Nhược Lam không còn là một thứ nữ bị gia tộc ruồng bỏ, không còn là một cô thôn nữ bình thường, mà nàng chính là “Khương Tiên Cô” – vị thần nông đức độ giáng trần để cứu độ chúng sinh khỏi bờ vực diệt vong!
Nhược Lam hốt hoảng bước tới định đỡ lão nông dậy: “Bà con mau đứng lên! Đừng làm vậy, tôi cũng chỉ là một người làm nông như bà con thôi mà…”
Thế nhưng không một ai chịu đứng lên. Ánh mắt họ nhìn nàng tràn ngập sự sùng kính, biết ơn sâu sắc đến tận xương tủy.
Đứng cách đó vài bước chân, Tiêu Lập lặng lẽ ngắm nhìn Nhược Lam giữa muôn vàn tiếng tung hô. Chiều tà buông xuống, ánh hoàng hôn đỏ rực phủ lên gương mặt thanh tú lấm lem bụi đất của nàng một nét đẹp thần thánh, rạng ngời khôn xiết. Chàng thấy nàng luống cuống xua tay, khóe môi khẽ nở một nụ cười bất đắc dĩ nhưng đôi mắt hạnh lại lấp lánh niềm vui sướng thuần khiết của người gieo mầm sự sống.
Lồng ngực Tiêu Lập đập rộn ràng từng nhịp mạnh mẽ. Đây chính là người con gái chàng yêu, người con gái không màng danh lợi quyền quý chốn kinh kỳ hoa lệ, chỉ một lòng gắn bó với ruộng đồng, dùng chính đôi bàn tay và khối óc của mình để che chở cho vạn mảnh đời cơ hàn. Người con gái như thế, xứng đáng nhận được sự tôn kính của cả thiên hạ!
Những ngày sau đó, một cảnh tượng chưa từng có trong lịch sử huyện Vân Khê diễn ra. Hơn một vạn nạn dân không còn lang bạt đầu đường xó chợ, cũng không xảy ra bất kỳ vụ cướp bóc, bạo loạn nào. Dưới sự dẫn dắt của Khương Nhược Lam và sự bảo hộ trật tự của Tiêu Lập, đoàn người tị nạn chia nhau khai khẩn hàng ngàn mẫu đồi hoang quanh chân núi Lạc Nhạn.
Khói bếp từ các lán trại bốc lên nghi ngút mỗi sớm chiều. Tiếng cuốc đất chan chát, tiếng người gọi nhau í ới khơi mương dẫn nước rộn rã khắp núi rừng. Chỉ sau bảy ngày ngắn ngủi, đúng như lời Nhược Lam đã hứa, từ những hốc đất khô cằn phủ rơm rạ, hàng triệu mầm ngô ngọt xanh biếc như những mũi ngọn giáo nhỏ đã đồng loạt đội đất nhô lên, tràn đầy nhựa sống, nhuộm xanh cả những sườn đồi xám xịt!
Cùng với những mầm xanh hồi sinh ấy, câu chuyện về nghĩa cử vĩ đại của thôn Lạc Diệp bắt đầu lan truyền với tốc độ chóng mặt.
Đoàn người tị nạn sau khi được cứu đói và nhận hạt giống, một bộ phận ở lại khai hoang, một bộ phận tiếp tục đi về các châu huyện phía Nam để tìm kiếm thân nhân. Đi đến đâu, họ cũng mang theo câu chuyện kỳ diệu về một vùng đất Lạc Diệp trù phú giữa tâm hạn hán; kể về những vạc cháo ngô ngọt béo ngậy cứu đói đêm ngày; kể về nồi nước râu ngô thần kỳ dập tắt dịch bệnh; và trên hết, họ kể về “Khương Tiên Cô” – người con gái có tấm lòng bồ tát đã xé toạc bức màn chết chóc của thiên tai để trao cho bá tánh con đường sống.
Tiếng thơm “Khương Tiên Cô” theo chân những người tị nạn, theo những chuyến xe buôn, theo các ngả đường thiên lý lan truyền khắp mười sáu huyện sáu châu phương Bắc, rồi như một cơn lốc vô hình, cuốn thẳng về kinh thành Thạnh An xa hoa ngút ngàn dặm!
*
Kinh thành Thạnh An, ba ngày sau.
Trái ngược với cảnh lầm than đói khổ của bá tánh phương Bắc, kinh thành vẫn khoác lên mình vẻ xa hoa lộng lẫy tột cùng. Những tửu lầu đèn lồng đỏ treo cao, tiếng đàn ca sáo nhị rộn rã thâu đêm suốt sáng.
Thế nhưng, bên trong thư phòng xa hoa lộng lẫy của Thượng thư phủ, bầu không khí lại u ám, ngột ngạt như hầm băng.
“Choang!”
Một chiếc chén trà bằng ngọc bích tinh xảo bị ném mạnh xuống sàn đá hoa cương, vỡ tan tành thành trăm mảnh vụn. Nước trà hảo hạng văng tung tóe lên vạt áo lụa đắt tiền của Khương Ngọc Trinh.
Khương Thượng thư đứng trước bàn làm việc bằng gỗ lim trạm trổ rồng phượng, khuôn mặt già nua xám ngoét vì tức giận, lồng ngực phập phồng dữ dội. Trên bàn, một bức mật thư vừa được bồ câu đưa về từ Vân Châu còn mở toang.
“Nghịch nữ! Nghiệt súc!” Khương Thượng thư gầm lên nghiến răng nghiến lợi. “Nó chỉ là một đứa con gái bị phế truất, một thứ rác rưởi bị đuổi về chốn rừng thiêng nước độc! Lấy đâu ra nhiều lương thực như thế? Lấy đâu ra hạt giống quý như thế? Lại còn ‘Khương Tiên Cô’? Lại còn cứu vạn nạn dân? Nó muốn làm phản sao?!”
Khương Ngọc Trinh đứng một bên, khuôn mặt xinh đẹp kiều diễm giờ đây vặn vẹo vì ghen ghét và căm hận tột cùng. Kể từ sau thất bại nhục nhã tại Hội thi Dệt may ở Phủ thành Vân Châu, ả bị Khâm sai đại thần Tề Hoằng trục xuất, tước quyền dự thi ba năm, danh tiếng tài nữ kinh kỳ bị tổn hại nặng nề. Vết thương lòng ấy còn chưa lành, nay lại nghe tin Khương Nhược Lam chẳng những không chết đói chết rét, mà danh tiếng còn vang dội khắp thiên hạ, được vạn dân tôn sùng như thần thánh!
“Phụ thân!” Khương Ngọc Trinh bước lên một bước, ánh mắt lóe lên tia độc địa tàn nhẫn, giọng nói the thé chói tai: “Người chẳng lẽ không nhìn ra dã tâm của con tiện tỳ đó sao? Triều đình ba tháng nay mở kho phát chẩn nhưng quan viên các cấp tầng tầng bòn rút, dân chúng chết đói vô số, oán thán ngút trời! Vậy mà nó – một kẻ bị trục xuất khỏi gia tộc – lại dám tự ý mở năm gian kho lương lớn, nuôi dưỡng hàng vạn nạn dân, lại còn huấn luyện trai tráng dựng hàng rào phong tỏa, tập hợp lòng dân!”
Ả ghé sát tai Khương Thượng thư, từng lời từng chữ nhả ra như nọc độc của rắn hổ mang:
“Một thôn phụ nơi sơn dã, lấy đâu ra ngàn thạch lương thảo nếu không phải là ngầm cấu kết với thế lực mờ ám tích trữ quân lương? Thu phục hàng vạn lưu dân, khiến bọn họ chỉ biết đến ‘Khương Tiên Cô’ mà không biết đến Hoàng thượng, không biết đến triều đình! Đây không phải là hành vi mưu đồ tạo phản thì là cái gì?!”
Khương Thượng thư giật thót mình, đồng tử co rút lại. Cơn giận dữ ban nãy bỗng chốc biến thành một tia sáng âm hiểm, xảo quyệt lóe lên trong đáy mắt lão cáo già chốn quan trường.
Đúng vậy! Mấy tháng nay, bè lũ của lão cùng các đại thần trong triều đã câu kết với nhau biển thủ hơn nửa số lương thảo cứu tế của triều đình cấp cho sáu châu phương Bắc, bán ra chợ đen kiếm về hàng vạn lượng bạc trắng. Hoàng thượng đang nổi trận lôi đình vì nạn đói không dẹp yên được, lại nghe tin Khâm sai Tề Hoằng sắp mang sổ sách về hạch tội lụa cống phẩm. Nếu lúc này lão không tìm một tấm bia đỡ đạn, chiếc ghế Thượng thư này khó mà giữ nổi!
Mà Khương Nhược Lam, chính là tấm bia đỡ đạn hoàn hảo nhất!
“Ý của con là…” Khương Thượng thư nheo mắt nhìn thứ nữ.
Khương Ngọc Trinh cười lạnh, nụ cười độc ác làm biến dạng cả dung nhan thanh tú: “Nhân lúc dư luận kinh thành chưa kịp nắm rõ chân tướng, phụ thân hãy lập tức vào cung dâng mật sớ! Khép cho con tiện nhân đó tội danh: ‘Tự ý tích trữ quân lương bất hợp pháp, mượn cớ cứu tế để mua chuộc lòng dân, tụ tập lưu dân vùng biên ải mưu đồ xưng hùng tạo phản’! Xin Hoàng thượng lập tức phái Cấm quân kinh thành hỏa tốc xuất phát, áp giải ả về kinh thành tống vào thiên lao tra khảo!”
Ả nghiến răng, trong lòng trào dâng kh*** c*m tàn độc: “Một khi đã vào thiên lao, sống hay chết đều do phụ thân định đoạt. Đến lúc đó, bí phương tơ vàng hoàng kim, công thức giống ngô siêu năng suất, và toàn bộ sản nghiệp điền trang Lạc Diệp kia… chẳng phải sẽ ngoan ngoãn thuộc về tay Khương gia chúng ta hay sao? Còn ả tiện tỳ đó, chết trong ngục tối vì tội mưu phản, muôn đời muôn kiếp không ngóc đầu lên được!”
Khương Thượng thư vuốt chòm râu dê, bật ra tiếng cười ha hả đầy đắc ý: “Hay! Diệu kế! Thật là diệu kế! Trinh nhi của ta quả nhiên thông tuệ hơn người!”
Ngay trong đêm hôm đó, cánh cổng son của Thượng thư phủ mở toang. Khương Thượng thư khoác triều phục vội vã tiến cung diện thánh mang theo bức mật sớ ngập tràn những lời lẽ vu khống thâm độc.
Canh ba đêm ấy, một đạo quân lệnh khẩn cấp từ hoàng cung được ban ra.
Tiếng vó ngựa dồn dập xé toạc màn đêm tĩnh mịch của kinh thành Thạnh An. Một đội Cấm quân kinh thành gồm năm mươi kỵ binh thiết giáp sáng loáng, mang theo xiềng xích sắt đằng đằng sát khí, rời cổng thành hỏa tốc phi như bay trong đêm tối, hướng thẳng về phía huyện Vân Khê, thôn Lạc Diệp!
Một cơn giông bão kinh hoàng từ chốn cung đình quyền lực tột cùng đang cuồn cuộn kéo tới, chực chờ nghiền nát mảnh đất thanh bình nơi thôn dã.
Mặt trời vừa ló dạng sau rặng núi Lạc Nhạn, rải những sợi nắng vàng nhạt như mật ong xuống thung lũng Lạc Diệp. Khói bếp từ mười vạn gian bếp dã chiến và những nồi cháo ngô cứu đói vẫn bốc lên nghi ngút, hòa quyện với mùi đất ẩm nồng nàn sau đợt tưới tắm sáng sớm.
Tiêu Lập đứng tựa lưng vào cột gỗ hiên nhà, vạt áo chàm thô mộc khẽ lay động trong ngọn gió sớm mang theo hơi thở của sương mai. Đôi mắt đại bàng vốn luôn sắc lạnh như lưỡi đao tôi thép, giờ đây lại phẳng lặng và mềm mại lạ thường khi dõi theo bóng hình mảnh mai ở giữa sân.
Khương Nhược Lam đang cúi người kiểm tra những nong ngô giống cuối cùng chuẩn bị xuất kho cho bà con nạn dân. Mái tóc nàng búi củ tỏi gọn gàng sau gáy, vài sợi tóc tơ bết lại bên thái dương vì mồ hôi, hai tay áo thô vén cao để lộ cẳng tay trắng nõn lấm tấm vài vệt bụi ngô vàng óng. Nàng vừa thoăn thoắt phân loại hạt, vừa ríu rít dặn dò Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu:
“Tam Thúc, chỗ ngô này rễ ăn rất sâu, nhưng bà con mang về phải dặn họ tuyệt đối không được vùi quá ba tấc đất. Đất hạn vốn nén chặt, vùi sâu hạt sẽ ngộp thở mà chết yểu. Cứ khoét một hốc nông, phủ một lớp rơm mục giữ ẩm như con đã hướng dẫn hôm qua, ba ngày là nứt nanh, bảy ngày là nhú mầm xanh ngay.”
“Được, được! Nhược Lam cứ yên tâm, Tam Thúc ghi nhớ từng lời rồi. Cả vạn bà con ngoài bãi hôm nay đều đồng thanh gọi cháu là tiên cô giáng trần đấy!” Tam Thúc cười ha hả, nếp nhăn nơi khóe mắt giãn ra đầy tự hào.
Nhược Lam bật cười giòn tan, lau mồ hôi trán bằng mu bàn tay: “Tiên cô gì chứ, con chỉ là người thích trồng trọt thôi mà.”
Nhìn nụ cười rạng rỡ như nắng hạ của nàng, ngực Tiêu Lập dâng lên một cỗ ấm áp khó tả. Mười năm lăn lộn nơi sa trường đẫm máu, gối đầu lên giáo mác, ngửi mùi tanh tưởi của tử khí và sự phản trắc chốn quan trường, chưa từng có giây phút nào tâm can chàng được an định như lúc này. Chàng chỉ muốn thời gian vĩnh viễn ngừng lại ở khoảnh khắc này, để chàng làm một gã thợ săn chất phác, ngày ngày lên rừng săn thú, chiều về vác cuốc xới đất cho nàng gieo hạt.
Thế nhưng, sự bình yên nơi sơn dã ấy bỗng chốc bị xé toạc bởi một chuỗi âm thanh chói tai từ đằng xa.
“Rầm! Rầm! Rầm!”
Tiếng vó ngựa dồn dập nện trên con đường đá dẫn vào thôn, mang theo tiếng kim loại va đập leng keng rợn người. Bụi mù bốc lên cuồn cuộn nơi đầu làng.
Đồng tử Tiêu Lập co rút lại thành hai điểm nhọn hoắt. Thân hình cao lớn của chàng trong chớp mắt đã rời khỏi hiên nhà, chỉ một cái lướt nhẹ đã chắn ngay trước mặt Nhược Lam, đem cả thân hình nàng che chở hoàn toàn sau tấm lưng vững chãi như núi đá.
“Tiêu Lập?” Nhược Lam giật mình, theo bản năng túm lấy vạt áo chàng.
“Đừng sợ.” Giọng Tiêu Lập trầm thấp, vững vàng như bàn thạch, bàn tay to lớn phủ đầy vết chai sạn khẽ siết lấy bàn tay nhỏ nhắn của nàng, truyền qua một luồng hơi ấm áp dịu dàng: “Có ta ở đây.”
Một đội kỵ binh gồm năm mươi tên thiết giáp sáng loáng, tay lăm lăm trường thương và roi sắt, đằng đằng sát khí xộc thẳng vào sân phơi ngô. Khí thế hung bạo của cấm quân kinh thành lập tức khiến hàng ngàn nạn dân đang nhận cháo xung quanh hoảng loạn, tiếng đàn bà trẻ con khóc thét vang lên từng chặp.
Dẫn đầu là một tên giáo úy mặt đầy thịt mỡ, râu hùm hàm én, cưỡi trên con chiến mã đen tuyền. Hắn quét ánh mắt khinh miệt nhìn quanh đống nông sản và đám dân nghèo xơ xác, cuối cùng dừng lại trên người Nhược Lam, rút từ trong ngực áo ra một cuộn giấy vàng óng, lớn giọng quát tháo như sấm nổ:
“Cấm quân kinh thành phụng mệnh hành sự! Kẻ nào là nghịch nữ Khương Nhược Lam, lập tức quỳ xuống tiếp chỉ!”
Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu run rẩy nhưng vẫn cắn răng bước lên: “Các… các vị quân gia, cháu gái tôi chỉ là một nông nữ lương thiện, ngày ngày làm ruộng phát chẩn cứu nạn dân, cớ sao các ngài lại…”
“Cút ngay!” Tên giáo úy vung roi da định quất thẳng vào mặt Tam Thúc: “Lũ thảo dân ngu muội, dám can dự vào việc triều đình sao?!”
Ngọn roi xé gió chưa kịp chạm vào người Tam Thúc thì một bàn tay như gọng kìm thép đã vươn ra, bắt chuẩn xác lấy đầu roi.
Tiêu Lập đứng đó, một tay nắm chặt ngọn roi, ánh mắt lạnh lẽo thấu xương nhìn thẳng vào tên giáo úy. Khí tức sát phạt đè nén bấy lâu nay khẽ rò rỉ ra một tia, lập tức khiến con chiến mã của tên giáo úy kinh hãi hí vang một tiếng, lùi liền mấy bước suýt hất văng chủ nhân xuống đất.
Tên giáo úy kinh hồn bạt vía, cố giật lại ngọn roi nhưng không thể nhúc nhích dù chỉ nửa phân. Hắn thẹn quá hóa giận, rút ngang thanh đao bên hông quát lớn:
“To gan! Một tên thợ săn sơn dã mà dám chống lại cấm quân sao?! Khương Thượng thư có mật sớ tấu lên Hoàng thượng: Nghịch nữ Khương Nhược Lam tự ý tích trữ ngàn thạch quân lương, cấu kết với lưu dân biên ải mưu đồ xưng hùng tạo phản! Bắt lấy ả cho ta, dùng xiềng sắt khóa lại áp giải về thiên lao kinh thành chờ ngày thẩm vấn! Kẻ nào dám cản đường, chém không tha!”
Mấy chục tên cấm quân lập tức rút đao, xiềng xích sắt loảng xoảng vung lên định xông vào.
Bà con dân làng Lạc Diệp cùng hàng ngàn nạn dân thấy vậy, chẳng ai bảo ai, lập tức cầm đòn gánh, cuốc xẻng, gậy gộc ùa tới, kết thành một bức tường người vây kín lấy Nhược Lam và Tiêu Lập.
“Không được bắt Khương cô nương!”
“Khương Tiên Cô là ân nhân cứu mạng của cả vạn người chúng ta, nàng cứu người chứ có mưu phản đâu!”
“Các ngươi là cấm quân hay là lũ cướp ngày?! Muốn bắt nàng, bước qua xác chúng ta trước!”
Không khí lập tức căng thẳng như dây đàn chực đứt, máu có thể đổ bất cứ lúc nào. Nhược Lam bước lên nửa bước, gương mặt không hề có lấy một tia hoảng sợ, chỉ có sự lạnh lùng và khinh bỉ tột cùng. Khương gia kinh thành… quả nhiên độc ác và đê tiện đến mức này! Cướp công thức tơ lụa không xong, nay lại chụp cái mũ phản quốc tày trời lên đầu nàng để danh chính ngôn thuận đoạt lấy toàn bộ điền trang và tính mạng của nàng.
Đúng lúc xung đột sắp bùng nổ, một tiếng cười lạnh lẽo vang lên từ trên nóc nhà tằm.
“Triệu Phách! Ngươi mang danh cấm quân thiên tử, nhưng lại cam tâm làm chó săn cho Khương gia từ bao giờ thế hả?!”
Một bóng đen thoăn thoắt lướt xuống như chim ưng, hạ cánh ngay giữa ranh giới hai bên. Hắc Lục trong bộ trang phục màu đen gọn gàng, tay cầm một lệnh bài bằng ngọc đen nạm vàng, giơ thẳng vào mặt tên giáo úy họ Triệu.
Tên giáo úy vừa định mắng chửi, nhưng khi ánh mắt chạm vào hình rồng cuộn khắc chìm cùng bốn chữ “Trấn Bắc Tiết Độ” trên lệnh bài, sắc mặt hắn lập tức chuyển từ đỏ tía sang trắng bệch như người chết trôi. Đầu gối hắn mềm nhũn, thanh đao trong tay rơi bộp xuống đất.
“Trấn… Trấn Bắc Soái Lệnh?! Không… không thể nào! Trấn Bắc Đại Tướng quân ba năm trước đã…”
“Đã làm sao? Đã chết trận rồi sao?”
Hắc Lục cười khẩy, giọng nói mang theo uy áp sắc bén: “Mở to mắt chó của ngươi ra mà nhìn cho rõ! Đây là Ngự ban Thiết bài do chính Thái thượng hoàng ban cho Trấn Bắc quân, nắm quyền tiền trảm hậu tấu, gặp lệnh bài như thấy Hoàng đế! Ngươi chỉ là một tên lục phẩm giáo úy cấm quân, dám đem quân tới đất phong của quân đội biên ải giương oai bắt bớ à?!”
Toàn bộ năm mươi tên cấm quân nhìn thấy soái lệnh, sợ đến mức hồn xiêu phách lạc. Bọn chúng đều là binh lính kinh kỳ, làm sao không biết đến thanh danh hiển hách và sự khủng khiếp của Trấn Bắc quân – đội quân bách chiến bách thắng đã bảo vệ biên cương Đại Ninh suốt mười năm qua?
Tên giáo úy ngã nhào khỏi lưng ngựa, quỳ rạp xuống đất, trán dập chan chát: “Mạt tướng… mạt tướng có mắt không tròng! Mạt tướng chỉ là phụng lệnh Khương Thượng thư và Binh bộ…”
“Cút ra ngoài bìa rừng đóng trại cho ta!” Hắc Lục quát lạnh: “Kẻ nào dám bước qua cổng thôn nửa bước, giết không tha!”
Đám cấm quân như được đại xá, vội vã lôi kéo nhau dắt ngựa lùi sạch ra ngoài cổng làng, không dám ngoái đầu lại nhìn.
Dân làng và nạn dân reo hò vang dội, nhưng Tiêu Lập thì không cười. Đôi mắt chàng trầm sâu như vực thẳm.
Chàng quay người lại, nhìn Nhược Lam. Gió sớm thổi qua mái tóc nàng, làm lay động vài lọn tóc mềm. Nhược Lam ngước lên nhìn chàng, ánh mắt thông tuệ của nàng đã sớm nhìn thấu tất cả.
“Đến lúc rồi, phải không?” Nàng khẽ hỏi, giọng nói êm dịu lạ thường.
Tiêu Lập siết chặt nắm đấm, khớp xương kêu lên răng rắc: “Khương gia đã sốt ruột đến mức dám điều động cấm quân. Nếu ta không hồi kinh nhổ tận gốc lũ sâu mọt này, bọn chúng sẽ như ruồi bọ bám riết lấy nàng, ngày đêm rình rập hại nàng.”
Sự nhẫn nhịn ba năm qua nơi thôn dã, dưỡng thương, tích lũy lực lượng, thu thập chứng cứ… tất cả đã đến hồi kết thúc. Chàng vốn muốn làm một nông phu bình lặng, nhưng lũ gian thần kia lại dám giương vuốt sắc về phía người con gái mà chàng trân quý hơn cả tính mạng.
Vậy thì, chàng sẽ trở lại làm vị Chiến thần sa trường, dùng đao kiếm và sấm sét để dẹp sạch bầu trời u ám cho nàng!
“Đi theo ta.” Tiêu Lập nắm tay nàng, sải bước đi về phía căn nhà gỗ nhỏ biệt lập nơi bìa rừng Lạc Nhạn.
Bên trong căn nhà gỗ thơm mùi gỗ thông, Tiêu Lập bước tới góc phòng, đẩy chiếc tủ thuốc bằng gỗ mun sang một bên, để lộ ra một cánh cửa sập dẫn xuống căn hầm bí mật. Từ dưới hầm, chàng mang lên một chiếc hòm lớn bằng gỗ lim viền đồng, trên mặt hòm khắc hình mãnh hổ gầm vang.
“Cạch.”
Khóa đồng mở ra. Nắp hòm từ từ nâng lên.
Nhược Lam khẽ nín thở.
Nằm gọn bên trong chiếc hòm là một bộ chiến giáp bằng bạc nguyên chất, từng phiến giáp được rèn tinh xảo, tỏa ra ánh sáng lạnh lẽo, uy nghiêm và cổ kính. Chiếc áo choàng bằng gấm đỏ thẫm gấp gọn gàng bên cạnh, cùng thanh trường kiếm Trảm Mã Đao đen nhánh đã từng nhuốm máu hàng vạn quân thù nơi biên ải.
Ở góc hòm, một khối huyền thiết khắc hình Bạch Hổ nằm lặng lẽ – Binh phù Trấn Bắc quân, thứ có thể điều động mười vạn thiết kỵ Đại Ninh trong chớp mắt. Và bên cạnh binh phù, là một xấp dày những bức mật thư, sổ sách được phong ấn bằng sáp đỏ.
Tiêu Lập cởi bỏ chiếc áo chàm thô mộc, để lộ thân hình vạm vỡ như tượng đồng hun với những vết sẹo trận mạc chằng chịt – minh chứng cho những năm tháng vào sinh ra tử bảo vệ giang sơn. Chàng cầm lấy từng mảnh giáp bạc, động tác thuần thục và trang nghiêm như đang thực hiện một nghi lễ thiêng liêng.
Nhược Lam bước tới, không nói một lời, lặng lẽ cầm lấy chiếc đai lưng nẹp bạc nạm ngọc bích, vòng tay qua eo chàng, cẩn thận cài chốt lại cho ngay ngắn. Nàng vuốt phẳng những nếp gấp trên chiếc áo choàng đỏ thẫm, ngước mắt lên nhìn chàng.
Một Tiêu Lập hoàn toàn khác.
Không còn là chàng thợ săn ít nói hay ngồi bên bậu cửa bẻ bắp ngô, mà là Trấn Bắc Đại Tướng quân Tiêu Triệt khí phách hiên ngang, uy chấn thiên hạ, ánh mắt lạnh lùng như sương tuyết nghìn năm, thân hình sừng sững như vách núi che chở cả đất trời.
Nhưng khi ánh mắt chàng nhìn xuống nàng, lớp băng giá ấy lập tức tan chảy thành sự dịu dàng vô bờ bến.
“Trông ta thế nào?” Tiêu Lập khẽ mỉm cười, giọng nói trầm ấm.
Nhược Lam cong khóe môi, vươn tay chỉnh lại chiếc cổ áo giáp cho chàng, giọng điệu mang theo vẻ tinh nghịch quen thuộc nhưng đáy mắt lại long lanh ánh nước:
“Rất oai phong. Đẹp trai hơn lúc mặc áo chàm đi săn nhiều. Nhưng mà… ta vẫn thích bộ dạng chàng mặc áo vải thô, vác cuốc ra đồng cuốc đất cho ta hơn.”
Tiêu Lập bật cười, đưa bàn tay to lớn bao bọc lấy gò má mịn màng của nàng, ngón tay cái khẽ v**t v* bờ môi mềm mại: “Được. Đợi ta dẹp sạch lũ gian thần trên kim loan điện, đòi lại công đạo cho nàng, ta sẽ lập tức trở về. Khi ấy, nàng muốn ta cuốc bao nhiêu mẫu ruộng, ta liền cuốc bấy nhiêu.”
Nhược Lam ngẩng đầu, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào mắt chàng:
“Tiêu Triệt, chàng nhớ kỹ cho ta. Lũ tham quan Khương gia kia không đáng để chàng đánh đổi mạng sống. Chàng đi kinh thành, mang theo công lý, mang theo sự thật, nhưng nhất định phải mang cả một Tiêu Lập nguyên vẹn trở về đây. Ngô ngoài bãi sắp đến kỳ thụ phấn chéo đợt hai rồi, không có chàng phụ giúp, ta bận không xuể đâu đấy.”
Nghe lời dặn dò vừa chân thành vừa đậm chất “nông dân” ấy, trái tim Tiêu Lập như bị một dòng nước ấm rót đầy. Chàng cúi đầu, đặt lên trán nàng một nụ hôn sâu lắng, nóng bỏng như lời thề khắc cốt ghi tâm.
“Ta hứa với nàng.”
Tiêu Lập quay người, nhấc chiếc hòm mật phong chứa toàn bộ chứng cứ tội ác của Khương Thượng thư giao cho Hắc Lục, rồi bước ra khỏi nhà gỗ.
Bên ngoài, con chiến mã Ô Vân Đạp Tuyết – con thần mã đen tuyền bờm dài như mây đen, bốn vó trắng như tuyết – đã được dắt ra, hí vang một tiếng dài vang vọng núi rừng. Mười tên thiết vệ tinh nhuệ nhất của Trấn Bắc quân trong trang phục giáp đen đã tề tựu đông đủ, quỳ một gối nghênh đón chủ soái.
Tiêu Lập vung áo choàng đỏ, tung người nhảy lên lưng ngựa. Chiến bào giáp bạc dưới ánh mặt trời rực rỡ lóe lên những luồng hàn quang chói lòa. Chàng nhìn Nhược Lam lần cuối, gật đầu dứt khoát:
“Xuất phát!”
“Vù!”
Mười một kỵ binh như những tia chớp bạc xé toạc màn sương sớm, lao vun vút về hướng kinh thành Thạnh An bằng con đường dịch trạm khẩn cấp “Bát bách lý gia cấp”.
Suốt dọc đường phi ngựa ngày đêm không nghỉ, Tiêu Lập tận mắt chứng kiến thảm cảnh của sáu châu phương Bắc. Đất đai nứt nẻ thành từng kẽ nứt sâu hoắm, đồng ruộng trơ trọi chỉ còn gốc rạ cháy khô, xác gia súc chết khát phơi trắng bên vệ đường. Từng đoàn người đói rách dắt díu nhau đi trong tuyệt vọng, tiếng khóc than ai oán ngút trời.
Thế nhưng, các kho lương của nha môn địa phương lại đóng chặt cửa, dán niêm phong cẩn mật, trong khi các tửu lầu và thương thuyền của Khương gia lại âm thầm tuồn gạo cám pha trấu ra bán với giá cắt cổ một lượng bạc một đấu!
Càng nhìn thấy cảnh tượng ấy, sát khí trong ngực Tiêu Lập càng cuộn trào như núi lửa chực phun trào. Lũ sâu mọt chốn đình đài kia, vì lòng tham không đáy mà sẵn sàng giẫm đạp lên sinh linh của hàng vạn con người, lại còn trơ tráo dùng cái chết của bá tánh để làm bàn đạp thanh trừng kẻ vô tội!
Hai ngày một đêm, ngựa thay ba lần tại các dịch trạm bí mật, đoàn kỵ binh giáp bạc đã vượt ngàn dặm xa xôi, áp sát cổng thành Thạnh An khi ánh bình minh của ngày đại triều vừa le lói.
*
Điện Kim Loan.Nơi quyền lực tối cao của Đại Ninh vương triều, hàng trăm cây cột gỗ lim thếp vàng sừng sững nâng đỡ mái vòm chạm trổ rồng bay phượng múa. Lư hương trầm nghi ngút tỏa khói, nhưng không khí bên trong đại điện lại ngột ngạt và lạnh lẽo đến thấu xương.
Trên ngai vàng cửu ngũ chí tôn, Ninh Viễn Đế – vị hoàng đế ngoài ngũ tuần với khuôn mặt hốc hác, đôi mày nhíu chặt – đang mệt mỏi nghe các quan viên tấu trình. Đại hạn ba tháng nay khiến ngân khố cạn kiệt, sớ tấu xin cứu trợ từ sáu châu phương Bắc chất cao như núi, mà nạn dân thì ngày một đông, bạo loạn chực chờ bùng phát.
Đúng lúc đó, Khương Thượng thư trong bộ triều phục nhất phẩm đỏ thẫm, tay cầm hốt ngà, từ tốn bước ra khỏi hàng quan lại. Lão quỳ mọp xuống nền ngọc, giọng nói run rẩy đầy bi phẫn nhưng khóe môi lại khẽ nhếch lên một nụ cười đắc ý:
“Khởi bẩm Hoàng thượng! Vi thần có việc hệ trọng liên quan đến an nguy xã tắc, không thể không tấu!”
Ninh Viễn Đế xoa thái dương, uể oải phất tay: “Khương ái khanh có việc gì, bình thân rồi nói.”
Khương Thượng thư dập đầu một cái thật kêu, nước mắt lưng tròng, diễn một màn “đại nghĩa diệt thân” xuất thần nhập hóa:
“Hoàng thượng vạn tuế! Mấy tháng nay phương Bắc đại hạn, triều đình dốc lòng cứu tế nhưng tình hình vẫn nguy khốn. Vi thần vừa nhận được mật báo khẩn cấp từ huyện Vân Khê: Nghịch nữ Khương Nhược Lam – đứa con gái bất hiếu từng bị Khương gia trục xuất vì tâm thuật bất chính – nay đang cấu kết với các thế lực mờ ám nơi sơn dã, tự ý mở năm gian đại kho lương, tích trữ hơn vạn thạch lương thảo bất hợp pháp!”
Cả triều đình xôn xao. Các quan viên đưa mắt nhìn nhau, tiếng bàn tán nổi lên như ong vỡ tổ.
Khương Thượng thư ngẩng đầu lên, giọng nói đanh thép, từng lời như nhát dao đoạt mạng:
“Một thôn nữ nghèo hèn, lấy đâu ra vạn thạch lương thảo nếu không phải là ngầm cấu kết với giặc ngoài tích trữ quân lương?! Đáng sợ hơn nữa, ả dùng số lương thảo đó mua chuộc lòng người, tụ tập hơn một vạn lưu dân hung hãn quanh vùng núi Lạc Nhạn, tự xưng là ‘Khương Tiên Cô’! Dân chúng quanh vùng u mê chỉ biết đến Tiên cô mà không biết đến thiên tử! Đây rõ ràng là hành vi mượn danh cứu đói để mưu đồ xưng hùng tạo phản, họa loạn giang sơn!”
Lão dâng cao bản tấu sớ, dập đầu thảm thiết: “Vi thần tuy là phụ thân của ả, nhưng trước đại nghĩa quốc gia, tuyệt đối không dám bao che! Vi thần đã phái cấm quân hỏa tốc tới bắt giữ nghịch nữ. Cúi xin Hoàng thượng lập tức hạ chỉ tru di tam tộc kẻ phản nghịch, tịch thu toàn bộ kho lương và điền trang phản loạn sung công quỹ, để răn đe kẻ gian, ổn định lòng dân!”
Ninh Viễn Đế nghe vậy, sắc mặt lập tức biến đổi, cơn giận dữ bốc lên ngùn ngụt: “To gan! Một đứa thứ nữ bị phế truất mà dám làm loạn đến mức này sao?! Tích trữ quân lương, mưu đồ xưng vương nơi biên ải, đây là tội chém đầu!”
Phe cánh của Khương Thượng thư lập tức bước ra phụ họa:
“Hoàng thượng anh minh! Khương Thượng thư đại nghĩa diệt thân, thật là tấm gương sáng của triều đình!”
“Xin Hoàng thượng hạ chỉ xử trảm thị chúng nghịch nữ Khương Nhược Lam!”
Đúng lúc Ninh Viễn Đế chuẩn bị vung bút phê chuẩn, Khâm sai đại thần Tề Hoằng – người vừa từ Phủ thành Vân Châu cấp tốc trở về kinh – vội vã bước ra khỏi hàng, quỳ sụp xuống:
“Hoàng thượng! Xin người hãy khoan hạ chỉ! Vi thần vừa từ Vân Châu trở về, việc này có uẩn khúc tày trời!”
Khương Thượng thư liếc xéo Tề Hoằng, cười lạnh: “Tề Khâm sai, ngươi muốn bao che cho kẻ phản nghịch sao? Ngươi có biết tội đồng lõa là gì không?!”
Tề Hoằng không thèm nhìn lão, ngẩng cao đầu dõng dạc tấu: “Hoàng thượng! Khương Nhược Lam tuyệt đối không mưu phản! Nàng là một kỳ tài nông học, vạn thạch ngô ngọt kia là do chính tay nàng cải tạo đất sỏi đá, sáng chế kỹ thuật tưới tiêu mà bội thu! Khi hạn hán ập đến, các quan viên địa phương đóng cửa kho lương, duy chỉ có nàng mở kho nấu cháo phát chẩn, cứu sống hàng vạn nạn dân vô tội! Bá tánh gọi nàng là Tiên cô vì lòng biết ơn, chứ tuyệt đối không có dã tâm xưng vương! Khương Thượng thư đây là muốn vu oan giá họa để cướp đoạt bí phương nông nghiệp và sản nghiệp của nàng!”
“Câm miệng!” Khương Thượng thư quát lớn: “Một đứa con gái hai mươi ba tuổi thì biết gì về nông học?! Ngươi nói ả tự trồng được vạn thạch lương thực trên đất sỏi đá, ai tin được?! Hoàng thượng, xin người chớ nghe lời xúi giục của kẻ gian…”
“Ầm!”
Một tiếng động kinh thiên động địa bỗng nhiên vang lên từ phía cổng chính của điện Kim Loan!
Tiếng kim loại va đập dữ dội, kèm theo tiếng thét kinh hoàng của thị vệ canh điện:
“Có người xông vào điện! Mau ngăn lại… A!”
“Keng! Keng! Rầm!”
Cánh cửa gỗ dát vàng nặng ngàn cân của điện Kim Loan bị một lực đạo kinh hồn đẩy bật ra hai bên, đập mạnh vào tường gạch phát ra tiếng vang đinh tai nhức óc. Ánh nắng rực rỡ buổi sớm từ bên ngoài tràn vào đại điện, chiếu rọi một bóng hình cao lớn sừng sững như thiên thần giáng thế.
Toàn bộ văn võ bá quan giật nảy mình, đồng loạt quay đầu lại.
Dưới ánh mặt trời chói lòa, một nam nhân thân khoác chiến bào giáp bạc sáng loáng, áo choàng đỏ thẫm tung bay phần phật theo từng bước chân. Đôi ủng hộ tâm bằng da trâu nện trên nền ngọc phát ra những tiếng “cộp, cộp” nặng nề, dứt khoát, mang theo uy áp sát phạt ngút trời của một bậc chiến thần vừa bước ra từ biển máu sa trường.
Mũ giáp bạc che nửa khuôn mặt, nhưng đôi mắt sắc như chim ưng cùng khí thế bức người kia lập tức khiến cả đại điện rơi vào một sự im lặng chết chóc. Hàng trăm thị vệ cấm quân cầm giáo đứng quanh run rẩy, không một ai dám tiến lên cản bước chàng.
Khi bóng người ấy bước qua ngưỡng cửa, tiến vào giữa đại điện, ánh sáng rọi rõ dung mạo cương nghị, góc cạnh như tạc bằng đá hoa cương.
Ninh Viễn Đế đang ngồi trên ngai vàng bỗng nhiên run rẩy đứng bật dậy, hai mắt trợn tròn, chén trà ngọc trên tay rơi xuống vỡ tan tành trên bậc thềm:
“Ngươi… Ngươi là…”
Khương Thượng thư nhìn thấy khuôn mặt ấy, đồng tử co rút lại đến cực hạn, toàn thân cứng đờ như bị sét đánh ngang tai, miệng lắp bắp không thành tiếng:
“Tiêu… Tiêu Triệt?! Ngươi… Ngươi chưa chết sao?!”
Tiêu Lập – hay chính là Trấn Bắc Đại Tướng quân Tiêu Triệt – không thèm liếc nhìn Khương Thượng thư lấy nửa phần. Chàng sải bước tới trước ngự tiền, một gối quỳ xuống, áo giáp bạc va chạm leng keng dứt khoát:
“Mạt tướng Trấn Bắc Đại Tướng quân Tiêu Triệt, tham kiến Hoàng thượng! Ngô hoàng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!”
Giọng nói trầm hùng vang vọng khắp các xà nhà của điện Kim Loan, như một hồi chuông đồng giáng thẳng vào tâm can của tất cả mọi người.
“Trấn Bắc Đại Tướng quân còn sống! Vị thần hộ quốc của Đại Ninh còn sống!” Một vị lão tướng quân râu tóc bạc phơ kích động run rẩy, nước mắt trào ra.
Ninh Viễn Đế bước xuống ba bậc thềm ngọc, giọng nói nghẹn ngào vì kinh ngạc lẫn vui mừng: “Tiêu ái khanh! Ngươi… Ba năm trước trận huyết chiến Nhạn Môn Quan, Binh bộ báo ngươi trúng độc tử trận, thi thể rơi xuống vực sâu… Ngươi thực sự còn sống sao?!”
“Tạ ơn Hoàng thượng lo lắng, mạt tướng mạng lớn, được người cứu giúp, dưỡng thương ba năm nơi sơn dã, nay mới có thể trở về diện thánh!” Tiêu Triệt đứng thẳng dậy, thân hình cao lớn uy nghiêm bao trùm cả đại điện.
Chàng bỗng quay ngoắt lại, ánh mắt như hai lưỡi dao sắc lạnh ghim thẳng vào khuôn mặt đang cắt không còn giọt máu của Khương Thượng thư.
“Thế nhưng, mạt tướng vừa trở về kinh thành, liền nghe thấy có kẻ đang dùng chiếc lưỡi không xương của mình để đổi trắng thay đen, vu oan cho ân nhân cứu mạng của ta, hãm hại người có công cứu giúp hàng vạn nạn dân vô tội!”
Khương Thượng thư lùi liền mấy bước, mồ hôi lạnh vã ra như tắm, giọng nói run rẩy: “Tiêu… Tiêu Tướng quân, ngươi nói bậy gì đó?! Khương Nhược Lam tích trữ quân lương, mưu đồ tạo phản, chứng cứ rõ ràng…”
“Chứng cứ rõ ràng?!”
Tiêu Triệt cười lạnh một tiếng, nụ cười tràn ngập vẻ khinh miệt và sát khí. Chàng vung tay, Hắc Lục lập tức bước vào điện, mang theo chiếc hòm sắt nặng trịch ném thẳng xuống nền ngọc trước mặt Khương Thượng thư!
“Rầm!”
Chiếc hòm mở toang, hàng chục cuộn sổ sách, thư từ mật phong rơi lả tả trên mặt đất.
Tiêu Triệt rút một bức thư được niêm phong bằng sáp đỏ có dấu ấn hoa sói của Bắc Địch, giơ cao trước mặt bá quan văn võ, giọng nói đanh thép vang như sấm truyền:
“Khương Thượng thư! Ba năm trước tại Nhạn Môn Quan, ai là kẻ đã bí mật gửi bức thư này cho Thống soái Bắc Địch, tiết lộ tuyến đường hành quân của Trấn Bắc quân, khiến mười vạn thiết kỵ của ta bị mai phục trong hẻm núi tuyết, bản thân ta trúng Băng Phách Hàn Độc suýt mất mạng?!”
“Oanh!”
Lời vừa dứt, cả triều đình như nổ tung! Thông đồng với ngoại bang, bán đứng quân đội quốc gia – đây là tội phản quốc tru di cửu tộc!
Khương Thượng thư ngã quỵ xuống đất, mặt xám ngoét: “Vu cáo! Đây là vu cáo! Lão thần một lòng vì nước…”
“Vu cáo sao?!” Tiêu Triệt bước tới một bước, chân dẫm lên tà áo triều phục của lão, rút ra một tập sổ sách dày cộp ném thẳng vào mặt lão:
“Vậy số bạc này thì sao?! Trong ba tháng qua, triều đình cấp mười vạn thạch lương thực và hai mươi vạn lượng bạc cứu tế cho sáu châu phương Bắc. Ngươi cùng đồng đảng trong Binh bộ và Hộ bộ đã cấu kết với nhau, bòn rút hơn bảy vạn thạch lương thực, vận chuyển về các kho tư nhân của Khương gia, rồi bán ra chợ đen với giá cắt cổ một lượng bạc một đấu! Từng chuyến xe, từng con thuyền, từng chữ ký nhận bạc của quản gia Khương phủ các ngươi đều nằm rõ ràng trong cuốn sổ cái này!”
Tiêu Triệt quay sang Ninh Viễn Đế, chắp tay dõng dạc tấu:
“Khởi bẩm Hoàng thượng! Ngoài kia, hàng vạn bá tánh phương Bắc vì không có một hạt gạo cứu tế mà phải ăn rễ cây, vỏ trấu, chết đói la liệt khắp các ngả đường! Trong khi đó, kho bạc ngầm của Khương phủ lại chất đầy bạc trắng thấm máu của dân nghèo! Lũ sâu mọt này sợ Khâm sai Tề Hoằng mang sổ sách về hạch tội, sợ việc biển thủ bại lộ, nên mới đê tiện dựng chuyện, vu oan cho Khương Nhược Lam tội mưu phản!”
Từng lời, từng chữ của Tiêu Triệt như những nhát búa ngàn cân nện thẳng vào sự thật tr*n tr**. Các quan lại trong triều kinh hoàng nhìn đống sổ sách và chứng từ rơi vãi, không một ai dám hé răng nửa lời.
Tiêu Triệt ngẩng cao đầu, ánh mắt tràn đầy sự kiêu hãnh và yêu thương khi nhắc đến người con gái nơi thôn dã:
“Khương Nhược Lam bị Khương phủ ruồng bỏ, tay trắng về quê cũ thôn Lạc Diệp. Nàng dựa vào đôi bàn tay lao động chân chính, dùng tri thức nông học cải tạo đất chua phèn, gieo trồng giống ngô ngọt mới chịu hạn phi thường, dẫn nước suối nuôi dưỡng mùa màng! Khi đại hạn ập đến, nha môn đóng cửa, chính nàng đã mở năm gian kho lương tích cóp của mình, ngày đêm nấu cháo cứu sống hơn một vạn nạn dân chạy nạn!”
Chàng rút từ trong ngực áo ra một chiếc khăn tay bọc cẩn thận, mở ra để lộ một bắp ngô hạt vàng óng ánh như ngọc, to lớn và căng mọng gấp ba lần ngô bình thường, cùng một tờ biểu vạn dân được ký bằng hàng ngàn dấu tay điểm chỉ đỏ chót:
“Đây là ngô ngọt do nàng tự tay lai tạo giống! Đây là biểu vạn dân do hơn một vạn nạn dân phương Bắc rơi nước mắt điểm chỉ cảm tạ! Một người con gái nhân từ, dùng trí tuệ cứu sống vạn dân, gánh vác việc cứu trợ mà triều đình và lũ tham quan này bỏ bê, vậy mà dưới miệng lưỡi của Khương Thượng thư lại biến thành nghịch tặc mưu phản sao?!”
Tiêu Triệt quỳ một gối, dâng bắp ngô và biểu vạn dân lên quá đầu, giọng nói vang vọng khắp đại điện:
“Nếu một người cứu sống vạn dân như nàng bị coi là có tội, thì Tiêu Triệt ta xin dâng trả lại Binh phù Bạch Hổ này, cùng nàng chịu tội chém đầu!”
Lời tuyên bố đanh thép, hùng hồn và ngập tràn khí phách che chở ấy khiến toàn bộ triều đình chấn động tâm can.
Nội thị run rẩy mang tập sổ sách, bức thư mật và biểu vạn dân dâng lên ngự án.
Ninh Viễn Đế lật từng trang sổ sách, nhìn những con số biển thủ lương cứu tế kinh hoàng, nhìn bức thư có dấu ấn riêng của Khương Thượng thư gửi cho Bắc Địch, rồi nhìn sang biểu vạn dân chi chít vết máu và dấu tay của bá tánh cơ hàn.
Sắc mặt của bậc đế vương từ tái nhợt chuyển sang đỏ gay, rồi tím bầm vì một cơn thịnh nộ chưa từng có trong lịch sử triều Ninh. Ngực người phập phồng dữ dội, gân xanh trên trán nổi lên cuồn cuộn.
“Rầm!”
Một tiếng nổ kinh hoàng vang lên!
Ninh Viễn Đế vung long bào, đập nát chiếc nghiên mực bằng ngọc bích thượng hạng trên ngự án xuống đất vỡ tan tành thành muôn mảnh, mực đen văng tung tóe khắp thềm rồng!
Người đứng bật dậy, chỉ thẳng long chỉ vào mặt Khương Thượng thư đang nằm rạp dưới đất, tiếng gầm vang như sấm sét xé toạc bầu trời đại điện:
“Lũ sâu mọt hại nước hại dân! Lũ nghịch tặc to gan lớn mật! Trẫm coi ngươi là trọng thần tâm phúc, giao phó kho lương cứu tế muôn dân, vậy mà ngươi dám thông đồng ngoại bang, bòn rút mồ hôi nước mắt của nạn dân, đẩy hàng vạn con dân của trẫm vào chỗ chết đói chết rét!”
Ninh Viễn Đế tức giận đến mức toàn thân run rẩy, giọng nói rít qua kẽ răng mang theo sát khí ngút trời:
“Người đâu! Lập tức l*t s*ch mũ áo, tước bỏ toàn bộ phẩm phục nhất phẩm của Khương Trọng Hoa! Phái Cấm quân phong tỏa toàn bộ Thượng thư phủ, bắt giam toàn bộ gia quyến Khương thị không chừa một ai, tống vào thiên lao trọng phạm chờ ngày xét xử! Giao vụ án này cho Trấn Bắc quân và Đại Lý Tự đồng thẩm tra xét, kẻ nào dính líu, chém không tha!”
“Hoàng thượng tha mạng! Hoàng thượng tha mạng! Lão thần bị oan…” Khương Thượng thư gào thét thảm thiết, nhưng chiếc mũ cánh chuồn và áo gấm trên người lão đã bị thị vệ cấm quân thô bạo lột phăng ra. Lão bị lôi kéo xềnh xệch ra khỏi đại điện như một con chó chết trong sự khinh bỉ của toàn thể triều thần.
Giữa đại điện ngập tràn ánh nắng ban mai, Tiêu Triệt đứng thẳng người dậy. Chiến bào giáp bạc của chàng tỏa sáng rực rỡ, uy phong lẫm liệt không một hạt bụi trần.
Chàng khẽ đưa mắt nhìn về phương Nam xa xôi – nơi có thung lũng Lạc Diệp xanh ngắt, có những bắp ngô vàng óng trĩu cành, và có người con gái đang mỉm cười chờ chàng trở về. Giông bão kinh thành đã tan, bầu trời công lý đã rạng rỡ trở lại.
Tiêu Triệt rảo bước xuống những bậc đá thềm sâu hun hút của thiên lao Đại Lý Tự. Không khí dưới lòng đất ngột ngạt, tanh nồng mùi rỉ sắt, ngai ngái hơi ẩm mốc của rơm rạ mục nát và u ám một sắc màu tử khí. Ánh đuốc gắn trên vách đá chập chờn rọi bóng thân hình cao lớn, vạm vỡ của chàng in dài lên những bức tường đá xám xịt đóng đầy rêu phong.
Chàng đã cởi bỏ bộ chiến bào giáp bạc nhuốm bụi đường trường, khoác lên mình trường bào huyền sắc viền kim tuyến uy nghiêm của bậc thống soái. Thế nhưng, sát khí lạnh lẽo cùng uy áp bức người tích tụ qua mười năm nơi chiến trường đẫm máu vẫn vẹn nguyên, khiến đám ngục tốt hai bên hành lang chỉ dám nép mình sát vách, nín thở quỳ rạp xuống đất khi nghe tiếng ủng da nện từng bước vững chãi trên nền đá hoa cương.
Đại Lý Tự Khanh Cố Hoài An đi sát phía sau chàng, hai tay cẩn trọng ôm sấp công văn và khẩu cung đã điểm chỉ đỏ chót, giọng điệu cung kính đến mức khúm núm:
“Khởi bẩm Tiêu đại tướng quân, theo lệnh của ngài và thánh chỉ của bệ hạ, Đại Lý Tự cùng Trấn Bắc quân đã suốt đêm thẩm vấn xong toàn bộ đầu sỏ. Toàn bộ sổ sách bí mật giấu dưới hầm ngầm phủ Thượng thư, thư từ qua lại với vương gia Bắc Địch, cùng danh sách hơn bốn mươi quan lại đồng mưu ăn chia bảy vạn thạch lương cứu tế… tất cả đều đã rành rành như gương soi, không một tên nào chối cãi được nửa lời.”
Tiêu Triệt khẽ gật đầu, ánh mắt sắc bén như chim ưng nhìn thẳng về phía buồng giam biệt lập kiên cố nhất nằm ở cuối dãy hành lang tăm tối. Nơi đó, tiếng xích sắt rổn rảng thỉnh thoảng lại va vào nhau chan chát, kèm theo những tiếng r*n r* thảm hại như loài dã thú bị dồn vào đường cùng.
Sau song sắt rỉ sét, một bóng người co ro trong góc tối. Đó từng là Khương Trọng Hoa – Lại bộ Thượng thư quyền khuynh triều dã, kẻ chỉ cần một cái phất tay là có thể định đoạt tiền đồ của hàng trăm sĩ tử, thao túng vận mệnh của cả một dòng tộc. Giờ đây, chiếc áo gấm thêu hoa lộng lẫy đã bị l*t s*ch, thay vào đó là bộ tử phục thô kệch dơ dáy bốc mùi xú uế. Mái tóc hoa râm từng được chải chuốt tỉ mỉ, cài trâm ngọc quý giá nay rũ rượi, bết dính vào khuôn mặt hốc hác, nhợt nhạt chỉ sau một đêm kinh hoàng.
Nghe thấy tiếng bước chân dừng lại trước cửa ngục, Khương Trọng Hoa giật mình ngước lên. Đôi mắt ti hí đục ngầu, giăng đầy tia máu của lão chạm phải ánh nhìn băng lãnh thấu tận xương tủy của Tiêu Triệt. Lão như một kẻ chết đuối vớ được cọc rơm, run lẩy bẩy bò rạp trên nền đất bẩn thỉu, hai bàn tay cáu ghét vươn qua khe hẹp chấn song sắt, cố níu lấy gấu áo của Tiêu Triệt nhưng bị chàng lạnh lùng lùi lại một bước né tránh.
“Tiêu… Tiêu soái! Tiêu đại tướng quân!” Giọng Khương Trọng Hoa khàn đặc, vỡ vụn ra từng hồi thảm thiết. “Tha mạng… Xin người niệm tình lão phu từng có chân trong triều đình, niệm tình… niệm tình phụ mẫu của Nhược Lam từng là người Khương gia mà mở lượng khoan hồng! Lão phu hồ đồ, lão phu bị đám gian nhân Bắc Địch ép buộc… Bảy vạn thạch lương đó, lão phu chưa hề tiêu một đồng bạc bán ra, đều cất giấu nguyên vẹn… Xin tướng quân tâu với bệ hạ tha cho lão một con đường sống! Dù giáng làm thứ dân, đi đày biên ải lão cũng cam lòng!”
Tiêu Triệt đứng sừng sững như một pho tượng đá ngàn năm, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười mỉa mai, lạnh lẽo đến tận cùng:
“Khương Trọng Hoa, ngươi mở miệng ra là cầu xin tha mạng, vậy ba năm trước tại Nhạn Môn Quan, khi ngươi gửi mật thư tiết lộ lộ trình hành quân của ta cho kỵ binh Bắc Địch, ngươi có nghĩ đến mạng sống của ba vạn thiết kỵ Trấn Bắc quân hay không?”
Khương Trọng Hoa toàn thân cứng đờ, mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm trán.
Tiêu Triệt tiến thêm nửa bước, thanh âm trầm thấp vang lên như sấm rền giữa ngục tối:
“Ba vạn tướng sĩ trung trinh chôn thây trong bão tuyết biên ải, thi cốt không còn nguyên vẹn. Bản thân ta trúng Băng Phách Hàn Độc, ngày đêm chịu nỗi đau đớn xé da róc thịt, như ngàn vạn mũi kim đâm vào tâm can. Khi ấy, ngươi đang ngồi trong lầu son gác tía đếm bạc vàng do ngoại bang ban thưởng! Rồi đến trận đại hạn năm nay, sáu châu mười sáu huyện phương Bắc đất nứt nẻ, cỏ cây chết khô, dân chúng ăn vỏ cây rễ cỏ, bồng bế con thơ chết đói la liệt vệ đường, ngươi lại cấu kết tham quan phong tỏa kho lương triều đình, bòn rút bảy vạn thạch gạo cứu mệnh mang ra chợ đen bán với giá cắt cổ! Ngươi có còn mang trái tim của một con người hay không? Ngươi xứng đáng được sống sao?”
Từng câu, từng chữ của Tiêu Triệt tựa như những nhát búa ngàn cân giáng thẳng vào lương tri giả tạo của Khương Trọng Hoa. Lão run bắn lên, hàm răng va vào nhau cầm cập, hai mắt dại đi vì tuyệt vọng. Lão hiểu rằng, trước mặt người đàn ông này, mọi lời ngụy biện hay xin xỏ đều chỉ là trò hề lố bịch.
Đúng lúc đó, từ buồng giam bên cạnh – nơi giam giữ nữ quyến Khương gia – vang lên tiếng gào thét thất thanh, the thé và hỗn loạn.
“Mở cửa ra! Lũ cẩu nô tài các ngươi có biết ta là ai không?! Ta là Khương Ngọc Trinh! Ta là tương lai mẫu nghi thiên hạ! Ta có mệnh phượng hoàng! Hoàng thượng… Hoàng thượng bị các ngươi che mắt rồi!”
Cánh cửa ngục bằng gỗ sắt nặng nề rung chuyển dữ dội dưới những cú đập điên cuồng. Tiêu Triệt khẽ liếc mắt sang. Qua song sắt, một bóng dáng tiều tụy hiện ra. Khương Ngọc Trinh – kẻ từng được ca tụng là tài nữ kinh kỳ, dung nhan thanh tú, đoan trang thoát tục – nay xiêm y rách mướn, tóc tai bù xù như một mụ điên. Những chiếc móng tay sơn hồng ngọc quý phái ngày nào giờ đã gãy vụn, rướm máu vì cào cấu vào cánh cửa gỗ lim thô ráp.
Vừa trông thấy góc nghiêng tuấn tú ngời ngời cùng khí phách sa trường lẫm liệt của Tiêu Triệt, đôi mắt Khương Ngọc Trinh bỗng lóe lên một tia hy vọng điên cuồng. Ả bổ nhào tới sát mép cửa sắt, nước mắt nước mũi giàn giụa trên khuôn mặt nhơ nhuốc, cất giọng nức nở bi thương:
“Tiêu tướng quân! Tiêu Triệt ca ca! Là muội đây! Ngọc Trinh đây mà! Huynh hãy nhìn muội đi! Muội bị oan… Tất cả mọi chuyện thông đồng ngoại bang, tham ô lương thực đều là do phụ thân một tay sắp đặt, muội chỉ là phận nữ nhi chốn khuê phòng, nào hay biết gì về triều chính! Huynh cứu muội với! Muội không muốn chết trong cái hầm ngục bẩn thỉu này đâu!”
Ả bám chặt lấy chấn song, giọng nói chuyển từ van xin sang trơ trẽn, ánh mắt đong đưa một vẻ cầu khẩn đáng thương:
“Chỉ cần huynh cứu muội ra ngoài, muội nguyện ý làm thiếp hầu hạ huynh suốt đời! Huynh là chiến thần cái thế, muội là đệ nhất tài nữ kinh thành, chúng ta mới là một đôi trời sinh! Con ả Khương Nhược Lam thô lỗ quê mùa kia làm sao xứng đáng đứng bên cạnh huynh được? Nó chỉ là một đứa phế vật làm ruộng dơ dáy, nó không xứng…”
“Câm miệng!”
Một tiếng quát sắc lạnh như băng thép vang lên cắt ngang lời ả. Tiêu Triệt quay phắt người lại, ánh mắt tràn ngập sát khí nồng nặc khiến Khương Ngọc Trinh sợ hãi ngã ngửa ra sau mông, nuốt ngược hơi thở vào trong lồng ngực.
Tiêu Triệt nhìn ả bằng ánh mắt khinh bỉ tột cùng, thanh âm lạnh buốt như ngọn gió mùa đông:
“Ngươi dám lấy bản thân mình ra so sánh với Nhược Lam sao? Ngươi mà cũng xứng nhắc đến tên nàng?”
Ký ức về người con gái nhỏ nhắn nơi thôn Lạc Diệp ùa về trong tâm trí Tiêu Triệt, sưởi ấm cõi lòng đang tràn ngập nộ khí của chàng. Chàng nhớ tới một Nhược Lam kiên cường, sau khi bị gia tộc này trục xuất về quê cũ với hai bàn tay trắng và căn nhà tranh dột nát, chưa từng một lần oán trời trách đất. Nàng xắn tay áo lội bùn, nhổ cỏ, đôi bàn tay mảnh mai đầy vết chai sần rướm máu vì cuốc đất sỏi, nhưng nụ cười vẫn luôn rạng rỡ như nắng mai. Nàng dùng kiến thức nông học phi thường tạo ra những bắp ngô ngọt căng mọng cứu đói muôn dân; nàng thức trắng đêm hái thuốc, đốt lửa sưởi ấm, giải độc cứu sống tính mạng chàng; nàng mở kho lương, dựng vạc cháo ấm cưu mang vạn nạn dân cơ hàn.
Còn kẻ trước mặt này là gì? Một kẻ chỉ biết ỷ lại vào gia thế, dùng mưu mô hèn hạ cướp đoạt công sức của người khác, ngoài mặt thì tỏ vẻ từ bi thánh thiện nhưng bên trong lại thối rữa, độc ác đến tận cùng tủy xương. Thậm chí khi họa diệt môn ập đến, ả không ngần ngại đạp đổ cả phụ thân ruột thịt để mưu cầu một con đường sống hèn mọn.
“Nhược Lam dựa vào sức lao động chân chính và tấm lòng nhân ái để cứu sống vạn dân, được người người kính trọng xưng tụng là tiên cô,” Tiêu Triệt lạnh lùng nhìn thẳng vào đôi mắt dại đi của Khương Ngọc Trinh. “Còn ngươi, tâm địa rắn rết, lòng tham không đáy, vì chút danh vọng hão huyền mà không từ thủ đoạn cướp bóc, hãm hại người vô tội. Một hạt bụi trên vạt áo thô của nàng cũng sạch sẽ, cao quý hơn vạn lần cái tâm hồn mục ruỗng của ngươi!”
Chàng quay sang Cố Hoài An, dứt khoát phất tay áo:
“Cố đại nhân, chuẩn bị mở triều đường xét xử. Loại người này, nhiều lời thêm một câu chỉ làm bẩn miệng lưỡi.”
“Tuân lệnh Tiêu soái!” Cố Hoài An chắp tay nhận lệnh.
Tiêu Triệt cất bước đi thẳng ra khỏi cửa ngục, bỏ lại sau lưng tiếng gào khóc ai oán, tuyệt vọng và tiếng chửi rủa điên dại của Khương Ngọc Trinh đang vang vọng khắp hành lang u tối.
*
Giờ Thìn ba khắc, sương mai tan biến, ánh mặt trời chói chang phủ rợp khắp kinh thành Thạnh An. Trước cổng Đại Lý Tự và ngã tư Thái Thị, biển người đông nghẹt chật ních như nêm cối. Hàng vạn bá tánh, từ các bậc bô lão râu tóc bạc phơ cho đến đám thanh niên, phụ nữ bồng con nhỏ, đều đổ dồn về pháp trường. Tin tức về việc vạch trần vụ án tham ô cứu tế chấn động và mưu phản của Lại bộ Thượng thư Khương Trọng Hoa đã lan truyền khắp kinh kỳ với tốc độ chóng mặt.
Tại điện Kim Loan, không khí trang nghiêm và túc mục bao trùm khắp không gian. Văn võ bá quan đứng ngay ngắn hai bên tả hữu, không một ai dám ho he thở mạnh.
Ninh Viễn Đế ngự trên ngai vàng rồng cuộn, long nhan uy nghi, sắc mặt lạnh lùng tựa băng sương. Trước thềm rồng, Khương Trọng Hoa cùng hơn hai mươi trọng phạm bị trói chặt bằng xích sắt thô, quỳ rạp dưới đất, toàn thân run rẩy như lá rụng trước gió bão.
Đại Lý Tự Khanh Cố Hoài An bước ra giữa điện, dập đầu tâu trình:
“Khởi bẩm Hoàng thượng, tang chứng vật chứng vụ án th*m nh*ng lương cứu tế sáu châu phương Bắc và thông đồng ngoại bang đã được điều tra minh bạch. Khẩu cung của các phạm nhân đã điểm chỉ đầy đủ, không một ai oan ức. Kính xin Hoàng thượng định đoạt thánh tài!”
Ninh Viễn Đế nhìn xuống đống sổ sách và chứng cứ chất cao như núi trên ngự án, ngọn lửa giận dữ trong mắt lại bùng lên ngùn ngụt. Người đứng bật dậy, long bào phất mạnh trong gió sớm, cất giọng đanh thép vang vọng khắp đại điện:
“Trẫm phụng mệnh trời trị vì thiên hạ, coi muôn dân như con đỏ! Bắc cương xảy ra đại hạn, trăm họ lầm than đói khổ, triều đình dốc cạn quốc khố cứu tế, vậy mà lũ sâu mọt các ngươi lại dám đem sinh mạng của con dân ra làm bàn đạp mưu lợi riêng, thông đồng với sài lang ngoại bang, hãm hại trung lương! Tội ác tày trời ấy, trời không dung, đất không tha!”
Người rút một chiếc thẻ lệnh bài sơn son đỏ chót trên bàn ngự, ném mạnh xuống thềm điện rồng:
“Truyền chỉ của trẫm! Khương Trọng Hoa phạm tội phản quốc, tham ô đại nghịch bất đạo, xử tội trảm lập quyết tại ngã tư Thái Thị, bêu đầu ba ngày để răn đe thiên hạ! Toàn bộ đồng đảng tham gia đường dây ăn chia lương thực đều chịu chung án chém đầu không tha! Tịch thu toàn bộ gia sản, điền trang, trạch viện của Khương gia và bè lũ nghịch tặc, sung vào quốc khố để bồi hoàn cho kho lương phương Bắc!”
Khương Trọng Hoa nghe xong bản án, hai mắt trợn ngược, miệng sùi bọt mép rồi ngất lịm đi trên vũng mồ hôi lạnh của chính mình. Đám thị vệ cấm quân lập tức xông vào như lang như hổ, lôi xềnh xệch lão ra ngoài đại điện.
Ninh Viễn Đế đưa mắt nhìn sang Khương Ngọc Trinh đang run rẩy quỳ bên cạnh, giọng nói càng thêm băng lãnh:
“Khương thị Ngọc Trinh, tâm địa độc ác, ỷ thế h**p người, nhiều lần xúi giục vu khống người hiền, mưu toan cướp đoạt lụa cống triều đình, làm hoen ố thanh danh khuê tú! Nay tước bỏ toàn bộ thân phận đích thứ, phế làm quan nô tiện tịch, lưu đày ba ngàn dặm tới vùng núi Lĩnh Bắc cằn cỗi! Suốt đời lao dịch khổ sai dệt bao tải gai, vĩnh viễn không được ân xá hồi kinh!”
Khương Ngọc Trinh run rẩy nghe từng lời phán quyết, cảm giác như cả bầu trời sụp đổ xuống đầu. Lĩnh Bắc! Nơi đó quanh năm gió tuyết gầm rú, đá sỏi trơ trọi, là chốn đi dễ khó về của những kẻ lưu đày khổ sai. Đôi bàn tay trắng nõn nà từng chỉ quen cầm quạt lụa, gảy đàn tranh của ả, giờ đây sẽ phải cào xé cây gai gai góc, chịu đòn roi của cai ngục cho đến hơi thở cuối cùng. Giấc mộng phượng hoàng mẫu nghi thiên hạ, vinh hoa phú quý cả đời… tất cả đã tan thành bọt xà phòng!
“Không… không thể như thế được! Hoàng thượng tha mạng… Tiêu soái…” Ả gào khóc thảm thiết, nhưng những tiếng kêu xé lòng ấy nhanh chóng bị tiếng xích sắt kéo lê trên nền đá nghiền nát khi lính ngục áp giải ả ra khỏi điện.
Đúng giờ Ngọ ba khắc, tại pháp trường ngã tư Thái Thị, tiếng hô hào phẫn nộ của hàng vạn dân chúng kinh thành vang dậy như sấm rền. Rau héo, trứng thối, đất đá bay rợp trời trút xuống đầu đám tội thần Khương gia. Khi chiếc đao sáng quắc của đao phủ vung lên giữa thanh thiên bạch nhật, một tiếng “Phập!” dứt khoát vang lên, đầu của Khương Trọng Hoa cùng bè lũ phản nghịch lăn lóc dưới đất. Tiếng reo hò dậy sóng vang dội cả một góc trời kinh kỳ, người dân rơi nước mắt ôm lấy nhau ăn mừng công lý được thực thi, linh hồn của những nạn dân chết đói và tử sĩ nơi sa trường cuối cùng cũng được an ủi nơi chín suối.
Ở cổng Tây kinh thành, một cỗ xe tù thô sơ chở Khương Ngọc Trinh cùng đám nữ quyến lưu đày chầm chậm lăn bánh trên con đường đất bụi mù mịt. Ả bám chặt lấy chấn song gỗ, đôi mắt dại đi nhìn về hướng phương Nam xa xôi – nơi có thung lũng thôn Lạc Diệp trù phú xanh tươi ngút ngàn. Ả cay đắng nhận ra, người muội muội mà ả từng khinh bỉ ruồng bỏ nay đã đứng trên đỉnh cao của sự kính trọng và hạnh phúc, còn ả, kẻ từng có tất cả, lại phải bước đi trên con đường dẫn tới địa ngục trần gian không lối thoát.
*
Trong điện Kim Loan, sau khi cơn giông bão của bản án qua đi, bầu không khí trang nghiêm dần được thay thế bằng niềm hân hoan rạng rỡ. Ánh nắng ban mai rọi qua khung cửa sổ chạm trổ hoa văn tinh xảo, dát một lớp vàng rực rỡ lên thềm rồng.
Ninh Viễn Đế nhìn xuống vị tướng quân trẻ tuổi đang đứng sừng sững giữa đại điện. Tiêu Triệt với vóc dáng cao lớn, phong thái uy dũng lẫm liệt, đôi mắt sáng ngời chính khí, quả thực là viên ngọc quý báu của giang sơn Đại Ninh.
Ánh mắt của bậc đế vương tràn đầy sự cảm kích và yêu mến chân thành. Người bước xuống ngai vàng, chậm rãi tiến lại gần Tiêu Triệt, cất giọng trầm ấm trước toàn thể văn võ bá quan:
“Tiêu ái khanh!”
Tiêu Triệt chắp tay cung kính: “Có mạt tướng!”
Ninh Viễn Đế mỉm cười, vỗ mạnh vào bờ vai rắn rỏi như thép nguội của chàng:
“Ba năm trước trẫm trúng kế ly gián của gian thần, khiến ái khanh chịu hàm oan nơi biên ải, suýt nữa mất đi một vị trụ cột của quốc gia. Trẫm mỗi khi nghĩ lại, trong lòng vẫn không khỏi tự trách day dứt! Nay ái khanh dũng cảm trở về, một tay quét sạch sài lang phản nghịch, thu hồi bảy vạn thạch lương thực và hàng triệu lượng bạc tham ô cứu tế cho muôn dân sáu châu phương Bắc, lại bảo vệ bờ cõi vững như bàn thạch. Công lao cái thế ấy, trẫm khắc cốt ghi tâm!”
Hoàng đế phất tay áo, thái giám tổng quản lập tức bưng một chiếc khay ngọc phủ vải điều đỏ tiến lên, bên trên đặt một chiếc vương miện khảm ngọc cửu lưu lộng lẫy và một cuốn ngự chiếu bằng gấm tơ vàng.
Ninh Viễn Đế dõng dạc tuyên bố trước triều thần:“Nay giang sơn thái bình, mối họa gian thần đã trừ xong. Trẫm muốn phá bỏ lệ cũ, sắc phong Tiêu Triệt làm Trấn Bắc Vương! Ban tước vị Dị tính Vương tôn quý nhất triều đại, thế tập võng thế! Đồng thời, trẫm ban tặng một vạn mẫu ruộng phì nhiêu màu mỡ nhất dọc bờ sông Hoàng Long ven kinh kỳ, ban xây dựng Trấn Bắc Vương phủ nguy nga tráng lệ, để ái khanh ở lại kinh sư, cùng trẫm chia sẻ việc nước, nắm giữ toàn bộ binh mã thiên hạ!”
Lời vừa dứt, toàn bộ đại điện Kim Loan lập tức xôn xao như ong vỡ tổ!
Các quan viên nhìn nhau, ánh mắt không giấu nổi sự kinh ngạc tột độ cùng lòng ngưỡng mộ khôn xiết. Dị tính Vương thế tập võng thế! Lại còn được ban thưởng vạn mẫu điền sản màu mỡ bậc nhất gần kinh kỳ! Đây là vinh sủng tột đỉnh, là ân điển ngút trời mà trong suốt trăm năm lập quốc của triều Ninh chưa từng có bất kỳ một vị võ tướng nào đạt được. Có được tước vị này, Tiêu Triệt sẽ đứng trên vạn người, chỉ dưới một người, danh vọng và quyền lực đạt đến đỉnh phong chói lọi!
Thế nhưng, giữa những tiếng xì xào trầm trồ của triều thần, Tiêu Triệt vẫn đứng yên bất động. Gương mặt cương nghị góc cạnh của chàng không hề có lấy một tia xao động, ánh mắt đại bàng thâm trầm phẳng lặng như mặt hồ mùa thu.
Trước ánh mắt mong chờ của Hoàng đế và sự thèm muốn của trăm quan, Tiêu Triệt chậm rãi quỳ một gối xuống phiến đá hoa cương lạnh lẽo.
Chàng đưa tay tháo miếng Binh phù Bạch Hổ bằng ngọc tủy ngàn năm bên hông áo – tín vật tối cao có thể điều động mười vạn thiết kỵ dũng mãnh nhất phương Bắc – rồi nâng cao quá đầu bằng cả hai bàn tay cứng cỏi:
“Khởi bẩm Hoàng thượng… Mạt tướng Tiêu Triệt, khẩn xin Hoàng thượng thu hồi Binh phù Bạch Hổ, từ tước quan chức, cho phép mạt tướng được giải giáp quy điền!”
“Keng!”
Một chiếc chén trà trên tay vị lão thần đứng đầu hàng quan rơi xuống sàn vỡ tan tành giữa bầu không khí im phăng phắc đến ngạt thở.
Ninh Viễn Đế sững sờ, nụ cười trên môi người đông cứng lại. Người không dám tin vào tai mình, bước vội xuống thêm hai bậc thềm rồng, giọng nói run rẩy vì kinh ngạc:
“Ái khanh! Ngươi… ngươi vừa nói cái gì?! Giải giáp quy điền? Ngươi đang ở độ tuổi tráng niên, chiến công cái thế, uy chấn tứ phương! Giang sơn này, biên ải này vẫn cần có ngươi tọa trấn, trẫm vẫn cần có một cánh tay đắc lực như ngươi bên cạnh, cớ sao ngươi lại muốn từ bỏ tất cả vinh hoa phú quý để quy điền?!”
Tiêu Triệt ngẩng cao đầu, ánh mắt kiên định ngời sáng, nhưng trong đáy mắt lại ánh lên một sự thanh thản, nhẹ nhõm vô ngần. Chàng chậm rãi cất giọng, từng lời từng chữ vang vọng khắp không gian rộng lớn của điện Kim Loan:
“Tâu Hoàng thượng, mười sáu tuổi mạt tướng đã khoác chiến bào xông pha trận mạc. Mười năm sa trường phong vân đẫm máu, mạt tướng đã chứng kiến quá nhiều đồng đội ngã xuống trong bão tuyết, ngửi quá nhiều mùi máu tanh nồng của chiến tranh. Thân thể mạt tướng chằng chịt vết thương gươm giáo, lại từng trúng Băng Phách Hàn Độc thấu xương tủy, tưởng chừng đã sớm trở thành một nắm tro tàn nơi hoang dã.”
Chàng khẽ hít một hơi thật sâu, nơi lồng ngực như dâng lên một dòng suối ấm áp lạ kỳ:
“Nay giang sơn Đại Ninh đã thái bình thịnh trị, mười vạn thiết kỵ Trấn Bắc quân đều có các phó tướng kiên trung, dũng cảm chỉ huy, biên ải vững như tường đồng vách sắt, không một bóng quân thù nào dám bén mảng. Mạt tướng đã đem trọn vẹn mười năm tuổi xuân tươi đẹp nhất dâng hiến cho xã tắc, nay tâm nguyện hộ quốc đã trọn vẹn, mạt tướng chỉ khẩn xin bệ hạ cho phép mạt tướng được cởi bỏ bộ chiến bào nặng nề này, trở về làm một thường dân áo vải.”
Ninh Viễn Đế nhìn sâu vào đôi mắt của vị danh tướng trẻ tuổi, lòng người chấn động khôn nguôi:
“Ngươi… ngươi cam lòng từ bỏ ngai vị Trấn Bắc Vương? Cam lòng từ bỏ vạn mẫu ruộng phì nhiêu bên bờ Hoàng Long, từ bỏ quyền lực khuynh triều này sao?”
“Mạt tướng cam lòng!” Tiêu Triệt không hề do dự nửa khắc, khóe môi khẽ mỉm cười – một nụ cười hiền hòa, rạng rỡ chưa từng xuất hiện trên gương mặt lạnh lùng của vị chiến thần sa trường.
“Vạn mẫu đất màu ven kinh kỳ tuy quý giá, nhưng không bằng ba mươi mẫu đồi sỏi đá nơi thôn dã thung lũng Lạc Diệp. Vinh hoa phú quý chốn hoàng thành tuy rực rỡ, nhưng không bằng mùi khói bếp lam chiều bên mái nhà tranh.”
Tiêu Triệt ngước nhìn lên bầu trời xanh biếc bên ngoài khung cửa điện, trong tâm trí chàng lúc này hiện lên rõ mồn một từng hình ảnh thân thương nơi quê nghèo:
“Nơi thôn nhỏ hẻo lánh ấy, có dòng nước suối Ngân Khê trong vắt uốn lượn, có những luống ngô ngọt xanh ngắt trĩu bắp do chính tay mạt tướng vỡ đất, cuốc đất gieo trồng. Và quan trọng nhất… nơi đó có một người con gái đang mỉm cười chờ mạt tướng trở về.”
Chàng nhớ tới ánh mắt lanh lợi của Nhược Lam, nhớ chiếc tạp dề thô nàng hay đeo trước bụng, nhớ tiếng cười giòn tan của nàng khi thu hoạch được những củ khoai to, bắp ngô mẩy hạt. Nhớ cả những đêm trăng thanh gió mát, hai người ngồi bên hiên nhà gỗ, nàng vừa bóc hạt ngô vừa hào hứng giảng giải cho chàng nghe về đất đai, về cây cỏ, về ước mơ biến ngọn đồi hoang vu thành một trang viên trù phú tự cấp tự túc.
“Nàng đã dùng đôi bàn tay lao động cần cù kéo mạt tướng ra khỏi bóng tối tuyệt vọng của hàn độc, dùng sự ấm áp của những bữa cơm giản dị chữa lành tâm hồn chai sạn đầy vết thương của mạt tướng. Nàng dạy mạt tướng hiểu rằng, đao kiếm trên lưng ngựa có thể giữ yên một cõi bờ cõi, nhưng cày cuốc, hạt giống và tình yêu thương muôn loài mới là cội nguồn nuôi sống sinh linh thiên hạ. Mạt tướng đã hứa với nàng, sau khi quét sạch giông bão kinh thành, sẽ trở về làm một thợ săn, một nông phu bên cạnh nàng, cùng nàng cuốc đất, gánh nước, cày cấy suốt cuộc đời này. Lời hứa của một nam nhi đại trượng phu, ngàn vàng không đổi, vương vị không màng!”
Toàn thể triều đình lặng đi.
Các bậc lão thần râu tóc bạc phơ từng chứng kiến bao cảnh huynh đệ tương tàn, phụ tử trở mặt vì hai chữ quyền lực chốn kinh kỳ, nay nghe những lời bộc bạch mộc mạc mà thâm tình, khoáng đạt của Tiêu Triệt, trong lòng không khỏi dâng lên niềm cảm phục sâu sắc. Một người đàn ông có thể xem vương vị như chiếc giày rách, coi trọng lời hứa với người thương hơn cả tước vị cửu trùng, đó mới thực sự là bậc anh hùng cái thế!
Ninh Viễn Đế xúc động đến mức khóe mắt hoe đỏ. Người nhìn vị tướng quân đang quỳ gối dâng trả binh quyền, khẽ thở dài một tiếng, nhưng trong tiếng thở dài ấy lại ngập tràn sự trân trọng vô bờ:
“Ái khanh… Ngươi quả thực là kẻ si tình hiếm thấy trên cõi đời này! Cả đời trẫm ngồi trên ngai vàng, nhìn thấy bao kẻ tranh quyền đoạt vị, dẫm đạp lên nhau mà leo lên, nhưng chưa từng thấy ai có tấm lòng khoáng đạt, trong sáng và thủy chung như ngươi. Ái khanh đã kiên quyết như vậy, trẫm nếu ép buộc ngươi ở lại chốn lầu son ngột ngạt này, chẳng phải là làm tổn thương một tấm lòng son sắt hay sao?”
Ninh Viễn Đế bước tới, tự tay đón lấy chiếc Binh phù Bạch Hổ trên tay chàng, rồi đỡ Tiêu Triệt đứng dậy:
“Được! Binh phù này trẫm tạm thu hồi, giao cho các phó tướng của Trấn Bắc quân nắm giữ. Lời xin giải giáp quy điền của ngươi… trẫm chuẩn tấu!”
“Tạ Hoàng thượng long ân!” Tiêu Triệt chắp tay dập đầu tạ ơn.
“Thế nhưng,” Ninh Viễn Đế nhìn chàng, ánh mắt đầy vẻ tha thiết, “Ngươi vì xã tắc đổ máu mười năm, lại không màng tước vương, không nhận đất đai bổng lộc, nếu trẫm để ngươi hai bàn tay trắng trở về làm nông phu, trẫm mặt mũi nào đối diện với con dân Đại Ninh? Chẳng lẽ ngươi không có lấy một điều gì thỉnh cầu trẫm ban thưởng hay sao?”
Tiêu Triệt ngẩng đầu, ánh mắt bỗng sáng rực lên một niềm kiêu hãnh khôn tả. Chàng quỳ rạp người xuống một lần nữa, dõng dạc tâu:
“Khởi bẩm Hoàng thượng! Mạt tướng xác thực có một lời thỉnh cầu duy nhất! Đây là tâm nguyện lớn nhất của mạt tướng trong chuyến hồi kinh này!”
Ninh Viễn Đế mừng rỡ vội nói: “Nói mau! Trẫm nhất định chuẩn tấu cho ngươi!”
Tiêu Triệt hít sâu một hơi, giọng nói dõng dạc vang rền như chuông đồng:
“Mạt tướng xin Hoàng thượng… hãy ban thưởng ân điển long trọng nhất cho Khương Nhược Lam!”
Cả triều đình lại một lần nữa hướng sự chú ý về phía chàng.
Tiêu Triệt đưa tay rút từ trong ngực áo ra bức biểu vạn dân chi chít vết máu và dấu tay điểm chỉ đỏ rực của nạn dân phương Bắc, cùng chiếc bọc vải điều chứa bắp ngô ngọt óng ánh như ngọc, cung kính dâng lên:
“Khương Nhược Lam tuy mang danh phận nữ nhi, nhưng tấm lòng và tài năng của nàng sánh ngang nhật nguyệt! Bị gia tộc ruồng bỏ đày về quê cũ, nàng không hề oán giận, tự mình khai hoang đồi sỏi đá cằn cỗi. Nàng dùng kiến thức nông học phi thường, cải tạo đất chua phèn thành đất màu mỡ, nghiên cứu kỹ thuật thụ phấn chéo để lai tạo ra giống ngô ngọt siêu năng suất, hạt vàng óng ánh, chịu hạn phi thường gấp ba lần ngô địa phương!”
Chàng ngước nhìn Ninh Viễn Đế, xúc động giãi bày:
“Trong trận đại hạn ba tháng qua, khi sáu châu lúa má chết khô, chính giống ngô ngọt của nàng vẫn xanh tươi trĩu bắp nhờ bộ rễ ăn sâu và kỹ thuật giữ ẩm bằng rơm rạ! Khi nạn dân chạy nạn tràn về, chính nàng đã dốc cạn năm gian kho lương tích cóp, dựng mười vạc cháo ấm cứu sống hơn một vạn sinh linh! Chưa dừng lại ở đó, nàng còn xuất một vạn cân ngô giống quý giá, trực tiếp truyền dạy kỹ thuật canh tác chịu hạn cho bà con nạn dân để họ có thể tự mình gieo trồng, tự cứu lấy bản thân và gia đình!”
Tiêu Triệt dừng lại một nhịp, ánh mắt tràn đầy sự tự hào khi nhắc đến thành tựu của người thương:
“Không chỉ có lương thực, nàng còn khai phá đồi dâu, xây dựng nhà nuôi tằm khép kín kiểm soát nhiệt độ bằng địa long, nuôi dưỡng thành công giống tằm Hoàng Kim đột biến, kéo ra những súc lụa vàng óng ả kháng nước tuyệt đối, đoạt giải Quán quân tại Hội thi Dệt may Phủ thành Vân Châu, làm rạng danh quốc thể! Nàng lập nên Tổ hợp tác Lạc Diệp, giúp hàng trăm nông hộ nghèo khó thoát khỏi cảnh cơ hàn, tạo kế sinh nhai bền vững cho bá tánh!”
Tiêu Triệt dập đầu sát đất, giọng nói rung động tâm can từng người trong đại điện:
“Một bậc kỳ nữ dùng tri thức nông học cứu sống vạn dân, dùng đôi bàn tay lao động chân chính chấn hưng sản nghiệp quốc gia, tấm lòng bồ tát cứu nạn phò nguy như nàng… xứng đáng được triều đình vinh danh muôn thuở! Mạt tướng không xin vương vị, không xin ngàn lượng vàng ròng, chỉ xin Hoàng thượng ban cho nàng một danh phận chính danh, để thiên hạ muôn đời biết rằng: Đại Ninh quốc coi trọng sức lao động của người nông dân, tôn vinh trí tuệ canh nông cứu độ muôn dân!”
Lời vừa dứt, Khâm sai Tề Hoằng lập tức bước ra khỏi hàng quan, quỳ sụp xuống bên cạnh Tiêu Triệt, kích động tâu lên:
“Khởi bẩm Hoàng thượng! Vi thần phụng mệnh vi hành phương Bắc, tận mắt chứng kiến lụa Hoàng Kim rực rỡ tuyệt mỹ của Khương cô nương tại phủ Vân Châu, lại tận mắt nhìn thấy hàng ngàn nạn dân phương Bắc rơi nước mắt quỳ lạy cảm tạ bát cháo ngô cứu mạng của nàng nơi thung lũng Lạc Diệp! Những lời Tiêu tướng quân nói không hề có nửa phần khoa trương! Khương cô nương thực sự là phúc tinh của con dân phương Bắc! Thần khẩn xin bệ hạ ân chuẩn lời thỉnh cầu của Tiêu tướng quân!”
Ngay sau đó, Đại Lý Tự Khanh Cố Hoài An cùng hàng loạt lão thần trung lương trong triều cũng lần lượt bước ra, đồng thanh quỳ xuống thềm rồng:
“Thần đẳng khẩn xin Hoàng thượng chuẩn tấu! Tôn vinh hiền tài nông gia, an định lòng dân muôn cõi!”
Tiếng thỉnh cầu vang dội khắp điện Kim Loan, tạo nên một cảnh tượng xúc động chưa từng có trong lịch sử triều Ninh.
Ninh Viễn Đế nhìn xuống bức biểu vạn dân đỏ rực vết điểm chỉ của dân nghèo, lại nhìn bắp ngô ngọt hạt vàng căng mọng ngời sáng trên ngự án. Người bước lại gần, nâng bắp ngô lên tay, ngửi thấy mùi thơm ngọt ngào, mộc mạc của hương đồng gió nội phảng phất giữa chốn cung đình nguy nga.
Lồng ngực bậc đế vương phập phồng xúc động. Đôi mắt người rưng rưng lệ, rồi bất giác bật cười thành tiếng – một tràng cười sảng khoái, tự hào và thanh thản vô cùng:
“Hay! Hay lắm! Quả đúng là trời ban phúc lớn cho Đại Ninh ta!”
Ninh Viễn Đế giơ cao bắp ngô ngọt trước mặt toàn thể văn võ bá quan, cất tiếng vang rền:
“Trẫm có được một vị đại tướng quân vì nước xông pha, không màng danh lợi như Tiêu Triệt; lại có được một bậc kỳ nữ dốc lòng vì nông nghiệp, đem hạt ngô tơ tằm cứu sống vạn dân như Khương Nhược Lam! Đôi trẻ các ngươi, một người giữ yên bờ cõi, một người no ấm nhân gian, quả thực là rường cột nước nhà, là thần tiên quyến lữ hiếm có trong thiên hạ!”
Người quay phắt lại long án, áo bào phất mạnh cuốn theo làn gió ấm áp của buổi sớm mai. Ninh Viễn Đế ngồi xuống ngai vàng, tự tay trải rộng một cuộn lụa gấm màu vàng kim thượng hạng dệt hình rồng bay phượng múa. Người cầm lấy cây ngự bút bằng ngọc bích, chấm đậm vào nghiên mực chu sa đỏ thắm, ánh mắt rực sáng niềm kiêu hãnh của bậc minh quân:
“Ý trời đã định, lòng dân đã thuận! Trẫm hôm nay sẽ đích thân hạ bút, ban một đạo thánh chỉ đặc biệt chưa từng có tiền lệ trong lịch sử triều Ninh, để thiên hạ muôn phương đều phải nghiêng mình kính phục đôi uyên ương tài đức vẹn toàn!”
Từng nét bút chu sa rồng bay phượng múa bắt đầu lướt nhanh trên mặt gấm vàng óng ả. Tiêu Triệt đứng thẳng người dậy giữa đại điện ngập tràn ánh nắng rực rỡ, bàn tay chàng khẽ siết chặt nơi ngực áo – nơi cất giữ chiếc khăn tay thêu nhành hoa bắp nhỏ của Nhược Lam. Tim chàng đập rộn ràng từng nhịp hân hoan, đôi mắt nhìn về phương Nam xa xăm ngập tràn tình yêu thương tha thiết.
Bão giông kinh thành đã hoàn toàn khép lại. Ngày mai, chàng sẽ mang theo vinh quang tột bực và trọn vẹn tấm chân tình này, rong ruổi ngựa chiến vượt ngàn dặm gió bụi, trở về bên người con gái của đời mình nơi thung lũng Lạc Diệp ngát hương đồng nội.
Gió thu tháng Tám lướt qua thung lũng Lạc Diệp mang theo cái se lạnh dịu dàng của sương sớm hòa cùng mùi hương ngai ngái, nồng đượm của đất ải vừa được xới lật. Phía chân trời, ánh bình minh nhuộm một dải ráng hồng viền vàng rực rỡ l*n đ*nh núi Lạc Nhạn sừng sững.
Dưới chân đồi, ba mươi mẫu ruộng ngô ngọt đợt hai đã vươn cao quá đầu người, lá xanh mướt mát đan vào nhau xào xạc theo từng cơn gió sớm. Những bắp ngô mập mạp bọc kín trong lớp bẹ xanh biếc bắt đầu lộ ra những chùm râu ngô màu nâu hạt dẻ óng ánh, báo hiệu chỉ mươi ngày nữa là bước vào kỳ thu hoạch rộ. Xa hơn một chút, trên sườn đồi thoai thoải, ba mươi mẫu dâu tằm cao sản mơn mởn đâm chồi, lá to bản dày dặn như bàn tay trẻ con, xanh um tùm che mát cả một vùng đất đỏ bazan từng cằn cỗi xơ xác năm nào.
Khương Nhược Lam thức dậy từ lúc trời còn tờ mờ sáng. Nàng mặc chiếc áo vải thô nhuộm màu vỏ dà mộc mạc, hai ống tay áo được bó gọn gàng bằng dải băng vải gai, mái tóc đen nhánh vấn cao thành búi củ tỏi tròn trịa trên đỉnh đầu, cố định bằng chiếc trâm gỗ đào mộc đã nhẵn bóng.
Nàng xách chiếc giỏ tre, men theo rãnh dẫn nước bằng ống tre thông minh chạy quanh luống ngô. Nhược Lam ngồi xổm xuống, thò tay bốc một nắm đất xốp tơi dưới gốc ngô lên mũi khẽ ngửi. Mùi mùn hữu cơ lên men thoang thoảng, giun đất béo múp lúc nhúc bò qua kẽ ngón tay. Nhờ lượng phân vi sinh ủ từ rơm rạ mục, tro trấu và phân chuồng hoai mục được bón lót đúng kỹ thuật, tầng đất mặt chua phèn ngày trước giờ đây đã chuyển sang màu nâu sẫm màu mỡ, giữ ẩm tuyệt hảo.
“Đất khỏe thì cây mới bền. Cứ đà này, năng suất vụ ngô thu đông năm nay chắc chắn sẽ vượt trội vụ trước ít nhất ba phần mười.”
Nhược Lam lẩm bẩm mỉm cười, đôi mắt hạnh lanh lợi ánh lên niềm kiêu hãnh của một người làm nông thực thụ. Nàng vỗ nhẹ tay phủi sạch đất cát bám trên đầu ngón tay, đứng thẳng người vươn vai hít một hơi thật sâu không khí trong lành của núi rừng.
Thế nhưng, khi ánh mắt nàng lướt qua con đường mòn đất đỏ ngoằn ngoèo dẫn ra khỏi bìa rừng Lạc Nhạn, nụ cười trên môi khẽ chùng xuống, trong lòng dâng lên một thoáng trống trải mông lung.
Đã nửa tháng trôi qua kể từ cái ngày Tiêu Lập khoác lên mình bộ chiến bào giáp bạc, mang theo binh phù và chứng cứ hỏa tốc phi ngựa về kinh thành.
Mười lăm ngày, nàng ở lại thung lũng này cùng bà con nông hộ, ban ngày đôn đốc việc chăm sóc ruộng ngô, hướng dẫn nạn dân phương Bắc khai hoang giữ ẩm đất, tối đến lại chong đèn bên khung cửi kiểm tra những nong tằm Hoàng Kim chuẩn bị nhả tơ lứa mới. Bề ngoài nàng vẫn luôn bình thản, điềm tĩnh như mặt nước hồ thu, miệng cười giòn giã động viên mọi người, nhưng chỉ có bản thân nàng mới biết, mỗi khi bóng tối buông xuống căn nhà tranh đầu thôn, nàng lại vô thức nhìn sang khoảng sân bên cạnh – nơi từng có một bóng lưng cao lớn vạm vỡ, lẳng lặng chẻ củi, đan sọt hay ngồi nướng ngô bên bếp than hồng.
Hắn là Tiêu Lập – người thợ săn kiệm lời mang thịt heo rừng đổi lấy cơm nóng muối thảo mộc; nhưng hắn cũng là Tiêu Triệt – vị Trấn Bắc Đại Tướng quân lẫy lừng nắm giữ mười vạn trọng binh nơi biên cương.
Nhược Lam thở dài khe khẽ, đưa bàn tay sờ nhẹ lên chiếc vòng chỉ đỏ buộc ở cổ tay áo – vật mà trước lúc lên ngựa phi về kinh thành chàng đã lặng lẽ buộc vào tay nàng cùng lời ước hẹn dứt khoát như đinh đóng cột: “Chờ ta trở về. Khi bão giông kinh thành tan hết, ta sẽ mang bình yên trọn vẹn về cho nàng.”
“A tỷ! Lam tỷ tỷ ơi!”
Tiếng gọi lảnh lót như chim sơn ca cắt ngang dòng suy nghĩ của Nhược Lam. Từ đầu bờ ruộng, bé Bảo Nha mặc chiếc yếm hoa màu đỏ gạch, hai búi tóc củ ấu lắc lư theo từng bước chạy lon ton. Trên tay cô bé bưng một chiếc mẹt tre nhỏ đậy bằng tấm vải màn trắng, mặt mũi hớn hở đỏ bừng vì chạy nhanh.
“Bảo Nha, chạy chậm thôi kẻo ngã!” Nhược Lam vội vàng bước tới đón lấy cô bé, cúi người lau mồ hôi trên vầng trán nhỏ nhắn.
Bảo Nha thở hổn hển, chìa chiếc mẹt tre ra, đôi mắt tròn xoe lấp lánh:
“Tam Thẩm bảo muội mang bánh ngô nướng mật ong vừa mới ra lò cho tỷ ăn lót dạ này! Tam Thẩm nói tỷ sáng nào cũng ra đồng từ sớm, gió sương hại bao tử lắm. Bánh này làm từ mớ bột ngô ngọt xay mịn hôm qua đấy tỷ, thơm phức luôn!”
Nhược Lam mở tấm vải màn ra, một làn khói nghi ngút bốc lên mang theo hương ngô ngòn ngọt quyện với mùi mật ong rừng nướng xém cạnh, thơm đến cồn cào ruột gan. Nàng nhịn không được bèn véo một miếng nhỏ cho vào miệng. Vị ngọt thanh tao tan ngay đầu lưỡi, lớp vỏ ngoài giòn rụm nhưng bên trong lại mềm xốp dẻo thơm.
“Khéo tay lắm, bánh nướng lửa vừa độ, ngon tuyệt cú mèo!” Nhược Lam cười tít mắt, đưa tay xoa nhẹ chóp mũi dính chút tàn tro của Bảo Nha.
Bảo Nha cười toe toét, nhưng rồi cô bé chớp chớp mắt, ngó nghiêng xung quanh con đường mòn vắng vẻ, hạ thấp giọng hỏi nhỏ:
“Lam tỷ tỷ, Tiêu đại ca… bao giờ mới về hả tỷ? Mấy hôm nay không có huynh ấy, lũ chim sâu trên đồi dâu bạo gan lắm, cứ sà xuống phá hoại. Bác Tam Thúc bắn tên toàn hụt, muội nhớ những con chim trĩ nướng đất sét của Tiêu đại ca quá chừng!”
Nhược Lam bật cười, gõ nhẹ ngón tay lên trán cô bé:
“Hóa ra là nhớ chim nướng của người ta chứ có phải nhớ người ta đâu! Tham ăn vừa thôi cô nương nhỏ.”
Nói thì nói vậy, nhưng câu hỏi ngây thơ của đứa trẻ lại chạm vào nỗi mong ngóng sâu kín nhất trong lòng nàng. Nhược Lam ngẩng đầu nhìn về dải đường quan đạo xa xa phía đông, ánh mắt chan chứa niềm tin tưởng:
“Sắp rồi. Huynh ấy đã hứa thì nhất định sẽ về.”
Vừa dứt lời, mặt đất dưới chân hai người bỗng khẽ rung chuyển nhè nhẹ.
Một âm thanh trầm đục như sấm rền từ phương xa vọng lại, dồn dập và uy mãnh. Không phải tiếng mưa giông, mà là tiếng móng ngựa nện trên nền đất nén, kèm theo đó là tiếng chiêng đồng, trống lệnh vang lên từng hồi dõng dạc, rền vang khắp cả thung lũng Lạc Nhạn.
“Có chuyện gì thế kia?!”
Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu từ trong chòi canh dâu hớt hải cầm cây cuốc chạy ra, mặt mày tái mét vì hoảng hốt. Phía sau, Tam Thẩm Lý thị và mấy chục phụ nữ, tráng đinh trong xưởng tơ cũng túa ra đường làng. Ai nấy đều nhớ lại cảnh tượng toán cấm quân hung hãn ập tới nửa tháng trước, trong lòng không khỏi hoang mang, sợ hãi. Mấy bác nông dân lớn tuổi đã vội vã nắm chặt đòn gánh, rìu cuốc trong tay, đứng chắn phía trước Nhược Lam như một bức tường che chắn.
“Nhược Lam, con mau trốn vào trong xưởng dệt đi!” Tam Thúc thở không ra hơi, giọng run rẩy nhưng ánh mắt kiên quyết lạ thường: “Dù có là quan binh triều đình quay lại bắt bớ, lão già này cũng liều mạng với chúng nó, quyết không để ai đụng đến một sợi tóc của con!”
“Đúng thế! Khương cô nương đã cứu mạng cả nhà chúng tôi qua cơn đói khát, ai muốn động đến nàng phải bước qua xác đám nạn dân này trước!” Hàng chục tráng đinh phương Bắc được nàng cưu mang cũng đồng thanh gầm lên, siết chặt nông cụ trong tay.
Nhìn thấy tình cảm chân thành, thà chết bảo vệ mình của bà con lối xóm, hốc mắt Nhược Lam cay xè, một dòng nước ấm áp dâng trào nơi lồng ngực. Nàng bước lên phía trước, nhẹ nhàng đặt tay lên vai Tam Thúc, cất giọng trấn an dứt khoát:
“Tam Thúc, các bác, mọi người bình tĩnh đã! Đừng manh động, hãy nhìn kỹ xem cờ hiệu phía trước là của ai!”
Mọi người nheo mắt nhìn về phía đầu làng.
Bụi mù tan dần dưới ánh nắng ban mai rực rỡ. Hiện ra nơi khúc quanh bờ sông Ngân Khê không phải là đám cấm quân đằng đằng sát khí, mà là một đoàn nghi trượng hoàng gia lộng lẫy uy nghiêm chưa từng thấy trong đời một người nông dân thôn Lạc Diệp!
Dẫn đầu là tám kỵ binh Ngự lâm quân mặc khôi giáp mạ vàng sáng lóa, tay giương cao lá đại kỳ thêu rồng vàng năm móng bay phấp phới trong gió thu. Theo sau là đội nhạc lễ cung đình tấu lên những khúc nhã nhạc trang nghiêm, lọng vàng che nghi trượng rợp trời rợp đất. Giữa đoàn người, Khâm sai Đại thần Tề Hoằng vận triều phục màu tía thêu tiên hạc lộng lẫy, hai tay cung kính nâng một ống quyển bọc lụa gấm thêu rồng vàng kim, sắc mặt hân hoan, rạng rỡ lạ thường. Phía sau quan Khâm sai còn có hàng dài xe ngựa phủ lụa điều đỏ thắm, chở đầy những tráp ngọc, rương gấm chất cao như núi!
Lý chính thôn Lạc Diệp run rẩy đến mức ngã quỵ xuống đất, lồm cồm bò dậy lắp bắp:
“Thánh… Thánh chỉ! Là Khâm sai đại thần mang chiếu thư của Hoàng thượng đến thôn ta!”
Cả thôn xóm sững sờ trong giây lát, rồi lập tức vỡ òa trong kinh ngạc. Toàn bộ bà con nông dân, từ người già đến trẻ nhỏ, đều đồng loạt buông nông cụ, vội vã quỳ rạp hai bên đường làng, nín thở chờ đợi giây phút thiêng liêng chưa từng có trong lịch sử trăm năm của làng quê hẻo lánh này.
Đoàn ngự lâm quân dừng lại ngay trước khoảng sân rộng thênh thang lát đá phẳng phiu của xưởng dệt lụa và kho ngô Lạc Diệp.
Tề Hoằng bước xuống từ cỗ xe ngựa đầu tiên, bước chân khoan thai nhưng tràn đầy vẻ kính cẩn. Khi nhìn thấy Khương Nhược Lam đang đứng thẳng giữa sân, dù nàng chỉ mặc áo vải thô dính chút bùn đất, nhưng khí chất thanh tao, điềm đạm và đôi mắt sáng ngời thông tuệ của nàng khiến vị đại thần tam phẩm triều đình cũng phải khẽ cúi đầu chào theo nghi thức đồng liêu.
“Khương cô nương, phụng mệnh Hoàng thượng, hạ quan mang đại hỷ đến cho cô nương và bá tánh Lạc Diệp đây!” Tề Hoằng mỉm cười ấm áp, giọng nói vang vọng khắp bốn bề.
Nhược Lam thu lại nét kinh ngạc, khẽ mỉm cười đoan trang, cùng Tam Thúc, Tam Thẩm và dân làng quỳ xuống theo đúng lễ nghi:
“Thảo dân Khương Nhược Lam, cung nghênh thánh chỉ!”
Tề Hoằng hắng giọng, mở rộng cuộn gấm vàng rực rỡ do chính tay Ninh Viễn Đế hạ bút chu sa. Giọng đọc hào sảng, vang rền như chuông khánh vang vọng giữa núi rừng:
“Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết:
Trẫm nghe, đạo trị quốc dĩ nông vi bản, dân lấy thực làm trời. Nay có thứ nữ Khương thị, danh Nhược Lam, cư ngụ tại thôn Lạc Diệp huyện Vân Khê, vốn là bậc kỳ nữ mang đức hạnh sáng trong, trí tuệ trác tuyệt.
Nơi thôn dã cằn cỗi, nàng không oán không than, dốc lòng nghiên cứu nông học, khai khẩn hoang đồi, sáng tạo kỹ thuật cải tạo đất phèn màu mỡ, lai tạo giống ngô ngọt siêu năng suất, ươm nuôi tằm Hoàng Kim dệt nên gấm vóc rạng danh quốc thể. Giữa lúc sáu châu phương Bắc gặp đại hạn ba trăm năm chưa từng có, sông cạn đồng khô, vạn dân lâm vào cảnh khốn cùng, Khương thị đã đại phát từ bi, mở kho lương thực nấu cháo cứu đói cho hàng ngàn nạn dân, lại xuất vạn cân hạt giống quý, tận tâm truyền dạy nông thuật, giúp bá tánh tự lực hồi sinh mảnh đất chết, công đức vô lượng, cảm động trời xanh!
Một tấm lòng nhân ái cứu sống muôn dân, một đôi bàn tay lao động chân chính chấn hưng nền canh nông xã tắc, xứng đáng là tấm gương sáng ngời cho toàn cõi Đại Ninh noi theo!
Nay đặc cách sắc phong Khương Nhược Lam làm ‘THẦN NÔNG NỮ SĨ’, ban hàm Chánh Tam Phẩm vinh dự, được quyền độc lập lập hộ tông tộc, hưởng bổng lộc triều đình trọn đời!”
Từng lời, từng chữ của đạo thánh chỉ như những hồi trống giáng thẳng vào tâm can mọi người. Tiếng hít sâu kinh ngạc vang lên từ khắp các phía. Chánh Tam Phẩm! Lại còn là danh hiệu “Thần Nông Nữ Sĩ” do chính Hoàng đế ngự ban! Trong lịch sử hàng trăm năm của vương triều Đại Ninh, chưa từng có một nữ tử xuất thân nông thôn nào lại được nhận vinh dự tột bậc đến nhường này!
Nhưng sự kinh ngạc vẫn chưa dừng lại ở đó. Tề Hoằng hít một hơi dài, tiếp tục đọc to phần ân thưởng long trọng phía sau:
“Chuẩn ban thưởng:
Ngự tứ một bức biển ngọc cẩn vàng bốn chữ đại tự ‘THẦN NÔNG TẾ THẾ’ do đích thân Trẫm đề bút, treo tại từ đường trang viên Lạc Diệp!
Ban thưởng MỘT NGÀN MẪU RUỘNG PHÌ NHIÊU bao quanh thung lũng sông Ngân Khê làm điền trang vĩnh viễn của Khương thị, miễn toàn bộ thuế nông nghiệp và phu dịch trong vòng hai mươi năm!
Ban thưởng một ngàn lượng bạc trắng, một trăm tấm gấm vóc ngự dụng, ba mươi cỗ xe ngựa tải vật tư canh tác!
Lại chuẩn chỉ cho phép Khương thị được toàn quyền thiết lập Nông thương hội quán tại Vân Khê, phổ biến giống cây và kỹ thuật canh tác ra toàn thiên hạ, các cấp quan lại địa phương phải dốc lòng phối hợp, kẻ nào dám cản trở ức h**p, xử trảm không tha!
Khâm thử!”
Lời tuyên đọc vừa dứt, toàn bộ thung lũng Lạc Diệp dường như rơi vào một khoảng lặng nghẹt thở trong chốc lát.
Một ngàn mẫu ruộng phì nhiêu! Biển ngọc ngự tứ! Miễn thuế hai mươi năm!
“Trời phật ơi… Hoàng ân hạo đãng! Bồ tát hiển linh rồi!”
Tam Thẩm Lý thị không kìm nén được cảm xúc, hai tay run rẩy ôm chầm lấy Bảo Nha, nước mắt tuôn rơi như mưa. Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu dập đầu sát đất, bờ vai gầy guộc run lên từng đợt vì xúc động tột cùng. Mới nửa năm trước thôi, Nhược Lam còn là một đứa trẻ ốm yếu bị gia tộc vứt bỏ nơi căn nhà tranh rách nát, ăn bữa nay lo bữa mai. Mà hôm nay, bằng chính mồ hôi, nước mắt và trí tuệ từ đôi bàn tay mình, nàng đã đứng ở đỉnh cao vinh quang, được hoàng đế sắc phong, được vạn dân kính ngưỡng!
Bá tánh khắp thôn Lạc Diệp, rồi hàng ngàn nạn dân phương Bắc đang đứng chật kín triền đồi, bỗng đồng loạt quỳ sụp xuống, tiếng hô vang dội làm rung chuyển cả núi rừng:
“Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!”
“Chúc mừng Khương Tiên Cô! Chúc mừng Thần Nông Nữ Sĩ!”
Tiếng reo hò vang dậy như sấm rền, lan xa từ bờ sông Ngân Khê đến tận đỉnh đèo Lạc Nhạn. Những người nông dân lam lũ ôm nhau khóc cười lẫn lộn. Từ nay về sau, thôn Lạc Diệp không còn là xóm nghèo đói xơ xác bị lãng quên nữa, nơi đây đã trở thành mảnh đất ngự tứ, là cái nôi của giống ngô ngọt cứu đói và lụa vàng lừng danh thiên hạ!
Nhược Lam ngẩng cao đầu, hai tay cung kính nâng lên đón lấy đạo thánh chỉ bằng lụa gấm vàng óng từ tay Tề Hoằng. Bức chiếu thư nặng trĩu trên tay, nàng ngửi thấy mùi mực chu sa thơm ngát quyện cùng long diên hương hoàng gia. Khóe mắt nàng khẽ lấp lánh ngấn lệ, nhưng nụ cười nở rộ trên môi lại rạng ngời như ánh dương ban mai.
Nàng không cần quyền lực cung đình, không màng đấu đá danh lợi, nhưng sự công nhận này là chiến thắng ngọt ngào nhất của nàng dành cho giá trị của lao động chân chính và khoa học nông nghiệp!
“Thần, Khương Nhược Lam, tạ ơn Hoàng thượng long ân!” Nàng dõng dạc cất tiếng, trong trẻo và kiên định.
Bốn ngự lâm quân lực lưỡng lập tức bước lên, cung kính hạ bức biển ngọc ngự tứ xuống trước sân xưởng dệt. Khung biển bằng gỗ tử đàn đen nhánh chạm trổ hoa văn dây leo và bông lúa tinh xảo, mặt biển bằng bạch ngọc thượng hạng khảm bốn chữ lớn mạ vàng ròng: “THẦN NÔNG TẾ THẾ”. Từng nét chữ rồng bay phượng múa, tỏa ra hào quang rực rỡ dưới ánh nắng thu vàng như rót mật.
“Khương đại nhân… à không, Khương Nữ Sĩ, chúc mừng cô nương!” Tề Hoằng bước lại gần, chắp tay cười ha hả, vẻ mặt vô cùng thân thiện: “Bản quan vi hành nhiều năm, chưa từng thấy đạo thánh chỉ nào khiến lòng dân khắp kinh thành lẫn thôn dã đồng thuận, hân hoan đến mức này! Vụ án th*m nh*ng lương cứu tế của Khương Trọng Hoa đã được Đại Lý Tự xử lý triệt để, kẻ ác đã đền tội nơi pháp trường. Hoàng thượng khen ngợi cô nương không ngớt lời đấy!”
“Đều nhờ có Tề đại nhân và các vị trung thần đã vì dân trừ hại, Nhược Lam vô cùng cảm kích.” Nhược Lam mỉm cười đáp lễ, cử chỉ vừa khiêm nhường lại vừa đĩnh đạc tự nhiên.
Đúng lúc này, Tề Hoằng bỗng nheo mắt cười đầy ẩn ý, đưa tay vuốt chòm râu ngắn, nhìn về phía cuối con đường mòn dẫn vào làng:
“Thánh chỉ của Hoàng thượng đã tuyên xong, nhưng phần đại hỷ long trọng nhất của ngày hôm nay… e là bây giờ mới thực sự bắt đầu!”
Nhược Lam ngẩn ra: “Đại hỷ gì nữa cơ ạ?”
Chưa kịp để Tề Hoằng trả lời, từ phía khúc quanh chân núi Lạc Nhạn, một tràng pháo hoa lệnh rực rỡ bỗng bay vút lên bầu trời xanh ngắt, nổ vang những tiếng giòn giã: Đoàng! Đoàng! Đoàng!Khói màu ngũ sắc bốc lên nghi ngút, tiếp sau đó là tiếng kèn đồng thổi vang khúc nhạc mừng tân hôn náo nức, rộn rã vô cùng.
“Mau nhìn kìa! Phía bên kia… trời đất ơi, cái gì thế kia?!” Tiếng một bác nông dân kinh ngạc hét toáng lên, chỉ tay về phía bờ sông.
Mọi ánh mắt lập tức đổ dồn về phía con đường lớn.
Khung cảnh hiện ra trước mắt khiến toàn bộ người dân có mặt tại thung lũng Lạc Diệp phải trố mắt há hốc mồm, nghẹn ngào không thốt nên lời.
Đó là một đoàn rước sính lễ dài dằng dặc, trải dài tít tắp từ cổng trang viên ra tận con đường thiên lý uốn lượn quanh chân núi, ngỡ như kéo dài trọn vẹn mười dặm đường trường! Cờ đỏ thêu chữ “Hỷ” bay phấp phới, lụa điều đỏ rực quấn quanh từng cỗ xe, từng chiếc đòn khiêng.
Dẫn đầu đoàn sính lễ vĩ đại ấy là một nam tử cưỡi trên lưng con tuấn mã đen tuyền bờm dài bóng mượt.
Chàng không còn khoác lên mình bộ chiến bào giáp bạc nhuốm đầy sát khí chiến trường, cũng không mặc triều phục hoa lệ của bậc vương hầu quyền quý nơi cung cấm. Chàng vận một bộ trường bào gấm dệt màu xanh sẫm giản dị nhưng cắt may cực kỳ tinh tế, ôm trọn lấy thân hình cao lớn, bờ vai rộng và vòng eo thon gọn săn chắc. Đai lưng thắt dải lụa thêu hoa văn sóng nước, mái tóc đen dày được búi gọn gàng bằng một chiếc bao tóc bằng ngọc bích ôn nhuận.
Khuôn mặt cương nghị, góc cạnh như tạc của chàng dưới ánh nắng thu rực rỡ đã hoàn toàn trút bỏ lớp băng lãnh, u tối của những năm tháng chịu đựng hàn độc. Đôi mắt đại bàng sắc bén giờ đây ngập tràn sự dịu dàng, ấm áp như dòng suối xuân tan chảy, từ đầu đến cuối chỉ dán chặt vào bóng hình mảnh mai mặc áo vải thô đang đứng sững sờ giữa sân.
“Tiêu… Tiêu đại ca?!” Bé Bảo Nha nhảy cẫng lên, reo hò ầm ĩ: “Là Tiêu đại ca về rồi! Huynh ấy cưỡi ngựa to đẹp quá!”
“Trời ơi, Tiêu thợ săn… không phải, là Tiêu tướng quân!”
“Tướng quân cái gì nữa, mau nhìn sính lễ của người ta kìa! Đẹp đôi quá, thật là trời sinh một cặp!”
Dân làng xôn xao bàn tán, tiếng cười nói rộn ràng râm ran khắp các ngõ xóm.
Nhược Lam đứng chết lặng tại chỗ, trái tim trong lồng ngực đập thình thịch từng nhịp hỗn loạn. Nàng nhìn chàng đang từ từ thúc ngựa tiến lại gần. Nắng thu rọi xuống gương mặt phong trần tuấn lãng ấy, nụ cười khẽ nhếch nơi khóe môi chàng sao mà quen thuộc, sao mà ấm áp đến nao lòng.
Chàng đã trở về. Chàng không hề thất hứa!
Tề Hoằng đứng bên cạnh cười ha hả, cất giọng sang sảng giải thích cho Nhược Lam và dân làng nghe:
“Khương Nữ Sĩ còn chưa biết sao? Tiêu đại tướng quân sau khi diệt trừ gian đảng, đã kiên quyết từ chối tước vị Trấn Bắc Vương vạn hộ hầu, tự tay dâng trả Binh phù Bạch Hổ cho triều đình để xin giải giáp quy điền! Hoàng thượng cảm kích tấm lòng trung trinh vì nước vì dân của ngài, lại biết ngài một lòng hướng về nơi thôn dã, bèn đặc cách tứ phong ngài làm ‘AN ĐIỀN HẦU’ – một chức tước nhàn tản tôn quý trọn đời không cần can dự triều chính, chuẩn y cho ngài cả đời ở lại Lạc Diệp làm một nông phu tự tại!”
“Giải giáp quy điền… An Điền Hầu?” Nhược Lam khẽ lẩm bẩm, khóe mắt bỗng cay cay, vừa buồn cười lại vừa dâng trào một niềm cảm động khôn xiết.
Tên ngốc này, chàng thật sự đã buông bỏ vinh hoa phú quý đỉnh cao của một chiến thần, buông bỏ quyền uy khuynh đảo triều đình, chỉ để trở về chốn đồng quê này làm một thợ săn, một nông phu bên cạnh nàng!
Lúc này, đoàn sính lễ dài dằng dặc đã tiến vào cổng lớn của trang viên. Khi nhìn rõ những thứ được chở trên các cỗ xe, toàn bộ dân làng Lạc Diệp từ già trẻ lớn bé đều không nhịn được mà bật cười nghiêng ngả, vừa kinh ngạc vừa tấm tắc khen ngợi không dứt lời.
Bởi vì đoàn sính lễ này… quả thực là độc nhất vô nhị trên đời, chưa từng có tiền lệ trong lịch sử cưới hỏi của bất kỳ vương công quý tộc nào!
Bên cạnh ba mươi rương gấm vóc lụa là, vàng ngọc châu báu do Hoàng đế và các tướng sĩ biên ải gom góp gửi mừng, phần lớn những cỗ xe phía sau lại chất đầy những thứ khiến một tiến sĩ nông học như Nhược Lam phải sáng rực hai mắt:
Mười cỗ xe đầu tiên chở đầy những bao tải hạt giống thượng hạng được phủ bạt cẩn thận! Nào là giống lúa mì chịu lạnh vùng cực Bắc, hạt đậu tương mắt đen khổng lồ từ duyên hải, hạt giống dưa ngọt giòn tan của Tây Vực, cho đến những củ giống hoa màu quý hiếm được bảo quản tỉ mỉ trong mùn cưa và rơm khô!
Hai mươi cỗ xe tiếp theo lấp lánh ánh kim loại dưới nắng sớm. Đó là toàn bộ nông cụ được rèn bằng loại thép tinh luyện thượng hạng nhất của Binh khí cục triều đình: những lưỡi cày sáng loáng không gỉ, cuốc xẻng bọc đồng sắc bén, kéo tỉa cành bằng thép lò xo siêu nhẹ, và cả những chiếc guồng quay tơ cải tiến bằng gỗ lim đen bóng bẩy!
Và ấn tượng nhất chính là cỗ xe cuối cùng, kéo theo một đàn gồm đúng năm mươi con trâu mộng lực lưỡng, khỏe khoắn! Con nào con nấy lông đen mượt bóng nhẫy, bắp thịt cuồn cuộn, đôi sừng cong vút uy mãnh, trên trán mỗi con đều được buộc một bông hoa bằng lụa đỏ thắm to tướng. Đàn trâu bước đi rầm rập, thở phì phò khí thế ngút trời, làm bụi bay mù mịt nhưng lại toát lên một vẻ trù phú, no đủ đến tột cùng!
Hắc Lục – nay đã được phong làm Hộ vệ tướng lĩnh – cưỡi ngựa đi bên cạnh đàn trâu, tay cầm roi da phe phẩy, mặt mày hớn hở gào to như sợ cả tổng Vân Khê này không nghe thấy:
“Sính lễ của An Điền Hầu gia hỏi cưới Thần Nông Nữ Sĩ! Ba mươi rương châu báu, năm mươi xe hạt giống và nông cụ ngự tạo, cùng năm mươi con trâu mộng cày bừa siêu khỏe! Xin dâng toàn bộ cho Khương gia trang viên!”
Tiếng cười rộ lên như pháo ran. Mấy bà thím trong thôn vỗ đùi bôm bốp cười ngặt nghẽo:
“Ôi chao ôi! Đúng là sính lễ của người làm ruộng có khác! Vàng bạc lụa là làm sao quý bằng trâu khỏe hạt ngon! Tiêu Hầu gia đúng là hiểu lòng Khương cô nương nhất trên đời!”
“Quá chu đáo! Có đàn trâu này thì ngàn mẫu đất ngự tứ kia cày ba ngày là xong hết!” Tam Thúc cười đến ngoác cả miệng, nước mắt hạnh phúc lau không xuể.
Giữa tiếng reo hò chúc tụng náo nhiệt của cả ngàn người, Tiêu Lập xoay người nhảy xuống ngựa. Đôi ủng da nện chắc nịch trên nền đất phù sa màu mỡ.
Chàng sải những bước chân dài dứt khoát, đi xuyên qua đám đông đang tự động dạt ra hai bên nhường lối. Ánh mắt chàng chưa từng rời khỏi Nhược Lam dù chỉ một cái chớp mi.
Đến khi chỉ còn cách nàng ba bước chân, chàng dừng lại. Mùi hương thảo mộc nồng ấm quen thuộc trên người chàng lập tức bao bọc lấy Nhược Lam, xua tan đi tất cả những âu lo, xa cách của chuỗi ngày dài đằng đẵng.
Nhược Lam ngước nhìn chàng, đôi mắt hạnh cong cong như vầng trăng khuyết. Nàng cố kìm nén sự xúc động đang cuộn trào trong ngực, cất giọng trêu chọc đầy tinh nghịch:
“Tiêu đại tướng quân… à không, bây giờ phải gọi là An Điền Hầu gia mới đúng chứ nhỉ? Ngài mang cả kho nông cụ của Binh khí cục cùng năm mươi con trâu mộng về đây, bộ tính đè bẹp trang viên nhỏ bé này của ta hay sao?”
Tiêu Lập nhìn sâu vào đôi mắt lấp lánh của nàng, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười ấm áp, trầm thấp và cưng chiều tột bậc:
“Nàng chê ít sao? Nếu chê ít, ngày mai ta lại vào rừng bắt thêm mấy con gấu xám về kéo cày cho nàng.”
Nhược Lam phì cười thành tiếng, gò má ửng hồng như ráng chiều:
“Chàng dám! Gấu xám mà kéo cày thì nát hết luống ngô của ta mất!”
Nụ cười trên môi Tiêu Lập bỗng thu lại, thay vào đó là sự nghiêm túc, chân thành và tha thiết đến tột cùng.
Trước con mắt kinh ngạc và nín thở của toàn thể dân làng, của quan Khâm sai Tề Hoằng và gia đình Tam Thúc, người đàn ông từng là nỗi khiếp sợ của quân thù nơi biên ải, vị chiến thần uy chấn thiên hạ, bỗng nhiên chậm rãi… quỳ một gối xuống nền đất phù sa ẩm ướt ngay trước mặt Nhược Lam!
“Tiêu Lập, chàng làm gì thế?!” Nhược Lam giật mình, vội vàng đưa tay muốn đỡ chàng dậy.
Nhưng Tiêu Lập nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn của nàng. Bàn tay chàng thô ráp, đầy những vết chai sạn của năm tháng cầm đao kiếm và cung tên, nhưng lại vô cùng ấm áp, vững chãi như một ngọn núi chở che.
Chàng đưa tay vào vạt áo trước ngực, cẩn trọng lấy ra một chiếc hộp gấm nhỏ bằng gỗ hoàng đàn thơm ngát. Mở nắp hộp ra, bên trong lót lớp lụa vàng êm ái, đặt một chiếc trâm cài tóc bằng ngọc bích thượng hạng.
Chiếc trâm ngọc màu xanh biếc trong suốt không tì vết, nhưng điều đặc biệt nhất chính là phần đầu trâm: không hề chạm trổ hoa văn rồng bay phượng múa, cũng không đính ngọc trai cầu kỳ như trâm cài của các tiểu thư khuê các kinh thành. Thay vào đó, chiếc trâm được đẽo gọt vô cùng tỉ mỉ hình một bông lúa trĩu hạt uốn cong mềm mại, đan cài khéo léo với một nhánh bắp ngô nhỏ nhắn, từng hạt bắp ngọc đều tăm tắp, sống động như thật.
Từng đường chạm khắc tinh xảo ấy, nhìn qua những vết xước nhỏ li ti còn chưa kịp đánh bóng hết, Nhược Lam lập tức nhận ra: đây chính là do chàng tự tay thức trắng đêm, dùng dao gọt từng chút một mà thành!
Tiêu Lập ngước nhìn nàng, giọng nói trầm ấm, vang lên rõ ràng giữa khoảng sân trang viên lặng ngắt như tờ:
“Binh quyền mười vạn quân, ta đã trả lại cho giang sơn. Vương vị vạn hộ hầu, ta không màng để mắt. Cả đời này của Tiêu Lập, chỉ có hai bàn tay này: một tay cầm cung tên bảo vệ nàng bình an trọn kiếp, một tay cầm cán cuốc cùng nàng cày xới ruộng đồng.
Nàng muốn trồng ngô, ta cuốc đất. Nàng muốn dệt lụa, ta trồng dâu. Nàng muốn đi đến chân trời góc bể nào, ta liền dựng nhà tranh, đào ao thả cá ở nơi đó cùng nàng.
Khương Nhược Lam, nàng có bằng lòng gả cho một nông phu như ta, cùng ta chia ngọt sẻ bùi, an yên đi hết nửa đời còn lại hay không?”
Lời nói mộc mạc, không hoa mỹ, không thề non hẹn biển viển vông, nhưng từng câu từng chữ lại nặng tựa ngàn cân, chạm thẳng vào nơi mềm yếu nhất trong trái tim Nhược Lam.
Xuyên qua cuốn tiểu thuyết cung đấu đầy rẫy mưu mô toan tính này, nàng từng nghĩ mình chỉ là một kẻ pháo hôi qua đường cô độc, chỉ muốn vùi đầu vào ruộng đồng để tìm kiếm sự an toàn. Nàng chưa từng mong cầu một tình yêu oanh oanh liệt liệt, nhưng người đàn ông này… chàng đã dùng sự bao dung thầm lặng, dùng mạng sống để bảo vệ nàng, và dùng sự tôn trọng tuyệt đối đối với ước mơ trồng trọt của nàng để chứng minh tất cả.
Nước mắt hạnh phúc bỗng trào ra khỏi khóe mi, lăn dài trên gò má trắng mịn của Nhược Lam.
Bé Bảo Nha ở bên cạnh sốt ruột giậm chân bình bịch, chu môi nói to:
“Lam tỷ tỷ, tỷ mau đồng ý đi! Đồng ý đi để muội còn được ăn cỗ cưới bánh ngô nướng!”
“Đúng đấy Khương cô nương! Mau gật đầu đi!”
“Gả cho ngài ấy đi! Gả cho ngài ấy đi!”
Tiếng hò reo, vỗ tay của dân làng và đám hộ vệ vang lên như sấm dậy, cả thung lũng tràn ngập không khí hoan hỉ, phấn khởi ngút trời. Tam Thẩm Lý thị lấy vạt áo lau nước mắt cười rạng rỡ, Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu thì gật đầu lia lịa, trên mặt nở nụ cười mãn nguyện chưa từng có.
Nhược Lam nhìn người đàn ông đang quỳ trước mặt mình, nhìn ánh mắt vừa hồi hộp, vừa tràn đầy yêu thương tha thiết của chàng, nàng bất giác bật cười, nụ cười rạng ngời như hoa nở sau mưa.
Nàng cúi người xuống, vươn hai tay đón lấy chiếc hộp gỗ hoàng đàn, rồi nhẹ nhàng gật đầu:
“Được! Ta đồng ý!”
Nhược Lam nghiêng đầu, khẽ chớp mắt tinh nghịch:
“Nhưng chàng đã hứa rồi đấy nhé, một ngàn mẫu ruộng ngự tứ này rộng mênh mông, sau này việc cuốc đất, gánh nước nặng nhọc đều là của An Điền Hầu chàng cả, tuyệt đối không được lười biếng đâu đấy!”
Tiêu Lập thở phào một hơi thật dài, nụ cười rạng rỡ bừng sáng trên gương mặt cương nghị. Chàng đứng thẳng dậy, cẩn thận lấy chiếc trâm ngọc hình bông lúa ra khỏi hộp, nhẹ nhàng rút chiếc trâm gỗ cũ trên tóc nàng xuống, rồi tự tay cài chiếc trâm ngọc bích vào búi tóc mượt mà của thê tử tương lai.
Ngọc xanh biếc tôn lên làn da trắng nõn và đôi mắt long lanh của Nhược Lam, đẹp đến nao lòng.
Tiêu Lập siết chặt lấy bàn tay nàng trong lòng bàn tay ấm áp của mình, khẽ thì thầm bên tai nàng, giọng nói trầm khàn đầy cưng chiều:
“Tuân lệnh nương tử. Cả đời này, ta tình nguyện làm trâu làm ngựa cho nàng sai bảo.”
Tiếng reo hò, tiếng vỗ tay của hàng ngàn con người lại một lần nữa bùng nổ, vang dội khắp thung lũng Lạc Diệp. Khâm sai Tề Hoằng cười ha hả nâng chén rượu ngô do Tam Thúc vừa rót đầy, uống cạn một hơi chúc mừng cho đôi uyên ương tài đức vẹn toàn.
Hai người sóng vai đứng bên nhau trước khoảng sân ngập tràn nắng ấm. Nhược Lam phóng tầm mắt nhìn ra xa, nhìn ba mươi mẫu ngô ngọt trĩu hạt đang rì rào trong gió thu, nhìn đồi dâu xanh ngắt và dải sông Ngân Khê uốn lượn hiền hòa bao quanh ngàn mẫu ruộng phì nhiêu vừa được triều đình ban tặng.
Một ý nghĩ táo bạo và ngọt ngào bỗng nảy ra trong đầu nàng. Nhược Lam nghiêng đầu nhìn Tiêu Lập, khóe môi cong lên một nụ cười rạng rỡ:
“Tiêu Lập, ta không thích những lễ nghi cung đình gò bó, cũng chẳng muốn ngồi kiệu hoa bị nhốt kín trong bốn bức tường ngột ngạt.”
Tiêu Lập siết nhẹ tay nàng, ánh mắt tràn đầy sự nuông chiều vô điều kiện:
“Nàng muốn thế nào, ta đều theo ý nàng.”
“Hôn lễ của chúng ta…” Nhược Lam chỉ tay về phía cánh đồng ngô bát ngát đang ngả sang màu vàng óng ả dưới chân đồi, đôi mắt lấp lánh niềm hân hoan rực rỡ: “Chúng ta sẽ tổ chức ngay giữa cánh đồng ngô ngọt này! Dùng lá dâu xanh và bông bắp vàng kết cổng hoa, dùng lụa tơ tằm Hoàng Kim làm dải lụa mừng, mâm cỗ cưới sẽ toàn là sản vật thơm ngon nhất của núi rừng Lạc Diệp! Chàng thấy thế nào?”
Tiêu Lập nhìn theo hướng tay nàng chỉ, ngắm nhìn vựa bắp vàng mênh mông ngập tràn sức sống, rồi lại nhìn nụ cười rạng ngời của người con gái chàng yêu thương hơn cả sinh mệnh. Ánh mắt chàng chan chứa một tình yêu sâu đậm, không chút do dự mà gật đầu:
“Được. Hôn lễ giữa đồng ngô vàng… nhất định sẽ là đại hôn rực rỡ và ấm áp nhất thiên hạ!”
Nắng sớm mùa thu rót xuống thung lũng Lạc Diệp một màu vàng sóng sánh như mật ong hoa rừng. Gió từ đỉnh Lạc Nhạn thổi tràn qua những rặng thông già, mang theo hơi sương mát lạnh mơn man trên từng ngọn đồi dâu xanh mướt, rồi sà xuống cánh đồng ngô ba mươi mẫu đang vào độ chín rộ nhất trong năm. Cả một vùng thung lũng trù phú như một tấm thảm lụa khổng lồ được dệt nên bởi thiên nhiên và bàn tay con người: tầng trên là sắc vàng ruộm của những bắp ngô no tròn bọc trong lớp lá lụa khô hanh, tầng dưới là màu đất đỏ nâu màu mỡ tơi xốp, thơm nồng mùi thảo mộc và phù sa tích tụ.
Hôm nay là ngày đại hỷ của thôn Lạc Diệp.
Từ lúc gà gáy canh năm, cả thôn đã bừng tỉnh trong tiếng cười nói rộn rã và tiếng cối giã gạo thậm thịch. Không khí náo nhiệt lan tỏa từ đầu làng đến cuối ngõ, không một ai trong thôn chịu ngồi yên trong nhà. Người già rủ nhau nhóm lửa nấu nước chè xanh, cánh thanh niên lực lưỡng chia nhau vác bàn ghế gỗ mới bào nhẵn thín ra giữa đồng, còn các bà, các chị thì tíu tít rửa rau, làm cá bên bờ suối Ngân Khê.
Khác hẳn với những đám cưới quyền quý chốn kinh kỳ với tường cao cổng kín, tiếng đàn sáo cung đình khuôn sáo và những chiếc khăn trùm đầu đỏ chót ngột ngạt, hôn lễ hôm nay được bài trí hoàn toàn giữa đất trời bao la, ngay trên khoảng đất rộng đã thu hoạch xong ở trung tâm cánh đồng ngô.
Trước lối dẫn vào lễ đường thiên nhiên là một chiếc cổng hoa độc nhất vô nhị trải dài ngút mắt. Đó là tác phẩm mà đích thân Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu cùng đám trai tráng trong thôn kỳ công dựng nên suốt ba ngày qua. Tám thân tre đực già thẳng tắp, bóng loáng được uốn cong thành hình vòm cung vững chãi, hai bên đan cài dày đặc những cành dâu tằm lá xanh mướt mọng nước, điểm xuyết hàng trăm bắp ngô ngọt hạt vàng ươm đều tăm tắp được buộc bằng những sợi chỉ đỏ may mắn.
Đặc biệt nhất, quấn quanh khung tre và rủ xuống mềm mại như dòng suối vàng chính là những dải lụa tơ tằm Hoàng Kim trứ danh của xưởng dệt Lạc Diệp. Từng thước lụa vàng óng ả bắt lấy ánh nắng ban mai, lấp lánh như dát vàng thật, khẽ phấp phới bay lượn theo từng đợt gió thu xào xạc, tạo nên một khung cảnh vừa tráng lệ, vừa ngập tràn phong vị đồng quê thanh bình.
Bên trong căn nhà ngói mới khang trang năm gian vừa dựng xong sát bìa rừng, Khương Nhược Lam đang ngồi trước chiếc gương đồng sáng loáng.
Tam Thẩm Lý thị mặc một bộ áo dài vải bông màu tím hoa cà mới tinh, hai mắt hoe đỏ, tay cầm chiếc lược gỗ đào cẩn thận chải từng lọn tóc mượt mà đen nhánh cho nàng. Mỗi nhát lược đưa xuống, giọng bà lại nghẹn ngào rung lên từng chặp:
“Nhất xoa, xoa đến đầu bạc giai lão… Nhị xoa, xoa đến con cháu đầy đàn… Tam xoa, xoa đến ấm no trọn kiếp…”
Nhược Lam nhìn bóng hình người phụ nữ tần tảo trong gương, trong lòng trào dâng một cảm xúc ấm áp vô bờ. Nàng quay đầu lại, vươn tay nắm lấy bàn tay chai sần thô ráp của Tam Thẩm, mỉm cười trấn an:
“Tam Thẩm, hôm nay là ngày vui lớn của con mà, sao người lại rơi nước mắt thế kia? Căn nhà ngói mới này của con cách nhà thúc thẩm chưa đầy hai trăm bước chân, ngày nào con chẳng chạy sang vòi thẩm nấu canh rau tập tàng với chè bắp non.”
Lý thị lau vội giọt nước mắt lăn trên gò má rám nắng, vừa cười vừa mắng yêu:
“Con bé ngốc này, ta là mừng rớt nước mắt đấy chứ! Ngày trước khi con từ kinh thành bị đuổi về đây, toàn thân sốt run bần bật, nằm co ro trên đống rơm rạ mục nát trong căn chòi rách, thở ra thì nhiều mà hít vào thì ít. Lúc ấy ta cứ ngỡ… cứ ngỡ trời xanh bất công cướp mất đứa cháu gái ngoan ngoãn của ta. Ai mà ngờ được, Lam nha đầu của ta lại có bản lĩnh ngút trời như thế. Nhìn xem, bây giờ con đã là Thần Nông Nữ Sĩ do đích thân Hoàng thượng sắc phong, lại tìm được một trượng phu thương yêu con hết mực. Tiêu tướng công… à không, An Điền Hầu gia đối với con thật lòng thật dạ, ta dưới suối vàng gặp lại phụ mẫu con cũng có thể mỉm cười ngẩng cao đầu rồi.”
Nhược Lam ngắm mình trong gương đồng. Hôm nay nàng không đội mũ phượng nặng nề đính đầy hạt châu rườm rà như những tân nương quyền quý, mà chỉ búi tóc cao thanh nhã, cài chiếc trâm ngọc bích hình bông lúa ôm lấy bắp ngô – món tín vật do chính tay Tiêu Lập tỉ mỉ đục đẽo từng nét.
Bộ hỷ phục trên người nàng cũng là độc nhất vô nhị. Đó là tấm lụa Hoàng Kim đẹp nhất được dệt từ lứa tơ tằm vụ hè, nhuộm bằng nước ép vỏ cây dâu rừng và hoa hồng dại, tạo nên một sắc đỏ cam ấm áp như ánh ráng chiều rực rỡ. Trên vạt áo và cổ tay áo, nàng tự tay dùng chỉ tơ vàng thêu những họa tiết bông lúa trĩu hạt, lá dâu non và những hàng ngô thẳng tắp. Bộ trang phục vừa vặn tôn lên vòng eo thon thả, bờ vai mềm mại và làn da trắng hồng không tỳ vết của nàng tiến sĩ nông học. Đôi mắt hạnh trong veo lấp lánh ý cười, khóe môi thoa chút son đỏ làm bừng sáng cả gian phòng.
Đúng lúc ấy, cánh cửa gỗ bật mở, một thân ảnh nhỏ nhắn khoác áo gấm đỏ rực rỡ như một chiếc bao lì xì chạy tót vào.
“Lam tỷ tỷ! Đẹp quá! Tỷ tỷ hôm nay giống hệt tiên nữ hạ phàm trên tranh vẽ ở huyện thành!”
Bé Bảo Nha vừa thở hổn hển vừa reo lên, hai bím tóc củ hành lắc lư theo từng nhịp nhảy. Con bé mặc chiếc áo gấm đỏ mà Nhược Lam mua tặng từ chuyến lên huyện lần trước, hai má phúng phính trắng trẻo, trước ngực ôm khư khư một chiếc giỏ mây nhỏ đan tinh xảo.
Nhược Lam bật cười, cúi xuống véo nhẹ chiếc má bánh bao của cô bé:
“Cái miệng nhỏ này hôm nay thoa mật đấy à? Trong giỏ của muội đựng thứ gì mà quý hóa thế?”
Bảo Nha lập tức ưỡn ngực, vẻ mặt vô cùng tự hào khoe chiếc giỏ ra:
“Đây là ngô giống vàng Hoàng Kim vụ mới nhất do đích thân muội cùng Tam Thúc chọn từng hạt mẩy nhất đấy ạ! Hắc Lục ca ca bảo, lát nữa muội phải đi trước tỷ và Tiêu đại ca, vừa đi vừa rải ngô giống xuống đất để chúc cho hai người trăm năm hòa thuận, ruộng lúa trĩu bông, thóc ngô đầy bồ!”
Tam Thẩm nghe vậy bật cười ha hả, gõ nhẹ vào trán con gái:
“Cái con bé lanh chanh này, học được mấy lời này ở đâu thế không biết! Thôi, giờ lành đến rồi, mau ra ngoài thôi, tân lang đã dẫn đầu đoàn người đứng chờ ngoài cổng ruộng rồi đấy!”
Khi Nhược Lam bước ra khỏi hiên nhà ngói, nàng không khỏi sững sờ trước khung cảnh trước mắt.
Dưới vòm trời thu trong xanh ngăn ngắt, Tiêu Lập đang đứng sừng sững bên cổng hoa kết bằng lá dâu và bông bắp. Chàng không mặc chiến giáp bạc sắc lạnh nơi sa trường, cũng không khoác triều phục quyền quý của bậc Hầu tước triều đình. Chàng mặc một bộ trường bào màu đỏ thẫm may bằng chất vải lụa tơ tằm thô mộc, viền áo thêu chỉ vàng đồng điệu hoàn hảo với hỷ phục của nàng.
Dáng người chàng cao lớn, bờ vai rộng vững chãi như núi Thái Sơn, mái tóc đen được búi gọn bằng chiếc trâm bạc đơn giản. Làn da ngăm đồng hun khỏe khoắn càng làm nổi bật đường nét gương mặt cương nghị, sống mũi cao thẳng tắp và đôi mắt phượng sâu thẳm. Khoảnh khắc nhìn thấy Nhược Lam bước ra, ánh mắt sắc bén từng làm kinh hồn bạt vía bao quân giặc nơi biên ải bỗng chốc tan chảy hoàn toàn, chỉ còn lại sự dịu dàng, say đắm và niềm hạnh phúc ngập tràn không thể che giấu.
Chàng bước nhanh về phía nàng, mỗi bước đi đều vững chãi như muốn đạp bằng mọi giông bão trên thế gian để đến bên người con gái mình yêu. Khi dừng lại trước mặt nàng, chàng vươn bàn tay to lớn, ấm áp ra, nhẹ nhàng bao bọc lấy bàn tay nhỏ nhắn của Nhược Lam.
“Lam nhi, nàng hôm nay… rất đẹp.” Tiêu Lập khẽ thì thầm, giọng nói trầm ấm khàn khàn mang theo hơi thở run rẩy vì xúc động.
Nhược Lam ngước nhìn chàng, cảm nhận hơi ấm vững chãi từ lòng bàn tay chàng truyền qua da thịt, trái tim nàng đập rộn ràng như nai con nhảy múa. Nàng nghiêng đầu, cười tinh quái:
“Hôm nay An Điền Hầu cũng rất tuấn tú, hoàn toàn không giống một gã thợ săn mặt lạnh chỉ biết vác lợn rừng đến đòi đổi thịt lấy rau dại ngày nào nữa.”
Tiêu Lập bật cười trầm thấp, tiếng cười rung lên trong lồng ngực rắn rỏi:
“Dù là thợ săn hay Hầu tước, ta vĩnh viễn chỉ là người cuốc đất, gánh nước cho riêng nàng.”
“Oa! Tiêu đại ca dỗ dành thê tử khéo quá đi mất!”
Tiếng reo hò của Hắc Lục vang lên phá vỡ không gian riêng tư của hai người. Chàng thị vệ thân tín hôm nay cũng mặc một bộ cẩm y mới tinh tươm, hai tay gõ hai chiếc nắp vung đồng vào nhau lách cách, mồm mép liến thoắng khuấy động bầu không khí:
“Bà con cô bác ơi! Giờ lành đã đến, nghênh đón tân lang tân nương bước vào vựa ngô vàng nào!”
Tiếng pháo trúc nổ giòn giã “đùng đoàng” vang dội khắp thung lũng, khói thơm lan tỏa trong gió sớm. Tiếng sáo trúc và tiếng trống cơm của phường nhạc nghiệp dư trong thôn bắt đầu tấu lên những khúc nhạc điền viên vui tươi, rộn rã.
Bé Bảo Nha mặc áo đỏ lon ton chạy phía trước. Đôi bàn tay nhỏ nhắn thoăn thoắt bốc từng nắm hạt ngô vàng mẩy, tròn bóng như những hạt ngọc rải đều trên con đường đất rải rơm khô dẫn lối giữa hai hàng ruộng ngô trĩu hạt. Vừa rải, con bé vừa cất giọng trong trẻo hô vang:
“Một hạt rơi xuống đất, vạn hạt trĩu đầy bông!”
Dân làng đứng chật kín hai bên bờ ruộng đồng thanh đáp lại, tiếng hô vang dội như sấm rền:
“Đầy bông! Đầy bông!”
“Trăm năm duyên cầm sắt, bạc đầu chẳng rời tay!”
“Chẳng rời tay! Chẳng rời tay!”
Nhược Lam cùng Tiêu Lập mười ngón tay đan chặt vào nhau, từng bước sải bước trên con đường rải đầy ngô vàng và rơm thơm. Hai bên lối đi, những cây ngô cao ngang đầu người khẽ đung đưa trong gió, những chùm râu ngô màu nâu đỏ óng ánh như những dải nơ chúc phúc, từng bắp ngô to tròn, mập mạp như đang mỉm cười chào đón nữ chủ nhân và người trượng phu đã cùng nàng khai hoang lập nghiệp trên mảnh đất cằn cỗi này.
Nước mắt Nhược Lam bỗng chốc ngân ngấn nơi khóe mi. Nàng nhớ lại những ngày đầu tiên tỉnh dậy trong thân xác này, đôi bàn tay trắng bợt run rẩy vì đói, sự ghẻ lạnh của người thân thích họ Chu, sự đe dọa của quan sai kinh thành… Từng bước, từng bước một, nàng đã dùng đôi bàn tay này cuốc từng tấc đất sỏi đá, dùng tri thức nông học để cải tạo đất phèn, ủ phân vi sinh, bắc máng nước ống tre qua từng hốc đá. Và trên con đường đầy chông gai ấy, luôn có bóng dáng cao lớn, thầm lặng của người đàn ông này đi bên cạnh, che mưa chắn gió, sẵn sàng dùng tính mạng để bảo bọc giấc mơ ruộng đồng của nàng.
Hôm nay, giấc mơ ấy không chỉ thành hiện thực, mà còn nở hoa rực rỡ giữa mùa vàng no ấm.
Khi đôi tân nhân bước lên khoảng đất trung tâm, nơi đặt một chiếc bàn thờ thiên địa bằng gỗ mộc mạc bày đầy sản vật cây nhà lá vườn: một bó ngô ngọt chín vàng, một bó lúa nếp trĩu hạt, một giỏ dâu tằm chín mọng và một ấm rượu ngô thơm phức, Lý chính thôn Lạc Diệp trong bộ lễ phục chỉnh tề trịnh trọng bước lên làm chủ lễ.
Ông vuốt chòm râu bạc, giọng nói run run vì xúc động nghẹn ngào:
“Hôm nay, trời xanh chứng giám, núi Lạc Nhạn làm chứng, sông Ngân Khê đưa duyên! Tân lang Tiêu Triệt, tân nương Khương Nhược Lam, hai người cùng chung chí hướng, lấy đất đai làm gốc, lấy đức độ dưỡng người, cứu vạn dân thoát nạn đói, đưa thôn xóm đến ấm no! Nay kết tóc se duyên, kết nghĩa phu thê, phúc lộc đời đời!”
“Nhất bái Thiên Địa — cảm tạ đất trời ban mưa thuận gió hòa, ban mùa màng bội thu!”
Tiêu Lập và Nhược Lam cùng nhau quỳ xuống trên tấm chiếu hoa dệt bằng cói thơm, hướng về phía bầu trời thu bao la và dãy núi Lạc Nhạn sừng sững mà dập đầu thành kính. Nắng thu vàng ấm áp rọi xuống lưng hai người, như sự chúc phúc dịu dàng của trời đất.
“Nhị bái Cao Đường — cảm tạ công đức tổ tiên, ghi lòng tạc dạ ân tình xóm làng!”
Hai người quay người lại, hướng về phía Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu và Tam Thẩm Lý thị đang ngồi ở ghế thượng tọa. Tam Thúc run run đưa tay nâng chén trà thơm, hốc mắt đỏ hoe gật đầu lia lịa, còn Tam Thẩm thì vừa cười vừa lấy vạt áo chấm nước mắt không ngừng.
“Phu thê giao bái — đồng cam cộng khổ, trọn đời sắt son!”Tiêu Lập quay người lại, đối diện với Nhược Lam. Chàng nhìn sâu vào đôi mắt long lanh ngấn lệ nhưng ngập tràn hạnh phúc của thê tử, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười ấm áp vô cùng. Hai người cùng cúi đầu thật sâu, trán chạm nhẹ vào nhau trong tiếng vỗ tay, hò reo vang dội cả một góc trời.
“Thành lễ! Khai tiệc thôi bà con ơi!”
Tiếng hô vang của Hắc Lục vừa dứt, cả cánh đồng ngô như nổ tung trong niềm hân hoan tột cùng.
Không có những lễ nghi cung cấm gò bó, không có sự phân chia giai cấp sang hèn, tất cả mọi người ùa vào những dãy bàn tiệc dài được ghép bằng những phiến gỗ thông thơm nức, trải dài dọc theo các lối đi giữa ruộng ngô. Mùi hương ngào ngạt của thức ăn nóng hổi bốc lên nghi ngút, hòa quyện với mùi ngô chín và gió đồng, k*ch th*ch toàn bộ vị giác của hàng trăm thực khách.
Mâm cỗ cưới hôm nay là tâm huyết suốt mấy ngày trời do đích thân Nhược Lam lên thực đơn và hướng dẫn các thím, các cô trong thôn chế biến. Toàn bộ đều là những sản vật tinh túy nhất của núi rừng, sông suối và nông trang Lạc Diệp, mang đậm triết lý ẩm thực thuận tự nhiên, tươi ngon và bổ dưỡng.
Món ăn đầu tiên được bưng lên khiến ai nấy đều trầm trồ kinh ngạc chính là món “Gà đồi bọc đất nướng than hồng”. Những con gà thả đồi thịt chắc nịch, da vàng óng được làm sạch, nhồi chặt bụng bằng lá móc mật, gừng tươi, tiêu rừng và râu ngô non thanh ngọt. Bên ngoài gà được bọc kín bằng ba lớp lá sen tươi ngát hương, rồi đắp một lớp đất sét mịn lấy từ lòng suối Ngân Khê, nướng vùi suốt ba canh giờ trong đống than củi gỗ dẻ hồng rực.
Khi Tiêu Lập cầm chiếc búa gỗ nhỏ gõ nhẹ vào lớp đất sét nung khô, lớp vỏ đất nứt toác ra, hương thơm nồng nàn ngây ngất của thịt gà quyện lẫn mùi lá sen và hạt tiêu rừng lập tức bùng nổ, lan tỏa khắp không gian. Từng thớ thịt gà trắng ngần, mọng nước, mềm ngọt đến tận xương, lớp da giòn sần sật ngấm trọn vị ngọt tự nhiên của thảo mộc khiến người ta chỉ mới ngửi thôi đã ứa nước miếng.
Bên cạnh đĩa gà đồi là món “Cá suối nướng trui cuốn lá lốt rừng”. Những con cá suối béo mầm được đánh bắt từ sáng sớm khi dòng Ngân Khê còn lượn lờ sương mai, cá được kẹp vào những thanh tre tươi nướng gián tiếp trên than hồng đến khi lớp vảy bên ngoài cháy sém giòn rụm, tỏa ra mùi thơm phức đặc trưng. Thịt cá trắng tinh, ngọt lịm như sữa, được gỡ ra cuộn tròn trong những chiếc lá lốt rừng xanh thẫm, chấm cùng bát muối hột giã ớt chỉ thiên và hạt dổi rừng cay nồng, the the đầu lưỡi. Vị béo bùi của cá hòa quyện với vị nồng ấm của lá lốt tạo nên một hương vị hoang dã mà tinh tế tuyệt luân.
Nhưng món ăn làm nên linh hồn của mâm cỗ cưới chính là hai món làm từ ngô ngọt trứ danh của Nhược Lam: “Xôi bắp ngọt dẻo thơm” và “Chè bắp non hạt sen đường phèn”.
Đĩa xôi bắp bốc khói nghi ngút được đơm đầy đặn trên những chiếc đĩa gốm mộc. Nhược Lam đã khéo léo kết hợp những hạt ngô ngọt mọng nước vừa hái tại ruộng với gạo nếp nương dẻo quánh, đồ chín bằng hơi nước lá nếp thơm lừng. Từng hạt xôi bóng bẩy, vàng ruộm, rưới thêm một muỗng mỡ gà phi hành củ thơm điếc mũi và rắc chút muối mè giã nhỏ. Khi cắn vào, hạt ngô ngọt nổ lách tách trong miệng, giải phóng dòng nước ngọt lịm thanh mát, hòa tan vào vị dẻo bùi béo ngậy của nếp nương, tạo nên một cảm giác thỏa mãn vô cùng.
Còn món chè bắp non hạt sen lại là điểm nhấn ngọt ngào hoàn hảo khép lại bữa tiệc mặn. Nhược Lam dùng những bắp ngô bao tử còn ngậm sữa, bào mỏng rồi nấu liu riu cùng hạt sen tươi của đầm Lạc Nhạn và đường phèn thanh khiết. Nước chè sánh mịn tự nhiên nhờ tinh bột ngô, trong veo, thoang thoảng hương sen thanh tao, vị ngọt dịu nhẹ đọng lại nơi cuống họng xua tan đi mọi cảm giác ngấy mỡ.
Bé Bảo Nha ngồi bên cạnh mâm của đám trẻ con, hai tay cầm hai chiếc đùi gà bọc đất, miệng dính đầy mỡ gà bóng nhẫy, nhai nhồm nhoàm không kịp nuốt:
“Ngon quá! Ngon muốn nuốt cả lưỡi luôn rồi! Đời này muội chưa từng được ăn cỗ cưới nào ngon như thế này!”
Mọi người xung quanh nhìn thấy điệu bộ của cô bé đều cười nghiêng ngả. Tam Thúc đứng dậy, tay bưng chiếc bát sành đựng đầy rượu ngô sóng sánh màu vàng nhạt, cất giọng sang sảng:
“Bà con ơi! Rượu ngô này là rượu do chính tay Lam nha đầu ủ từ vụ ngô ngọt đầu tiên, chôn dưới gốc dâu già suốt một năm qua! Rượu này uống vào êm ru, ngọt giọng, ấm bụng chứ không hề đau đầu! Nào, chúng ta cùng nâng chén chúc mừng cho Hầu gia và Thần Nông Nữ Sĩ của thôn ta trăm năm hạnh phúc, chúc cho Lạc Diệp ta vụ nào cũng bội thu, nhà nào cũng ngập tràn tiếng cười!”
“Cạn chén! Chúc mừng tân lang tân nương!”
“Chúc Hầu gia và Lam cô nương sớm sinh quý tử!”
Hàng trăm chiếc bát sành va vào nhau kêu “leng keng” rộn rã. Tiếng cười, tiếng chúc tụng, tiếng hò reo vang vọng khắp thung lũng, át cả tiếng gió xào xạc trên cánh đồng ngô.
Tiêu Lập nắm tay Nhược Lam đi từng bàn đáp lễ. Chàng uống rượu thay nàng, mỗi một chén rượu mừng của dân làng chàng đều uống cạn một hơi không hề từ chối. Thân hình cao lớn, vững chãi của chàng đứng chắn gió cho nàng, ánh mắt khi nhìn dân làng thì chân thành, hào sảng, nhưng mỗi lần cúi xuống nhìn nàng lại ngập tràn sự cưng chiều, ân cần từng li từng tí:
“Nàng mệt không? Để ta đỡ nàng ngồi nghỉ một lát nhé?”
Nhược Lam ngước nhìn gò má hơi ửng hồng vì men rượu của phu quân, lắc đầu mỉm cười:
“Không mệt, hôm nay ta vui lắm. Nhìn thấy mọi người ăn ngon miệng, cười rạng rỡ như thế này, bao nhiêu công sức vất vả mấy tháng qua đều xứng đáng cả.”
Mặt trời dần ngả về tây, ánh hoàng hôn buông xuống nhuộm đỏ rực cả nền trời phía chân núi Lạc Nhạn. Ánh ráng chiều dát một lớp viền vàng cam lộng lẫy lên từng ngọn cây, từng ngọn đồi dâu và trải dài vô tận trên vựa bắp vàng óng ả. Cánh đồng ngô trong buổi chiều tà bỗng chốc lung linh như một biển vàng huyền ảo, gió thu thổi qua làm những hàng ngô nghiêng ngả, tấu lên bản giao hưởng rì rào bất tận của đất trời.
Dân làng sau một ngày vui chơi no say bắt đầu tản dần về, ai nấy trên tay đều được Tam Thẩm dúi cho một túi ngô ngọt và một cuộn lụa tơ tằm đem về làm quà mừng.
Giữa cánh đồng ngô bao la chỉ còn lại hai người đứng sóng vai bên nhau. Những chiếc lồng đèn đỏ treo trên các thân tre bắt đầu được thắp sáng, tỏa ra ánh sáng ấm áp, lung linh trong màn đêm chập chờn buông xuống.
Tiêu Lập rót đầy hai chiếc chén ngọc bích nhỏ bằng thứ rượu ngô thơm nồng đượm, bước đến trước mặt Nhược Lam. Dưới ánh trăng non vừa ló dạng trên đỉnh núi và ánh đèn lồng chập chờn, gương mặt tuấn lãng của chàng ngập tràn vẻ trang nghiêm và dịu dàng khôn xiết.
Chàng nâng một chén đưa cho nàng, giọng trầm khàn vang lên giữa không gian tĩnh mịch của đồng quê:
“Lam nhi, kiếp này Tiêu Triệt ta từng dẫn mười vạn quân, từng tắm máu nơi sa trường, từng ngỡ sinh mệnh này chỉ để chém giết và trả nợ nước non. Nhưng từ ngày gặp nàng nơi bìa rừng Lạc Nhạn, ăn bát cơm nóng nàng nấu, ngắm nhìn nàng rạng rỡ bên những luống ngô non… ta mới hiểu thế nào là sống, thế nào là bình yên đích thực.”
Chàng siết nhẹ những ngón tay thon thả của nàng, đôi mắt phượng ánh lên sự kiên định ngàn đời không đổi:
“Ta từ bỏ giáp bạc, từ bỏ vương vị nơi kinh thành, chưa từng có nửa phần hối tiếc. Đời này kiếp này, ta nguyện cùng nàng cày cấy, cùng nàng gieo hạt, cùng nàng ngắm nhìn mùa vàng bội thu. Nàng muốn đi đâu, ta theo đó; nàng muốn dựng xây cơ nghiệp, ta làm cánh tay vững chãi nhất cho nàng. Trời đất chứng giám, Tiêu Triệt này trọn đời trọn kiếp chỉ có một thê tử là Khương Nhược Lam, thề không phụ bạc!”
Từng lời, từng chữ của chàng trầm hùng như tiếng chuông đồng, ghim sâu vào tận đáy tim Nhược Lam. Khóe mắt nàng cay cay, nhưng nụ cười trên môi lại rực rỡ hơn bao giờ hết.
Nàng nâng chén rượu ngọc, vươn tay vòng qua cánh tay rắn rỏi của chàng, nhẹ nhàng nói:
“Đời này kiếp này, có chàng cùng ta cày ruộng, tưới tiêu, chia ngọt sẻ bùi, Nhược Lam ta không còn mong cầu gì hơn nữa. Dù sau này có bão giông hay hạn hán, chỉ cần có chàng bên cạnh, mảnh đất cằn cỗi nào chúng ta cũng có thể biến thành vựa lúa vàng trù phú.”
Hai người nhìn sâu vào mắt nhau, rồi cùng ngửa đầu uống cạn chén rượu giao bôi. Vị rượu ngô cay nồng ban đầu nhanh chóng tan biến, thay vào đó là vị ngọt ngào, êm dịu lan tỏa khắp khoang miệng, ấm nóng chạy dọc xuống lồng ngực, hòa quyện hai tâm hồn đồng điệu làm một.
Tiêu Lập buông chén ngọc xuống bàn, không kìm được nữa mà vươn tay kéo Nhược Lam vào lòng. Chàng cúi đầu, đặt lên đôi môi mềm mại thoa son đỏ của nàng một nụ hôn sâu thẳm, nồng nàn men say của tình yêu và đất trời. Nhược Lam nhắm mắt lại, hai tay vòng qua tấm lưng rộng vững chãi của trượng phu, đón nhận hơi ấm nồng nàn và sự che chở trọn vẹn của chàng.
Gió đêm mùa thu thổi qua cánh đồng ngô rì rào như tiếng reo vui chúc phúc. Ánh trăng vằng vặc soi sáng đôi bóng hình ôm chặt lấy nhau giữa mùa vàng rực rỡ.
Đêm tân hôn buông xuống êm đềm trên thôn nhỏ Lạc Diệp.
Căn phòng tân hôn trong ngôi nhà ngói mới ngập tràn ánh nến đỏ lung linh và mùi thơm thoang thoảng của hoa cúc dại cắm trong chiếc bình gốm đầu giường. Trên chiếc giường gỗ mun lót đệm rơm mới thơm mùi nắng, tấm màn lụa Hoàng Kim rủ xuống mềm mại, ngăn cách thế giới ồn ào bên ngoài.
Tiêu Lập nhẹ nhàng cởi chiếc áo khoác hỷ phục thêu chỉ vàng cho Nhược Lam, rồi cẩn thận rút chiếc trâm ngọc bích hình bông lúa đặt lên chiếc bàn trang điểm. Mái tóc đen mượt như dòng suối của nàng xõa tung trên bờ vai trắng mịn như ngọc thạch.
Chàng ôm trọn nàng vào lòng từ phía sau, cằm tựa nhẹ l*n đ*nh đầu nàng, hít hà mùi hương thảo mộc thanh khiết trên mái tóc thê tử. Nhược Lam tựa lưng vào lồng ngực ấm áp, vững chãi của chàng, lắng nghe từng nhịp tim đập đều đặn, mạnh mẽ của người đàn ông đã vì nàng mà buông bỏ vinh hoa phú quý chốn kinh kỳ. Nàng cảm thấy một sự an toàn và thỏa mãn chưa từng có kể từ khi xuyên không đến thế giới này.
Nhìn qua ô cửa sổ mở hé, nàng có thể thấy rõ ngàn mẫu ruộng phì nhiêu ngự tứ trải dài tít tắp dưới ánh trăng bạc, dòng sông Ngân Khê lấp lánh như một dải ngân hà uốn lượn quanh chân núi.
Tiêu Lập siết chặt vòng tay, những ngón tay thô ráp của chàng đan cài vào những ngón tay mềm mại của nàng, khẽ hôn lên vành tai ửng đỏ của thê tử, giọng chàng trầm thấp, thì thầm bên tai nàng:
“Lam nhi, một ngàn mẫu ruộng triều đình ban thưởng này mới chỉ là bước khởi đầu thôi.”
Nhược Lam ngạc nhiên quay đầu lại, chớp mắt nhìn chàng:
“Chàng có ý gì?”
Tiêu Lập mỉm cười, đôi mắt sáng rực như những vì sao trên bầu trời đêm:
“Hôm trước khi rời kinh thành, Ninh Viễn Đế đã bí mật ban cho ta một đạo mật chỉ. Hoàng thượng đã tận mắt chứng kiến bắp ngô ngọt của nàng cứu sống nạn dân sáu châu phương Bắc, ngài vô cùng kính phục phương pháp canh tác của nàng. Ngài muốn thông qua Nông thương hội quán tại Vân Khê, lấy nông trang Lạc Diệp của chúng ta làm hình mẫu trung tâm, từng bước nhân rộng mô hình kinh tế nông – lâm – ngư tuần hoàn, dẫn nước ống tre và giống ngô chịu hạn này ra khắp mười hai châu huyện của Đại Ninh.”
Nhược Lam nghe đến đây, hai mắt bừng sáng long lanh như chứa cả một bầu trời sao, cơn buồn ngủ bỗng chốc tan biến sạch trẽn:
“Chàng nói thật sao? Mười hai châu huyện… khắp giang sơn Đại Ninh đều sẽ được học kỹ thuật cải tạo đất, chọn giống lai tạo và luân canh cây họ đậu sao?”
“Đúng vậy.” Tiêu Lập nhìn vẻ mặt hưng phấn, rạng rỡ của nàng, trong mắt chàng tràn đầy sự tự hào và sủng ái vô biên: “Nàng sẽ là tổng công trình sư nông nghiệp của cả thiên hạ. Nhưng đừng lo, nàng chỉ cần truyền dạy tri thức và chỉ đạo phương hướng thôi, còn việc khai khẩn đất hoang, điều động nhân lực, vận chuyển hạt giống và đập tan những kẻ gian thương cản đường… cứ để An Điền Hầu ta gánh vác toàn bộ.”
Chàng cúi xuống, hôn nhẹ lên sống mũi thanh tú của nàng, giọng nói dịu dàng như làn nước mùa thu:
“Nhưng đó là chuyện của ngày mai. Còn đêm nay… nàng chỉ được phép nghĩ đến một mình phu quân của nàng mà thôi.”
Nhược Lam đỏ bừng mặt, khẽ rúc đầu vào lồng ngực ấm áp của chàng, khóe môi cong lên một nụ cười viên mãn, ngọt ngào. Tiêu Lập vươn tay kéo tấm màn lụa Hoàng Kim buông rủ, che đi ánh nến đỏ chập chờn, ôm trọn người con gái chàng yêu thương nhất vào một đêm xuân nồng nàn, ấm áp giữa thung lũng mùa vàng trù phú.
Tiếng pháo nổ giòn giã trong ngày đại hôn dường như vẫn còn vương vấn đâu đây trên từng ngọn cây ngọn cỏ của thung lũng Lạc Diệp, nhưng với Khương Nhược Lam, hạnh phúc không nằm ở những mâm cao cỗ đầy hay danh vị hư ảo, mà bắt đầu từ chính nhịp đập hối hả của đất trời khi bước vào vụ canh tác mới.
Ngay sau ngày thành hôn, Nhược Lam không chịu ngồi yên trong gian phòng ngói đỏ ấm áp để làm một “Hầu phu nhân” an nhàn hưởng phúc. Nàng lại thay bộ y phục bằng vải thô màu cỏ úa quen thuộc, ống tay áo bó gọn ghẽ, mái tóc đen mượt vấn cao bằng chiếc trâm ngọc bích hình bắp ngô mà Tiêu Lập tự tay khắc tặng. Đứng trước ngàn mẫu ruộng phì nhiêu ngự tứ trải dài từ chân núi Lạc Nhạn ra tận bờ sông Ngân Khê, đôi mắt hạnh của nàng ánh lên niềm say mê cuồng nhiệt của một người sinh ra để gắn bó với ruộng đồng.
Thế nhưng, danh tiếng “Thần Nông Nữ Sĩ” cùng một ngàn mẫu ruộng ngự tứ miễn thuế hai mươi năm của triều đình chưa kịp lắng xuống thì sóng ngầm chốn thương trường đã bắt đầu cuộn trào. Việc triều đình phê chuẩn cho nàng thành lập “Nông thương hội quán Vân Khê” nhằm phổ biến giống ngô ngọt chịu hạn và kỹ thuật canh tác tuần hoàn ra mười hai châu huyện đã trực tiếp đụng chạm đến chén cơm manh áo của đám phú thương hào tộc lũng đoạn bấy lâu nay.
Đứng đầu phe này là Kim Đại Phú – chánh hội trưởng cũ của thương hội huyện Vân Khê, một kẻ nổi tiếng gian manh chuyên đầu cơ tích trữ thóc giống, ép giá nông dân vào mùa đói và bán cắt cổ vào mùa gieo cấy. Thấy miếng bánh béo bở sắp vuột khỏi tay, Kim Đại Phú cấu kết cùng mấy chủ trại buôn hạt giống lớn trong vùng, ngấm ngầm giở trò bẩn thỉu. Chúng rêu rao tin đồn nhảm khắp các hàng quán: “Giống ngô ngọt Lạc Diệp tuy sai bắp nhưng rễ ăn sâu hút cạn tinh khí đất trời, trồng hai vụ là đất đai biến thành cát trắng vô sinh”; mặt khác, chúng cho người chặn các ngả đường độc đạo, mua chuộc các phường xe bò không cho vận chuyển hạt giống và phân bón của hội quán ra khỏi địa giới huyện Vân Khê.
Một buổi sớm mùa sương giăng, khi Nhược Lam đang cùng Tam Thúc kiểm tra những bao hạt giống ngô Hoàng Kim đã ủ mầm nứt nanh trong kho thì Hắc Lục – nay đã là chưởng quản hộ vệ của nông trang – hớt hải chạy vào báo tin:
“Tẩu tử! Lão Kim Đại Phú dẫn theo mấy chục tên tay chân cùng một đám lái buôn đang vây kín cổng Nông thương hội quán ở huyện thành. Chúng kích động hàng trăm bà con nông dân từ các xã lân cận, bảo rằng nếu gieo ngô của tẩu tử thì sang năm cả làng sẽ chết đói vì đất kiệt quệ. Đám phu xe thuê chở giống sáng nay cũng bị người của chúng chặn đánh, quẳng cả chục bao giống xuống mương nước!”
Nghe vậy, Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu giận đến run người, đập mạnh tay xuống bàn:
“Đúng là lũ súc sinh ăn thịt người không nhả xương! Bà con mấy năm nay bị hạn hán cơ cực đến thế nào chúng không xót xa, nay có giống ngô tốt để thoát nghèo thì chúng lại đơm đặt, hãm hại!”
Trái ngược với sự phẫn nộ của Tam Thúc, Nhược Lam chỉ khẽ nhấp một ngụm trà râu ngô hoa cúc, khóe môi khẽ nhếch lên thành một nụ cười lạnh lùng:
“Tam Thúc bớt giận. Bọn chúng nhảy nhót như vậy chứng tỏ chúng đang sợ hãi đến phát điên rồi. Trò bẩn này ta đã lường trước từ ngày nhận chiếu chỉ của Hoàng thượng.”
Nàng quay sang Hắc Lục, giọng điệu dứt khoát, rành rọt:
“Hắc Lục, bảo người chuẩn bị cho ta hai cỗ xe ngựa. Một xe chở mười lu chứa mẫu đất đã cải tạo bằng phân vi sinh và tro trấu ba năm qua ở đồi Lạc Diệp, một xe chở đầy bắp ngô luộc chín thơm phức cùng những cây ngô giống tươi non nhổ cả gốc rễ. Hôm nay, ta sẽ đích thân đến huyện thành dạy cho đám con buôn mạt hạng ấy một bài học về đạo làm nông.”
“Nàng muốn đi, sao không gọi phu quân của nàng một tiếng?”
Một giọng nói trầm ấm, uy nghiêm vang lên từ bậu cửa. Tiêu Lập bước vào, thân hình cao lớn vạm vỡ như che khuất cả ánh nắng sớm mai. Chàng đã cởi bỏ bộ trường bào nhàn tản, mặc một bộ kình trang bằng vải chàm sẫm màu, bên hông đeo thanh bội đao quen thuộc. Đôi mắt đại bàng sắc bén từng khiến quân giặc nơi biên ải khiếp vía lúc này chỉ ngập tràn sự che chở và cưng chiều khi nhìn về phía thê tử.
Tiêu Lập bước đến, tự nhiên vươn tay chỉnh lại lọn tóc mai bay lòa xòa bên má Nhược Lam, khẽ cười:
“Kẻ dùng lý lẽ thuyết phục lòng dân cứ để Thần Nông Nữ Sĩ lo. Còn kẻ dám giở trò lưu manh dùng nắm đấm chặn đường xe giống của thê tử ta… cứ để An Điền Hầu ta xử lý tận gốc rễ.”
Nhược Lam ngước nhìn chàng, trong lòng dâng lên một dòng nước ấm áp vô ngần. Nàng gật đầu cười tươi:
“Được! Phu thê đồng lòng, tát cạn bi*n đ*ng. Chúng ta xuất phát!”
Trước cửa Nông thương hội quán huyện Vân Khê lúc này vô cùng hỗn loạn. Kim Đại Phú bụng phệ như cái chum, tay cầm quạt phe phẩy, đang đứng trên một chiếc ghế gỗ cao giọng xúi giục đám đông:
“Bà con nghe ta nói! Lão phu kinh doanh giống má mấy chục năm nay, chưa từng nghe giống cây nào vừa ngọt vừa to mà không hại đất! Khương thị ỷ có chút công trạng với triều đình, đem giống cây ma quỷ này gieo rắc khắp mười hai châu huyện hòng thâu tóm đất đai của bà con đấy! Mau đập vỡ cái hội quán này đi, đuổi nàng ta về kinh thành!”
Một số nông dân thiếu hiểu biết, bị kẻ xấu kích động, bắt đầu xôn xao cầm gậy gộc hò hét. Đúng lúc ấy, tiếng vó ngựa dồn dập vang lên như sấm rền từ đầu phố.
“Ai dám làm loạn ở cửa Nông thương hội quán?!”
Tiếng quát trầm hùng mang theo nội lực thâm hậu của Tiêu Lập vang lên khiến cả con phố lập tức im bặt. Đám đông tự động dạt ra hai bên. Tiêu Lập ghìm cương tuấn mã đen tuyền, phía sau là hai mươi cựu binh Trấn Bắc quân giáp trụ chỉnh tề, ánh mắt sắc như dao cạo, tỏa ra sát khí sa trường khiến đám tay chân của Kim Đại Phú run lẩy bẩy như cầy sấy.
Nhược Lam bước xuống từ cỗ xe ngựa phía sau. Nàng không hề mang vẻ quyền quý của một phu nhân Chánh Tam Phẩm, mà bước đi thong thả, đĩnh đạc giữa hàng ngàn con mắt đang dồn về phía mình.
Nàng đứng trước thềm hội quán, ra hiệu cho Hắc Lục bê mười chiếc chậu gốm đựng đất đặt ngay ngắn trước mặt bàn dân thiên hạ.
“Bà con huyện Vân Khê!” Nhược Lam cất giọng trong trẻo nhưng rành mạch, từng lời từng chữ vang xa: “Kim hội trưởng vừa bảo giống ngô của ta ăn sâu hút cạn tinh khí đất trời, khiến ruộng vườn thành cát trắng. Vậy xin hỏi bà con, quả đồi sỏi đá sau thôn Lạc Diệp ba năm trước là mảnh đất như thế nào?”
Dưới đám đông, một lão nông lớn tuổi rụt rè lên tiếng:
“Lão biết… đồi Lạc Diệp trước kia toàn sỏi son và đất chua phèn, cỏ dại còn không mọc nổi, chim chóc cũng chẳng thèm làm tổ…”
“Đúng vậy!” Nhược Lam mỉm cười, bốc một nắm đất xốp đen nhánh từ chiếc chậu gốm lên, để những hạt đất tơi xốp rơi qua kẽ ngón tay: “Đây chính là đất ở quả đồi sỏi đá ấy sau ba vụ ngô ngọt! Đất không những không cằn cỗi mà còn tơi xốp, màu mỡ, đầy trùn quế sinh sôi. Tại sao? Bởi vì nông dân Lạc Diệp chúng ta không chỉ biết bòn rút từ đất mẹ, mà còn biết trả ơn đất mẹ! Chúng ta trồng xen ngô với cây họ đậu để rễ đậu tạo nốt sần cố định đạm tự nhiên cho đất; chúng ta dùng thân cây ngô sau thu hoạch ủ với tro bếp và rơm rạ mục tạo thành phân vi sinh bón lót. Đất được nuôi dưỡng thì đất mới cho bắp ngọt, đó là đạo lý tuần hoàn của đất trời, há lại là trò ma quỷ lừa gạt như miệng lưỡi kẻ gian thương buôn bán lòng tham kia?!”
Bà con nông dân ồ lên kinh ngạc, thi nhau chen lên sờ thử nắm đất đen nhánh, ngửi thấy mùi đất ẩm nồng nàn và phì nhiêu hiếm thấy.
Nhược Lam quay phắt sang Kim Đại Phú, ánh mắt sắc lẹm:
“Kim hội trưởng, ngươi nói ngươi vì dân, nhưng vụ hạn hán năm ngoái, ngươi gom thóc giống rồi tăng giá gấp bốn lần, ép bà con phải bán con bán đất gán nợ! Nay Nông thương hội quán mở ra, bán giống ngô chịu hạn với giá gốc được triều đình trợ giá, nông hộ nghèo được cho mượn giống trước, gặt xong mới trả, lại còn cử người về tận bờ ruộng dạy cách đào mương ống tre dẫn nước. Ngươi sợ mất đi cơ hội hút máu dân nghèo, nên mới giở trò đê tiện này, đúng hay không?!”
“Ngươi… ngươi ngậm máu phun người! Lấy cớ gì bảo ta ép giá, cản trở?!” Kim Đại Phú mặt cắt không còn hạt máu, lắp bắp chối quanh.
“Cớ gì ư?”
Tiêu Lập lạnh lùng bước lên, rút từ trong ngực áo ra một cuộn giấy vàng óng ánh thêu rồng phượng cùng một tập khế ước mua bán:
“Đây là mật chỉ của Hoàng thượng, trao toàn quyền kiểm tra kho thóc giống và xử lý gian thương lũng đoạn cho An Điền Hầu ta! Còn đây là sổ sách ghi chép việc ngươi thuê lưu manh đánh đập phu xe, quẳng hạt giống của hội quán xuống nước, cùng khế ước ngươi ngấm ngầm bán lương thảo cống nạp của huyện cho gian thương kinh kỳ! Hắc Lục! Trói toàn bộ Kim Đại Phú cùng đám tay chân lại, áp giải thẳng vào đại lao huyện nha chờ ngày Hộ Bộ định tội!”
“Tuân lệnh Hầu gia!”
Tiếng hô vang dậy của đám hộ vệ và nha dịch khiến Kim Đại Phú ngã bệt xuống đất, áo ướt đẫm mồ hôi hột, liên tục dập đầu van xin thảm thiết nhưng đã quá muộn màng. Đám nông dân chứng kiến cảnh tượng ấy, tiếng vỗ tay và reo hò vang dội như sấm dậy khắp các ngả đường huyện thành Vân Khê.
Ngay trong ngày hôm đó, Nông thương hội quán Vân Khê chính thức treo biển khai trương. Tấm biển gỗ lim mạ vàng “Nông Thương Tế Thế” do đích thân Ninh Viễn Đế ngự bút sáng lấp lánh dưới ánh mặt trời. Từng đoàn xe thồ chở hạt giống ngô ngọt chịu hạn, hạt giống đậu tương cao sản và tài liệu hướng dẫn kỹ thuật ủ phân vi sinh, đào mương ống tre bắt đầu cuồn cuộn lăn bánh, tỏa đi khắp mười hai châu huyện của Đại Ninh quốc.
Cái gai nhọn cuối cùng cản trở bước đường phát triển của nền nông nghiệp mới đã bị nhổ bỏ tận gốc rễ.
*
Thời gian thấm thoắt thoi đưa, như bóng câu qua cửa sổ.
Ba năm sau.
Mùa thu năm Ninh Viễn thứ mười lăm, tiết trời trong veo, gió heo may mang theo hơi lạnh nhè nhẹ lướt qua những rặng núi điệp trùng của huyện Vân Khê. Nếu ai từng đến thôn Lạc Diệp ba năm trước, nay quay trở lại chắc chắn sẽ ngỡ ngàng tưởng mình lạc vào một cõi bồng lai tiên cảnh nơi trần thế.
Cái tên “thôn Lạc Diệp” nghèo xơ xác năm xưa nay đã được người đời trân trọng gọi bằng cái tên mới: “Đệ Nhất Điền Trang Lạc Diệp”.
Trang viên rộng ngút ngàn, bao trọn cả thung lũng màu mỡ và các sườn đồi thoai thoải quanh chân núi Lạc Nhạn. Điểm đặc sắc nhất khiến các đoàn học giả, quan viên khắp nơi phải trầm trồ thán phục chính là mô hình kinh tế tuần hoàn khép kín bốn tầng “Vườn dâu – Ao cá – Ruộng ngô – Xưởng lụa vàng” do chính Khương Nhược Lam dày công thiết kế và hoàn thiện.
Từ trên sườn núi cao nhìn xuống, tầng trên cùng là những đồi dâu tằm xanh mướt tít tắp. Nhờ được bón lót bằng lớp mùn hữu cơ ủ từ bã thân cây ngô và phân chuồng hoai mục, những cây dâu tằm ở đây lá to dày bản, xanh mướt như ngọc bích, tràn trề nhựa sống.
Ngay dưới chân đồi dâu là chuỗi bảy chiếc ao cá liên hoàn rộng lớn. Nước suối trong veo từ đỉnh núi cao được dẫn về qua hệ thống máng tre ngâm nước vôi khử khuẩn, chảy róc rách suốt ngày đêm. Những chiếc guồng nước bằng gỗ khổng lồ quay đều kẽo kẹt, vừa tạo oxy cho mặt nước, vừa đưa nước tưới tiêu đi khắp các ngõ ngách của trang viên. Dưới làn nước trong vắt, hàng vạn con cá trắm cỏ, cá chép vảy vàng óng ả bơi lội tung tăng. Thức ăn của cá không phải thứ gì xa xỉ, mà chính là những lá dâu già tỉa bớt và lượng chất thải tằm giàu dinh dưỡng từ các nhà nuôi tằm thải ra. Lớp bùn lắng đọng dưới đáy ao sau mỗi vụ nuôi cá lại được nạo vét, đem đắp vào gốc ngô và vườn dâu, tạo thành một vòng tuần hoàn vật chất hoàn hảo không hề có một chút phế phẩm lãng phí.
Nối tiếp bờ ao là bạt ngàn ngàn mẫu ruộng ngô Hoàng Kim đang vào độ trĩu bắp. Những hàng ngô thẳng tắp như kẻ chỉ, thân cây mập mạp cao quá đầu người, lá xanh sẫm vươn dài đón nắng. Mỗi cây ngô đều chắc nịch, ôm từ hai đến ba bắp to tướng bằng bắp tay người lớn. Râu ngô đỏ tía mượt mà như nhung buông lơi dưới nắng thu, vỏ bắp xanh mướt hơi hé lộ những hạt ngô vàng ruộm, căng tròn, mẩy đều tăm tắp như những hạt ngọc trời ban.
Phía đông thung lũng, khu xưởng ươm tơ dệt lụa Hoàng Kim khang trang đỏ rực màu ngói mới. Khói thông hơi thoang thoảng mùi thảo mộc bốc lên từ hệ thống sưởi địa long ngầm dưới lòng đất – sáng chế độc đáo giúp tằm nhả tơ đều đặn quanh năm bất chấp mùa đông giá rét. Tiếng thoi đưa lách cách giòn giã, tiếng cười nói ríu rít của hàng trăm nữ công nhân dệt lụa hòa cùng tiếng nước chảy róc rách tạo nên một bản hòa âm tràn đầy sức sống của sự no ấm.
Hôm nay là một ngày vô cùng náo nhiệt tại Lạc Diệp sơn trang.Một đoàn khách đặc biệt gồm hơn năm mươi người do Khâm sai Tề Hoằng – nay đã là Hộ Bộ Thượng thư – dẫn đầu, cùng các vị Nông quan, tri phủ, huyện lệnh và các vị tú tài, lão nông tiêu biểu từ khắp mười hai châu huyện xa xôi của Đại Ninh quốc về đây để học tập kinh nghiệm thực tế.
Dẫn đầu đoàn tham quan chính là Khương Nhược Lam.
Ở tuổi hai mươi sáu, nhan sắc của nàng càng thêm mặn mà, đằm thắm. Nàng không mặc lụa là gấm vóc quý tộc dù bản thân nắm trong tay gia sản bạc vạn, mà chỉ khoác trên mình bộ y phục bằng vải thô dệt thủ công nhuộm màu vỏ hạnh nền nã, vạt áo viền một dải hoa văn bông lúa tinh xảo. Làn da nàng trắng mịn hồng hào, đôi mắt hạnh lanh lợi ánh lên vẻ tự tin, thông tuệ phi thường.
“Các vị đại nhân, các vị nông lão, xin mời nhìn kỹ luống ngô này,” Nhược Lam mỉm cười, cúi người dùng một chiếc bay nhỏ xới nhẹ lớp đất mặt lên: “Đất ở đây qua bốn năm canh tác liên tục nhưng không hề bị nén chặt hay bạc màu. Bí quyết nằm ở chỗ chúng ta áp dụng phương pháp luân canh và xen canh triệt để. Sau một vụ ngô, chúng ta gieo ngay một vụ đậu nành hoặc đậu phộng ngắn ngày. Cây họ đậu có vi khuẩn nốt sần cộng sinh ở rễ, có khả năng tự hấp thụ đạm khí trời làm giàu cho đất. Thêm vào đó, việc dùng tro trấu phủ gốc vừa giữ ẩm trong mùa khô, vừa ngăn cỏ dại phát triển mà không cần tốn công làm cỏ bằng tay.”
Các vị Nông quan và lão nông nghe đến đâu, mắt sáng rực lên đến đó. Họ cúi rạp người xuống bờ ruộng, cẩn thận dùng tay bốc từng nắm đất lên ngửi, rồi cầm bút lông thoăn thoắt ghi chép từng câu từng chữ của nàng vào sổ tay như thể đang ghi chép những lời thánh hiền.
Một vị huyện lệnh vùng đất cát khô hạn miền Trung xúc động chắp tay bái phục:
“Hầu phu nhân quả thực là bậc kỳ tài! Lâu nay chúng ta chỉ biết phó mặc cho trời, năm nào hạn hán là dân chúng lầm than lưu lạc. Nhờ có giống ngô chịu hạn và phương pháp ủ rơm giữ ẩm mà phu nhân truyền dạy qua hội quán, vụ mùa vừa qua toàn huyện chúng tôi đã giảm được tám phần nạn đói! Nay tận mắt thấy trang viên này, quả thực danh bất hư truyền!”
“Đại nhân quá khen rồi,” Nhược Lam mỉm cười khiêm tốn: “Đất đai như người mẹ hiền, chỉ cần chúng ta dùng lòng chân thành và sự hiểu biết để đối đãi, đất mẹ tuyệt đối sẽ không để con người phải chịu đói rét.”
Đoàn người tiếp tục đi qua khu xưởng dệt lụa. Tại đây, Tam Thẩm Lý thị trong trang phục chỉnh tề, tóc búi gọn gàng cài trâm bạc, đang niềm nở chỉ đạo các thợ dệt kéo những cuộn tơ vàng óng ả mềm như mây trời. Thấy đoàn khách đến, Tam Thẩm cười rạng rỡ, sai người bưng ra những mẹt bánh ngô hấp mật ong vàng ươm, thơm lừng và những bát chè bắp non nấu hạt sen mát lạnh để thết đãi.
“Mời các vị đại nhân và bà con xơi chút quà quê của điền trang chúng tôi lấy thảo!” Giọng Tam Thẩm sang sảng, tràn đầy niềm tự hào của một người quản sự tháo vát. Nét lam lũ, lo âu vì cái đói năm xưa trên gương mặt bà nay đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó là nét phúc hậu, an nhàn của một nữ quản gia giàu lòng nhân từ.
Cách đó không xa, Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu đang đứng cạnh dãy kho lương bề thế xây bằng gạch kiên cố. Ông mặc áo the sẫm màu, tay cầm chiếc bàn tính gỗ, đang cùng mấy chục phu phen kiểm đếm những bao bắp ngô khô chuẩn bị chuyển giao cho nha môn các châu huyện làm giống dự trữ. Thấy bóng dáng chất phác nhưng đĩnh đạc của ông, ai nấy đều kính cẩn gọi một tiếng “Khương Cửu gia”. Từ một nông dân nghèo bị họ hàng khinh rẻ, nay Tam Thúc đã trở thành đại quản gia uy tín bậc nhất cả một vùng, nắm giữ huyết mạch kho lương của cả điền trang.
Bỗng nhiên, một giọng nói trong trẻo, lanh lảnh vang lên giữa sân phơi:
“Các vị quan nhân ơi! Mau qua bên này xem mẫu hạt giống ngô đột biến mùa thu này! Hạt nào hạt nấy đều tăm tắp, độ ngọt gấp đôi giống cũ đấy ạ!”
Đó là Bảo Nha. Cô bé mười tuổi gầy gò, lấm lem ngày nào nay đã trổ mã thành một thiếu nữ mười ba tuổi xinh xắn, duyên dáng. Khuôn mặt tròn trĩnh như trăng rằm, hai bím tóc đuôi sam lúc lắc theo từng bước nhảy chân sáo. Bảo Nha mặc chiếc áo yếm hoa cà bên ngoài áo lụa mỏng, đôi tay thoăn thoắt phân loại những bắp ngô giống mẫu, miệng nói rành rọt từng đặc tính sinh học của cây ngô chẳng khác nào một tiểu sư phụ nông học thực thụ. Nàng bé từng lon ton chạy sau lưng Nhược Lam xin ăn vụng bắp nướng năm xưa, nay đã là cánh tay phải đắc lực phụ trách kiểm định chất lượng hạt giống xuất xưởng.
Nhìn quanh thôn Lạc Diệp hôm nay, niềm hạnh phúc trào dâng mãnh liệt trong lồng ngực Nhược Lam.
Những mái tranh rách nát, dột nát ngày nàng mới xuyên không đến nay đã hoàn toàn biến mất. Thay vào đó là hàng trăm ngôi nhà xây gạch ngói đỏ tươi san sát nhau, bờ tường quét vôi trắng sạch sẽ. Những con đường làng lầy lội năm xưa nay được lát đá phiến phẳng phiu, hai bên đường rực rỡ sắc vàng của hoa cúc dại và những hàng cây ăn quả trĩu cành.
Sân phơi của từng hộ dân đều rộng thênh thang, rải đầy ngô hạt vàng óng, đậu nành căng mẩy. Trâu bò béo mẫm thong dong gặm cỏ bên bờ đê; tiếng trẻ con ê a học chữ vang ra từ ngôi trường làng do chính hội quán trích ngân sách xây dựng và mời thầy đồ giỏi về dạy dỗ miễn phí. Không còn tiếng cãi vã vì tranh giành từng tấc đất, không còn cảnh người già ôm bụng đói rét qua mùa đông; trên gương mặt của mỗi người dân Lạc Diệp chỉ ngập tràn nụ cười rạng rỡ, sự tự tin và niềm hy vọng phơi phới vào tương lai.
Sau khi tiễn đoàn khách của Hộ Bộ và các châu huyện lên đường trở về, trời cũng đã ngả về chiều.
Ánh hoàng hôn mùa thu rực rỡ buông xuống thung lũng, nhuộm một màu vàng cam ấm áp lên ngàn mẫu ruộng ngô trĩu hạt. Dòng sông Ngân Khê lấp lánh như một dải lụa dát vàng uốn lượn quanh chân núi.
Nhược Lam bước từng bước chậm rãi trên con đường đất mịn dẫn về ngôi nhà năm gian quen thuộc của hai vợ chồng nằm tách biệt trên sườn đồi thoai thoải. Nàng tháo chiếc khăn buộc tóc, để làn gió thu mát rượi mơn man lùa vào mái tóc đen dài, hít một hơi thật sâu mùi hương ngai ngái nồng nàn của đất ẩm, hương ngọt lịm của phấn hoa ngô chín và mùi khói bếp lam chiều ấm cúng.
“Mẹ… Mẹ ơi!”
Một tiếng gọi non nớt, ngọng nghịu vang lên từ phía cổng hoa râm bụt.
Một bóng hình tròn vo, mũm mĩm như một củ khoai tây nhỏ đang lẫm chẫm chạy ùa ra. Đó là Hạo Thần – đứa con trai đầu lòng vừa tròn hai tuổi của nàng và Tiêu Lập. Thằng bé có đôi mắt đen láy, hàng lông mày rậm cương nghị giống hệt cha, nhưng khóe miệng lém lỉnh và nụ cười tươi rói lại sao y bản chính từ mẹ. Trên hai bàn tay mập mạp của nhóc con đang ôm chặt một khúc bắp ngô ngọt luộc còn bốc khói nghi ngút, miệng dính đầy hạt ngô vàng óng.
Nhược Lam bật cười khúc khích, vội vàng ngồi thụp xuống dang rộng hai tay đón lấy cục bột nhỏ vào lòng:
“Thần Nhi của mẹ! Sao lại chạy nhanh thế, ngã thì làm sao? Lại còn ăn vụng ngô ngọt nữa à?”
Thằng bé rúc đầu vào hõm cổ nàng, thơm chùn chụt lên má mẹ làm dính cả vụn ngô ngọt lịm, bi bô khoe:
“Cha… cha nướng cho con… Ngọt lắm ạ!”
Từ phía sau giàn hoa thiên lý đầu ngõ, Tiêu Lập sải bước đi ra. Chàng đã cởi bỏ giáp trụ và thanh bội đao nặng nề, chỉ mặc chiếc áo cộc tay bằng vải thô màu nâu sẫm, để lộ bờ vai rộng vững chãi và đôi cánh tay cuồn cuộn cơ bắp khỏe khoắn nhuộm màu đồng hun. Dù nay mang tước vị An Điền Hầu hiển hách nắm trong tay cả ngàn mẫu điền trang, nhưng trước mặt thê tử, chàng vẫn mãi là chàng thợ săn trầm mặc, chân phương của núi rừng Lạc Nhạn năm nào.
Tiêu Lập bước đến, một tay nhấc bổng bổng c* cậu Hạo Thần đặt ngồi vững chãi trên bờ vai rộng của mình, tay kia tự nhiên vòng qua eo Nhược Lam, kéo nàng sát vào lồng ngực ấm áp của chàng.
“Đoàn người của Hộ Bộ về hết rồi sao?” Tiêu Lập cúi đầu nhìn nàng, trong đôi mắt sâu thẳm chỉ phản chiếu duy nhất bóng hình người con gái chàng yêu thương hơn cả sinh mệnh.
“Về hết rồi chàng ạ,” Nhược Lam tựa đầu vào bờ vai vững chãi của phu quân, khẽ thở dài một tiếng khoan khoái: “Khâm sai Tề Hoằng nói, năm nay mười hai châu huyện đều được mùa ngô ngọt, kho lương triều đình đầy ắp, nạn đói phương Bắc đã hoàn toàn được dẹp yên. Sang xuân, triều đình muốn mở thêm ba phân hội quán nữa ở phía Nam.”
Tiêu Lập mỉm cười, bàn tay thô ráp ấm áp khẽ siết chặt lấy bàn tay mềm mại của nàng:
“Nàng muốn mở bao nhiêu hội quán, ta đều theo nàng bấy nhiêu. Nhưng mà Thần Nông Nữ Sĩ à, hôm nay nàng đã vất vả cả ngày ngoài đồng rồi, tối nay không được đụng vào sổ sách nữa đâu đấy.”
Nhược Lam ngước lên nhìn chàng, đôi mắt hạnh lấp lánh ý cười tinh nghịch:
“Không xem sổ sách thì làm gì? An Điền Hầu định phạt ta sao?”
Tiêu Lập bật cười trầm thấp, tiếng cười rung rinh nơi lồng ngực:
“Phạt nàng ăn hết một nồi gà đồi bọc đất sét nướng than hồng do chính tay ta làm, rồi uống một chén rượu ngô ngâm hoa cúc cùng ta ngắm trăng.”
Nhóc Hạo Thần ngồi trên vai cha nghe thấy chữ “ăn” liền vỗ đôi bàn tay béo múp míp, reo lên phấn khích:
“Ăn gà… ngắm trăng! Thần Nhi cũng ngắm trăng!”
Tiếng cười trong trẻo, ngây thơ của đứa trẻ vang vọng khắp sườn đồi, xua tan đi tất cả những mỏi mệt của một ngày dài lao động.
Ba người cùng nhau thong thả dạo bước lên con đê dài lộng gió ven bờ sông Ngân Khê.
Dưới chân họ, cánh đồng ngô ngọt trải dài tít tắp đang dập dờn theo từng đợt gió thu như một biển vàng vô tận. Nhìn cơ nghiệp trù phú tự tay gầy dựng nên từ hai bàn tay trắng, Nhược Lam không khỏi bùi ngùi nhớ lại những ngày đầu tiên tỉnh dậy trong căn nhà tranh dột nát, khi ấy trong túi nàng chẳng có lấy một đồng xu, chỉ có nửa bao cám mốc và cái ấm sứt vòi. Khi ấy, nàng chỉ mong có một bữa cơm no, một mảnh đất cắm dùi để tồn tại qua ngày đoạn tháng.
Ai có thể ngờ rằng, từ mảnh đất sỏi đá cằn cỗi bị người đời chối bỏ, nàng đã biến nó thành vựa lương thực cứu sống hàng vạn sinh linh, biến thân phận nữ phụ pháo hôi bị hắt hủi thành một truyền kỳ nông nghiệp lừng lẫy khắp giang sơn.
Và tuyệt vời hơn tất cả, nơi thôn dã mộc mạc này, nàng đã tìm thấy Tiêu Lập – người đàn ông sẵn sàng buông bỏ vương vị, gươm giáo và vinh hoa phú quý nơi kinh kỳ, chỉ để cùng nàng cuốc đất trồng rau, cùng nàng chia sẻ từng củ khoai nướng, bắp ngô đầu mùa, và trao cho nàng một tình yêu sâu sắc, chở che trọn vẹn đến hết cuộc đời.
Mặt trời từ từ lặn xuống sau rặng núi Lạc Nhạn hùng vĩ, hắt lên nền trời những dải mây màu hồng tía tuyệt mỹ. Tiêu Lập đặt con trai xuống bờ cỏ êm ái để thằng bé đuổi theo mấy con đom đóm lập lòe đầu mùa, rồi chàng nhẹ nhàng ôm lấy Nhược Lam từ phía sau.
Cằm chàng tựa l*n đ*nh đầu nàng, vòng tay rắn rỏi siết chặt, giọng nói trầm ấm thì thầm bên tai nàng như một lời thề nguyền khắc cốt ghi tâm:
“Lam nhi, cảm ơn nàng đã đến bên ta. Cảm ơn nàng đã mang lại sự sống cho mảnh đất này, và cho cả cuộc đời tăm tối của Tiêu Lập ta.”
Nhược Lam xoay người lại, vươn hai tay ôm lấy cổ chàng, khẽ kiễng chân đặt lên đôi môi ấm áp của trượng phu một nụ hôn ngọt ngào, sâu lắng. Trong làn gió thu xào xạc mang theo hương ngô chín ngọt lịm, nụ cười rạng rỡ của nàng bừng sáng như ánh nắng ban mai:
“Chàng ngốc ạ, có chàng ở bên, nơi đây mới chính là nhà của ta.”
Gió chiều thu khẽ lay động vựa bắp vàng óng ả, sóng lúa rì rào ngân nga khúc ca thái bình thịnh trị. Giữa đất trời bao la trù phú, tiếng cười giòn tan của con trẻ hòa cùng cái ôm siết nồng nàn của đôi lứa, khép lại trọn vẹn mọi phong ba bão táp của cuộc đời để mở ra một đời điền viên an lạc, ấm no và hạnh phúc viên mãn cho đến đầu bạc răng long.
Kết thúc truyện.